Vài cảm nhận về thể loại câu đố dân gian Việt Nam 5/5 (1)

Phần 0a

Trong một thời gian dài trước đây, các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam hầu như không chú ý đến thể loại câu đố. Điều đó có thể có hai nguyên nhân:

– Nguyên nhân chủ quan từ phía bản thân câu đố: Câu đố thường được sử dụng trong các sinh hoạt của nhân dân lao động. Đa phần lại được ứng tác tại chỗ. Người ứng tác cũng không có ý định ghi lại để lưu danh. Vì vậy, tất nhiên chất lượng nghệ thuật của nó phần nhiều là chưa đạt được tới mức tinh khéo.

Đứng trước thực tế đó, những người sưu tầm và nghiên cứu có thể có hai cách ứng xử: Một số coi thường tất cả. Cách ứng xử đó đương nhiên là có hại đến việc duy trì và phát huy thể loại này. Một số khác lại quá coi trọng tính đầy đủ và tính nguyên gốc “dân gian” của nó nên sưu tầm tất cả thượng vàng hạ cám. Có nhiều câu quá ngô nghê vớ vẩn cũng ghi chép lại. Việc đó cũng làm cho người thưởng thức câu đố chán nản, còn người nghiên cứu cũng chẳng được lợi ích gì ngoài việc muốn kết luận rằng: “Câu đố là thể loại văn học dở như thế đấy!”. Tỷ dụ như đố về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu:

Quyết tâm rửa sạch quân thù
Ô hô cặp mắt công phu lỡ làng

Hay câu đố:

Biết rằng nàng đã đổi lòng
Cớ sao anh vẫn đèo bòng nâng niu

Và trả lời là Khổng – Minh tức là không rõ ràng (!). Những câu như vậy không thể có cách gì tìm thấy một chút nghệ thuật. Cụ Nguyễn hay ông Khổng sống lại chắc cũng phải đỏ mặt vì giận. Hay câu đố:

Em ngồi trên mũi ghe lê
Chớ chi anh đặng ngồi kề một bên

Và trả lời là “bánh ướt” với lý giải: câu 2 biểu thị một điều ước mà ước với ướt chỉ là một (!?). Đúng là muốn nói gì thì nói! Sướng thật! Nếu không có lời giải của người đố, không ai có thể trả lời được dù kiến thức có uyên thâm và hiểu biết thực tế có rộng rãi đến mực nào. Thậm chí người càng hiểu biết nhiều càng chịu chết! Thế mà có nhà sưu tầm đã ghi chép được cả ngàn câu đố đại loại như vậy. Đúng là “yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau!”. Bằng ấy câu đố dở được ghi lại là một bằng chứng xác đáng để gạt bỏ câu đố ra ngoài văn học còn gì!

Lẽ ra, theo ý chúng tôi, cần có sự lựa ra những câu đạt chất lượng tới một mức nào đó, ngoài ra cũng nên bỏ công “nhuận sắc” thêm khi cần thiết. Đâu phải vì tôn trọng tính “dân gian” mà phải tôn trọng cả những sự ngô nghê, miễn là ta giữ được cái cốt lõi, cái đặc thù của câu đố đó. Thơ Bút Tre, thơ Hồ Xuân Hương… rất có thể có công đóng góp thêm của nhiều thế hệ. Thí dụ câu đố về chữ “ÁO”:

Còn sắc thì mặc cho sang
Mất sắc về làng thả rau, nuôi cá!

Ba bốn cuốn sách đều ghi như vậy. Câu thứ hai nếu viết lại: Mất sắc về làng nuôi cá, thả rau thì suôn hơn và đâu có mất gì nguyên gốc. Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ.

0b

– Lý do thứ hai là lý do khách quan từ phía các nhà nghiên cứu và thưởng thức câu đố. Câu đố thường được viết dưới dạng những câu văn vần cho dễ nhớ, dễ truyền miệng cho nhau. Có thể vì vậy mà người ta nhầm với thể loại thơ và ca dao, từ đó cho rằng câu đố là loại thơ dở. Mà đã dở thì lưu truyền làm gì. Câu đố là câu đố! Câu đố quyết không phải là thơ dở! Cũng như cách ngôn không phải là thơ dở. Rất nhiều cách ngôn hay, có giá trị và những tác giả của nó thường là các văn hào, các triết gia lớn. Nhưng nếu đem tiêu chuẩn thơ để xét thì sẽ bị coi là thơ dở không chừng! Thơ cần có “từ”, có “tứ”, có “ý tại ngôn ngoại” v.v… Câu đố chính hiệu chỉ cần cung cấp những thông tin để chỉ ra tên của đối tượng được đố Xem Nguyễn Văn Trung “Câu đố dân gian Việt Nam” NXB TP. Hồ Chí Minh 1986. Với góc độ toán học có thể xem câu đố như một phương trình và nghiệm số của nó (nếu có) cũng không nhất thiết phải mang một ý nghĩa nào. Người sáng tác câu đố hoàn toàn không có ý định làm câu đố này để nịnh bợ ai hoặc làm câu đố kia để xỏ xiên một cá nhân nào đó! Sáng tác hay giải được câu đố cũng có cái khoái cảm như giải được một bài toán, hay nghĩ ra một thế cờ, hoặc phá được một thế cờ do người khác đề xuất. So sánh thơ với câu đố, chẳng khác nào so sánh nước mắm với bia hay rượu. Bia quyết không phải là nước mắm dở! Nước mắm quyết không phải là rượu loại tồi. Và cả bia hay rượu lẫn nước mắm, cái nào cũng cần cho đời sống. Chỉ trừ bia dở và nước mắm tồi thì không ai cần thôi. Tản Đà rất sành về rượu, nhưng ông cũng rất cầu kỳ trong việc chọn và pha chế nước mắm. Câu đố cũng có nhiều ngón nghề của nó. Ví dụ: trong khi cung cấp thông tin đồng thời cũng cung cấp nhiễu để gây rối, để đánh lạc hướng người giải đố. Giống như chuyện cười Việt Nam kể rằng:

Một chú bé rất hay nói láo. Một hôm chú ta bị đưa đi kiện. Quan xử kiện nói:

– Mày chỉ chuyên nói láo để lừa bịp người dốt nát. Có giỏi thì mày nói láo với ta đây. Nếu lừa được ta, thì ta tha tội và còn thưởng tiền cho nữa. Nếu không lừa được, thì ta sẽ cho mày tù mọt gông!

Chú bé vẻ sợ sệt, vừa thút thít khóc vừa nói:

– Thưa quan lớn, từ thuở bé đến giờ con có dám nói láo với ai đâu. Vốn là khi cha con mất đi có để lại cho con một cuốn sách ghi rất nhiều điều lạ. Trong đó có nói cả về những vị thuốc rất dễ kiếm để làm người già khỏi đau lưng, được tráng dương bổ thận… Con đem nói cho bà con. Bà con đã không cảm ơn, còn buộc tội cho con là…

Chú bé còn đang nói, thì quan đã ngắt lời

– Vậy mày hãy về đem cuốn sách ấy lại đây cho tao xem. Tao không lấy mất của mày đâu mà sợ! Nếu cần thì tao chỉ photo một bản thôi!

– Thưa quan lớn, con nói láo đấy chứ con đâu có cuốn sách đó!

Tưởng đâu đang thanh minh cho nỗi oan mà chính là đang nói láo!

Câu đố cũng vậy, đưa dữ liệu tưởng đâu rất vô lý nhưng lại rất đầy đủ để chỉ ra vật.

Người giải đố bị cuốn hút bởi tính tò mò mà dễ bị đánh lạc hướng. Nhưng khi câu đố được giải ra thì không còn thấy gì là vô lý cả. Quả là các thông tin để xác định vật đố đều đã cho đầy đủ…

Nói khác đi, câu đố cũng có những đặc trưng nghệ thuật riêng. Vì vậy số lượng câu đố hay được lưu truyền trong dân gian cũng không phải ít. Mỗi người dân ít nhiều cũng thuộc dăm bẩy câu. Nếu không hay làm sao có thể nhớ và có thể truyền nhau được. Không chỉ có những người dân lao động ít gắn bó với văn học nghệ thuật mới thấy hay. Nhiều câu hay đến mức các nhà thơ có tên tuổi cũng phải học tập. Tỷ dụ như trong bài thơ Bàn chân của nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết cho thiếu nhi:

Canh cho giấc ngủ say dần
Khi ta nằm ngủ, bàn chân lại ngồi!

Chẳng phải đã có nguồn gốc từ câu đố: Đi thì nằm, nằm thì ngồi đó sao? Nhưng đó mới chỉ là thơ cho thiếu nhi. Trong bài thơ trữ tình được xếp loại xuất sắc, được đưa vào giáo khoa văn học là Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy có câu:

Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con.

Đọc lên ai chả thấy cái gốc của nó là câu đố Con đóng khố – Bố cởi truồng! Cặp lục bát trên và sáu chữ của câu đố ai dám quả quyết đằng nào là hay hơn?

1

Trong bài viết này, chúng tôi thử đưa ra một số ưu điểm về mặt nghệ thuật của câu đố dân gian Việt Nam. Những ý kiến được trình bày chỉ là những cảm nhận chủ quan của một độc giả yêu câu đố, chứ không phải của một nhà nghiên cứu phê bình văn học dân gian, nên có thể có nhiều chỗ còn bất cập! Rất mong được các bạn xa gần chỉ cho những thiếu sót. Chúng tôi sẵn lòng học hỏi. Theo ý chúng tôi, câu đố dân gian Việt Nam đã thể hiện được một số ưu điểm trong các vấn đề sau:

1. Nghệ thuật quan sát và so sánh

Những người sáng tác câu đố thường là rất gần gũi, thân thuộc với những đối tượng đem ra đố, nên đã thể hiện một sự quan sát, phát hiện những nét rất điển hình và so sánh thật chính xác. Ví như các câu đố về một số loại cây trái:

Da cóc mà bọc trứng gà
Bổ ra thơm nức cả nhà muốn ăn.
(Quả mít)

Da cóc mà bọc bột lọc
Bột lọc mà bọc hòn son.
(Quả vải)

Da cóc mà bọc bột lọc
Bột lọc mà bọc hòn than.
(Quả nhãn)

Đọc câu đố lên ta cảm như sờ được thấy vật, nhìn được thấy màu sắc và ngửi thấy hương thơm. Mới đọc thôi mà đã thèm, thấy ứa nuớc dãi trong miệng.

Vừa bằng cái bát
San sát giữa đồng. (Vết chân trâu)

Hay như:

Trong trắng ngoài xanh
Đóng đanh từng khúc
(Cây tre)

Hoặc như:

Chân vịt, thịt gà
Da trâu, đầu rắn. (Con ba ba)

Quả là tài tình. Sự so sánh chuẩn xác đến trăm phần trăm. Không phải là người thường xuyên tiếp xúc và thực sự gắn bó với vật đố và vật đuợc so sánh, thì không thể mô tả như vậy được. Tôi nhớ có lần một em học sinh đã tả con heo của nhà mình: “Nhà em có nuôi một con heo. Nó to bằng cái cánh cửa!” Nếu em đó thuộc câu đố về tàu lá chuối:

Vừa bằng cánh cửa
Để ngửa giữa trời

chắc chắn em học sinh đó sẽ nhận ra sự khấp khểnh trong cách so sánh của mình.
Đặc biệt khi nhìn các con vật, các nhà sáng tác câu đố không chỉ chú ý quan sát hình dáng bất động bề ngoài, mà còn cả trong các hoạt động của chúng. Thí dụ: Bình thường, những con vật có cánh khi bay thì vỗ cánh, khi lượn thì dang thẳng cánh, còn khi đậu thì xếp cánh lại. Nhưng ở con chuồn chuồn thì sao?

Con gì cánh mỏng đuôi dài
Đậu, bay cánh vẫn dương hoài như nhau.

Rất có thể nhà thơ Phạm Hổ đã đọc câu đố này mà nảy ra ý để sáng tác bài thơ về con chuồn chuồn, một cái máy bay nhỏ xíu dễ thương mà cái sân bay chỉ là một… lá lúa:

Máy bay gì bé tẹo
Nhìn kỹ, thật đáng yêu
Cánh mỏng hơn cả lụa
Bay không một tiếng kêu
Máy bay này mình xanh
Máy bay kia mình đỏ
Bay thấp rồi bay cao
Sân bay: một lá lúa!

Cách quan sát đó ta cũng gặp trong câu đố về cóc nhái: Đi ngồi, đứng ngồi, nằm cũng ngồi!
Sự quan sát đôi khi còn đi sâu vào tính tình con vật, như trường hợp đố về con chó:

Nghe kêu mà chả thấy ơi
Cong lưng mà chạy một hơi về nhà

Thật tội nghiệp! Đúng như một đứa trẻ chất phác, ngoan ngoãn, biết phục tùng. Ta cũng gặp sự quan sát này trong câu đố về con gà ác:

Da thịt như than
Áo choàng như tuyết
Giúp người bồi khí huyết
Mà tên gọi…hơi oan!

Những thí dụ về sự quan sát và so sánh lột tả ngay những nét điển hình nhất không thể lẫn giữa vật này với vật kia kể ra không thể hết. Bởi vì gần như ở bất cứ câu đố nào cũng biểu hiện ra điều đó.

2

2. Nghệ thuật tưởng tượng và liên tưởng

Cây cao ngàn trượng
Hạt nhỏ li ti
Nấu ăn được, nướng vất đi.
(Mưa)

Chỉ từ chỗ nuớc mưa thường tạo thành giọt nhỏ như hạt, mà tưởng tượng thành một cái cây cao ngàn trượng cũng tài lắm chứ!

Từ cái bào của người thợ mộc có hai cái tay cầm, mà hình dung ra con vật có hai sừng. Và lạ lùng làm sao: con vật này lại ăn đằng bụng và ỉa đằng lưng chứ không như con vật bình thường:

Ăn đằng bụng
Ỉa đằng lưng
Hễ mó đến sừng
Thì vãi cứt ra.

Cũng như sự quan sát và so sánh, tưởng tượng và liên tưởng là nét biểu hiện rất phổ biến ở các câu đố. Nó gây sự tò mò, gây khó khăn phức tạp cho người giải câu đố. Và khi giải ra được, hoặc khi nghe lời giải của người đố, sẽ có được rất nhiều khoái cảm thẩm mỹ.

Nhìn con trâu mà tưởng tượng ra cả một tổ hợp sản xuất nông nghiệp:

Bốn ông đập đất
Một ông phất cờ
Một ông vơ cỏ
Một ông bỏ phân.

Tài lắm chứ! Lạ lắm chứ! Lạ nhất là cái “ông bỏ phân” vì có nhìn thấy ông ấy đâu. Nhưng ông ấy có bỏ phân kia mà. Bỏ phân là việc quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. “Nhất nước, nhì phân” mà lị. À mà lẽ ra phải kể thêm một ông tưới nước nữa kia đấy!

Tất nhiên ở đây, ngoài trí tưởng tượng phong phú, ta còn thấy tấm lòng yêu thương của người nông dân với con trâu – đầu cơ nghiệp của mình. Nếu không, họ có thể liên hệ đến một toán cướp chẳng hạn mà bảo: Bốn thằng phá tàn / Một thằng ăn hại / Một đứa quất roi / Một đứa ỉa bậy cũng được vậy!

Nhìn con vật tưởng tượng ra một tổ hợp sản xuất đã tài. Nhưng từ con vật tưởng tượng ra cả một làng xã với những hội hè đình đám sôi nổi thì còn tài hơn. Đó là trường hợp đố về con chó:

Đầu làng gõ mõ
Cuối làng phất cờ
Trống đánh lớn đến đâu
Cờ phất cao đến đó.

(Nhân bàn câu đố về con chó, làm tôi sực nhớ vừa rồi, về quê ở Thái Bình, tôi có ghé thăm các thân bằng văn hữu ở thị xã. Trong một tiệc rượu thân mật gồm khá đông người như Đức Hậu (nhà văn, chủ tịch hội Văn nghệ Thái Bình), Kim Chuông (nhà thơ), Đặng Chấn (giám đốc sở Giao thông), Đặng Tài (Giám đốc sở Công nghiệp), Lại Tây Dương (nhà văn), nhà thơ Trọng Khánh (thầy giáo dạy hóa có tiếng ở trường chuyên Thái Bình)…, nhà văn Thiếu Văn Sơn (chủ tịch Hội nhà báo) có ra một câu đố:

Cái dùi sơn đỏ
Cái mõ sơn hôi
Rúc lên một hồi
Kéo ra ba gian hai chái
Là cái gì?

Tất nhiên là chẳng ai đoán được và Thiếu Văn Sơn phải giải đố: Đó là hai con chó dính lẹo, quay đít vào nhau.

Tôi tâm đắc về câu đố này: “Nhà ba gian, hai chái, tám cột. Khá. Khá nhất là hai cái chái. Nhưng cái gian giữa có vẻ hơi bị hẹp”. Thiếu Văn Sơn tặc lưỡi: “Thì cứ xem đó là gian cầu thang hay gian làm cầu tiêu nhà tắm!”. Tất cả đều đồng thanh: “Có lý đấy!”)

Nhìn khuôn mặt người mà tưởng tượng ra phố xá với các đường đi lối lại, cống thoát nước và các hàng quán của nó:

Đường ngang thông thống
Hai cống hai bên
Trên hàng gương
Dưới hàng lược.

Nhìn con gà mái giữ con mà tưởng tượng ra doanh trại che ba quân thiên hạ:

Hai cột, một kèo, treo hai tấm tranh
Ba quân thiên hạ núp mình cũng dư.

Với người bình thường thì cái gối để gối đầu chỉ là vật vô tri vô giác. Nhưng trước con mắt của các nhà sáng tác câu đố giàu trí tưởng tượng , nó trở thành một nhân vật siêu phàm có sức mạnh chiến thắng bất cứ đối tượng nào:

Vừa bằng cái trống tầm vông
Đánh ngã đàn ông
Đánh ngã đàn bà
Đánh ngã thanh hoa
Đánh ngã kẻ chợ
Đánh ngã vợ vua

Mà việc sử dụng từ ngữ ở đây cũng đáo để lắm. Tất cả sự thần kỳ có được chỉ nhờ có một từ “đánh ngã”

Hoặc như:

Xin lửa ông táo
Đốt đầu ông sư
Sấm động ù ù
Rồng bay phấp phới.

Hút thuốc lào là chuyện vặt vãnh mà tưởng tượng ra, liên tưởng đến những việc to lớn như vậy thật giỏi và thường hay thấy trong câu đố. Đọc câu đố:

Ba bà đi chợ Cầu Nôm
Bà đi sau rốt luôn mồm: nhanh lên!
Bà đi trước thì thiếu hàm trên
Bà đi giữa thì thiếu hàm dưới
Chỉ bà đi cuối đủ nguyên hai hàm!

Quả cũng khó biết đó là cái gì. Khi đọc lời giải mới biết đó là người đi bừa ruộng bằng một con trâu. Sự tưởng tượng và liên tưởng ở đây dẫn đến những điều rất thú vị. Các sự vật không được kết nối với nhau trong công việc chung là lao động sản xuất, mà lại kết nối bằng những hàm răng đủ kiểu khác nhau: Con trâu chỉ có hàm răng dưới, cái bừa chỉ có hàm răng trên, còn người đi bừa thì có cả hai hàm. Người nông dân trong lúc lao động, nghĩ đến những chi tiết hóm hỉnh của câu đố, chắc cũng phải bật cười mà quên đi phần nào sự vất vả nhọc nhằn của công việc.

Đương nhiên, những câu đố có sức tưởng tượng và liên tưởng kì diệu này, người ra câu đố thường trước đó cũng đã bị bí khi được một người nào đó đố mình, khi nghe lời giải thấy hay quá rồi lại đem đố người khác.Việc đó giống như một thầy giáo toán đọc một đề toán ở một cuốn sách nào đó, nghĩ mãi không giải được liền lật phần cuối cuốn sách để xem lời giải. Đọc lời giải thấy thích quá, liền lấy làm đề thi cho học sinh rồi cứ chê học sinh là dốt. Dễ thế mà không làm được!

3

3. Sự đa dạng, sự biến hóa kỳ diệu của thiên nhiên

Trên trời có một cái bông
Mưa sa thì héo, nắng hồng thì tươi.
(Mặt trời)

Ví mặt trời với bông hoa là đạt. Hơn nữa, sự thay đổi ngược hẳn với những bông hoa bình thường là một phát hiện hay

Đêm thì mẹ mẹ con con
Ngày thì chết hết chẳng còn một ai
Còn một ông lão vãng lai
Nhăn nhăn nhó nhó, chẳng ai thèm nhìn.
(Bầu trời)

Đi đến chỗ nào
Ào ào chỗ ấy
Tai thì nghe thấy
Mắt nhìn thì không.
(Giông gió)

Chẳng ai biết mặt ra sao
Chỉ nghe tiếng thét trên cao ầm ầm.
(Sấm sét)

Khi trắng bạch, lúc đen sì
Khi vàng, khi đỏ, khi thì thấp cao
Gặp cơn gió thổi ào ào
Kéo nhau trốn chạy khác nào ngựa truy
(Mây)

Xanh xanh đỏ đỏ vàng vàng
Bắc cầu thiên lý, nằm ngang lưng trời.
(Cầu vồng)

Nói chung tất cả các hiện tượng và sự vật của thiên nhiên cùng với sự vận động đổi thay về màu sắc, hình dáng, tính chất… đều được các nhà sáng tác câu đố dân gian đề cập đến. Thậm chí một hiện tượng, một sự vật có tới nhiều câu đố và nếu tìm kỹ, bao giờ chúng ta cũng chọn ra được những câu đố thú vị với những phát hiện và so sánh không kém vẻ nên thơ và bất ngờ.

Chỉ từ một cây rau dại như cây rau sam mọc ở vườn, mà cũng óng ánh năm màu sắc:

Lá xanh, cành tím, hoa vàng
Hạt đen, rễ trắng đố chàng biết chi.

Từ con muỗi bé xíu mà cũng bộc lộ sự biến hóa kỳ lạ của thiên nhiên:

Nhỏ là loài cá
Lớn hóa loài chim…

Từ cái hoa chuối mới ra đến quả chuối chín là cả một quá trình biến đổi từ hình dáng đến màu sắc thật kỳ diệu, được diễn tả bằng ngôn ngữ tự nhiên, vui nhộn:

Đỏ loen loét
Toét loe loe
Xanh lè lè
Vàng rười rượi

Hay như: Hoa vàng mà kết quả xanh / Quả xanh, ruột trắng lại sinh hạt vàng (Quả bí đao); Trong nạc ngoài xương / Biến hóa vô thường / Trong xương ngoài nạc (Quả bòng); Để nguyên thì đỏ / Trổ lên thì xanh / Banh ra thì trắng (Củ hành); Sống hôi sì sì,chết thơm phưng phức (Củ hành). Và đời một con người được mô tả mới sinh động làm sao:

Lúc trời tảng sáng
Đi bằng bốn chân
Giữa trưa đứng bóng
Đi bằng hai chân
Nhá nhem chạng vạng
Đi bằng ba chân
Tối đêm buồn thảm
Đi bằng tám chân

4

4. Nghệ thuật chơi chữ

Chơi chữ là một trong những biện pháp được sử dụng khá tài tình trong khá nhiều câu đố. Lợi dụng tính đồng âm khác nghĩa của các từ tiếng Việt, đưa đến những hiệu quả hết sức bất ngờ.

Con gì càng lớn càng nhỏ?

Lần đầu nghe câu đố này, chắc chắn chúng ta phải lúng túng và bị kích động tính tò mò. Và sẽ rất thú vị khi được nghe lời giải: đó là con cua! Con cua bao giờ cũng có hai cái càng to nhỏ khác nhau.

Hay khi nghe câu đố:

Sù sì như con chó thui
Chín mắt chín mũi chín đuôi chín đầu.
Là con gì?

Chúng ta cứ ngỡ đó là con quái vật có tới 9 mắt, 9 mũi, 9 đuôi, 9 đầu. Nhưng câu đố lại thuộc loại “vừa đố vừa giảng”. Nó chính là con chó thui và các bộ phận của nó đều bị lửa làm chín. Cũng thú vị lắm chứ!

Hay đây nữa:

Con gì mình ở ngoài nước, đầu ở trong nước?

Thưa đó là con tôm xuất khẩu vì khi xuất khẩu ra nước ngoài, ta chỉ xuất khẩu phần thân. “Nước” ở đây là đất nước chứ không phải chất lỏng H20.

Cũng như vậy: Càng chơi càng ra nhiều nước là chơi gì? Thưa, đó là chơi cờ! Nước ở đây chẳng phải H20, cũng chẳng phải đất nước mà là một “chiến lược” trong lý thuyết trò chơi.

Câu đố về con ốc chắc chắn nhiều người biết. Biết đã lâu mà vẫn thích thú: Mồm bò mà không phải mồm bò mà là mồm bò.

Ở đây chỉ lợi dụng có mỗi từ “bò” vừa có nghĩa là danh từ chỉ con bò (họ hàng với con trâu) vừa là động từ bò (cùng nhóm với “đi”, “chạy”).

Ba thằng lùn đi trước thằng lùn. Ba thằng lùn tất nhiên cũng lùn. Hỏi tất cả có mấy thằng lùn. Câu trả lời là hai thằng lùn. Ở đây “ba” không phải là số 3 mà là “bố”.

Việc chơi chữ có khi được sử dụng cả trong câu đố lẫn trong lời giải đáp; như trong trường hợp câu đố của Thanh Tịnh:

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Là con gì? Đó là “Con lừa mẹ”

Người ta cũng không chỉ chơi một từ, mà có khi chơi cả một câu, một mệnh đề: Báo cáo đồng chí trâu bò mấy chân? Trả là lời là 18 chân!

Người ta cũng có thể chơi cả khái niệm như trong câu đố:

Làng nào trong thơ ca không có trẻ em?

Trả lời: Làng của chàng trai trong bài Núi Đôi: Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng. Ở đây người ra câu đố cố tình lầm lẫn các khái niệm: trẻ trung, trẻ em, ít tuổi.

Những câu đố sử dụng kỹ thuật này nhiều nhiều lắm. Học tập lối chơi chữ trong dân gian, chúng tôi cũng đưa ra những câu đố trên “Tài Hoa Trẻ”:

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui
Con cái ngoan ngoãn
Cho ăn năm roi.
(Gia đình trồng cây)

Trễ nải ở đây là buồng chuối to, từng nải trễ (trĩu) xuống, chứ không phải lề mề làm chậm công việc. Sai trái ở đây là cây nhiều trái chứ không phải làm việc sai, việc không đúng. Năm roi là một giống bưởi quý ở đồng bằng Nam Bộ chứ không phải đánh năm roi (vọt)

Hoặc:

Năm bảy tàu thì để không
Lấy thân đóng mảng qua sông không cầu
Có buồng nào ở được đâu
Cha con mưa nắng dãi dầu quanh năm.
(Cây chuối)

Ở đây tàu là tàu (lá) chuối chứ không phải tàu thuyền, buồng là buồng chuối chứ không phải buồng (phòng) để nghỉ.

Hay nữa:

Đứa thì lòng dạ sục sôi
Đứa thì gan ruột một đời giá băng
Cũng là việc nuớc lo toan
Mấy cuộc luận bàn mà vắng chúng tôi.
(Phích đá và phích nuớc sôi)

5

5. Đố mẹo, gài bẫy

Yếu tố gài bẫy được sử dụng cả trong việc chơi chữ, trong biểu tượng hai mặt kiểu Hồ Xuân Hương (phần 13 ở sau), trong việc tìm ra các mâu thuẫn, các nghịch lý (phần 6) nhưng cũng có những trường hợp tách biệt hẳn. Chẳng hạn câu đố:

Một tạ chì và một tạ bấc. Bên nào nặng hơn?

Do chỗ ta hay nói “nặng như chì”, “nhẹ như bấc” (Truyện Kiều có câu Nhẹ như bấc, nặng như chì / Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên ) mà ta có thể vội vã trả lời tạ chì nặng hơn. Nhưng cùng một tạ thì sao còn nặng nhẹ hơn được.

– Câu đố: trong hồ có một lá sen, cứ sau một giờ nó lại nở ra gấp đôi. Sau tám giờ diện tích của nó che kín mặt hồ. Nếu trong hồ có hai lá sen như vậy, thì sau mấy giờ diện tích hai lá sẽ che kín mặt hồ?

– Câu trả lời: Sau bảy giờ. Thật vậy: nếu trong hồ có một lá, thì sau một giờ nó đã lớn gấp đôi. Như vậy sau một giờ coi như trong hồ đã có hai lá. Câu này gài bẫy người ta: hai lá thì năng suất phải gấp đôi một lá, và ta sẽ trả lời là sau bốn giờ. Cách tính đó là tính theo cấp số cộng. Còn ở đây phải tính theo cấp số nhân.

– Câu đố: Luộc chín một quả trứng mất khoảng năm phút, thì luộc chín hai quả trứng mất mấy phút?

– Câu trả lời: Vẫn mất khoảng năm phút.

– Câu đố: Thằng gù khi ngủ thì sao?

Câu trả lời: “Khi ngủ nó nhắm mắt!”. Giả thiết gù lưng ở đây là thừa, đưa vào chỉ để gây khó khăn lúng túng cho người giải đố mà thôi.

– Câu đố: Ăn giò chả ngon, ăn đường mất ngọt là sao?. Câu này trả lời thế nào cũng bị sai vì “chả” vừa là món ăn, vừa có nghĩa phủ định: chả ngon = không ngon; chữ mất (tiếng địa phương, lẽ ra phải là mứt) vừa có nghĩa là món mứt (kẹo) vừa có nghĩa phủ định: không còn ngọt nữa.

– Câu đố: Con chó khi đái nó nhấc chân trước hay nhấc chân sau?

Câu này trả lời thế nào cũng bị coi là sai. Do chỗ các từ “trước” và “sau” là trạng từ chỉ hành động nhấc chân diễn ra trước hay sau một hành động khác là đái. Nhưng “trước” và “sau” cũng là tính từ chỉ chân phía đầu hay chân phía đuôi của con chó. Tất nhiên có thể trả lời chính xác: Trước khi đái, con chó nhấc một chân sau lên. Nhưng ai mà “cảnh giác” cao như vậy để khỏi sa bẫy!

Tôi nhớ trong một buổi họp tổ dân phố, trước khi vào nội dung họp, người ta cũng hay kể chuyện vui hay ra câu đố. Một bác trung niên đứng ở góc bàn lên tiếng:

– Tôi đố các bà các ông biết: giữa hai chân tôi là cái gì?

Ở dưới có tiếng rúc rích cười và nhiều tiếng to nhỏ khác nhau: “Đồ quỉ!”, “Quậy vừa thôi ông ơi!”, “Tục quá đấy!”.

– Sao lại tục? – bác trung niên chậm rãi – Giữa hai chân tôi là cái chân bàn đấy sao mà!

Mọi người cười ồ lên. Sau khi một số người khác kể chuyện và ra câu đố, bác trung niên lại nói:

– Không ai đố nữa à? Thế tôi lại đố nhá
– Đố đi! đố đi!… Nhiều tiếng giục
– Đố các bà các ông giữa hai chân tôi là cái gì?
– Gớm có mỗi câu cứ đố đi đố lại! Là cái chân bàn chứ là cái gì!
– Không phải! Là cái các ông bà cười lúc nãy kia!

Tất cả lại cười rộ!

Đố mẹo như vậy trả lời thế nào cũng bị sai.

Câu đố sau đây cũng thuộc dạng đó: Thầy giáo đố học sinh:

Đố các em biết bị kích thích trong bóng tối, cái gì nở ra nhiều nhất?

Các em học sinh nghe câu hỏi thì cười khì. Thầy giáo nói:

Bị kích thích trong bóng tối, con ngươi của các em nở ra nhiều nhất. Nở lớn gấp sáu lần. Còn cái các em cười khì khì thì nó nở nhiều nhất cũng chừng ba bốn lần là cùng thôi!

Về nghệ thuật đố mẹo, gài bẫy, có một câu chuyện vui: Một “nhà thông thái” đi trên tàu gặp một bác nông dân. Để giải khuây đường dài, “nhà thông thái” bàn với bác nông dân chơi câu đố. Mỗi người ra một câu đố. Nếu bác nông dân không giải được thì phải mất cho “nhà thông thái” 1 ngàn đồng. Nếu nhà thông thái không giải được sẽ mất cho bác nông dân 10 ngàn đồng. Và cho bác nông dân đặt câu hỏi trước. Bác nông dân suy nghĩ một lát rồi đố:

– Đố con vật gì ở trong rừng ra nó đi bằng đầu, lúc đi vào rừng nó đi bằng lưng, ngửa bảy chân lên trời?

“Nhà thông thái” nghĩ mãi không giải được đành rút ví đưa cho bác nông dân 10 ngàn đồng. Sau đó nhà thông thái hỏi lại.

– Thế con vật ông vừa nói là con gì?

Người nông dân lặng lẽ rút 1 ngàn đồng ra đưa lại cho “nhà thông thái”

Câu đố mẹo đôi khi cũng cần phải có lời giải mẹo. Đó là trường hợp:

Đố:

Chàng khoe chàng lắm văn chương
Đố chàng biết cỏ bên đường bao cây?

Đáp:

Em về đếm cát bình hương
Bao nhiêu hạt, cỏ bên đường bấy nhiêu!

Cả người đố lẫn người giải đều thông minh ngang ngửa!

Học tập dân gian, trên “Tài Hoa Trẻ” chúng tôi cũng đã có lần ra câu đố:

Bốn chân đi guốc
Múa vuốt nhe nanh
Mày bơi dưới nước
Mày hót trên cành
Là con gì?

Câu trả lời là “con ma” có nghĩa là chả con gì như vậy. Nếu so sánh câu đố với một bài toán thì đây là bài toán vô nghiệm chứ không phải là bài toán không giải được.

6

6. Tạo ra mâu thuẫn giả

Phát hiện, tạo ra các nghịch lý giả cũng là nghệ thuật được áp dụng khá nhiều và khá thành công trong câu đố dân gian. Nó gây tò mò, kích thích tính hiếu kỳ của người chơi câu đố.

Đi đến đấy
Thấy ở đấy
Lấy được thì để lại đấy
Không lấy được thì mang nó về!

Cái gì mà lạ thế nhỉ? Lấy được thì để lại? Không lấy được lại mang nó về? Mang sao được? Nhưng khi có lời giải: Đó là việc dẫm phải gai. Lấy được ra thì ai mang về làm gì. Mà không lấy được thì đành phải mang nó về rồi tìm cách lấy ra sau chứ biết làm sao? Mọi chuyện thế là rõ ràng.

Theo lẽ bình thường, ở mọi con vật ngoài cùng là lông, rồi đến da, tiếp theo là thịt và cuối cùng là xương. Câu đố dân gian lại tìm ra rất nhiều điều tưởng như phi lý:

Bằng trang trái cà
Trong da ngoài thịt
(Mề gà)

Tồng phổng tồng phông
Trong lông ngoài thịt
(Lỗ mũi)

Vừa bằng hột lạc
Trong nạc ngoài xương
(Con ốc)

Hay bình thường đã gọi bằng ông thì phải nhiều tuổi rồi. Với lại người già phải nhiều tuổi hơn người trẻ. Đằng này:

Năm ông cùng ở một nhà
Tình huynh nghĩa đệ vào ra thuận hòa
Bốn ông tuổi đã lên ba
Một ông đã già lại mới lên hai
(Bàn tay năm ngón)

Hay như các câu:

Lưng đằng trước
Bụng đằng sau
Con mắt, cái đầu
Cách độ vài gang
(Cái bắp chân)

Đầu trọc long lóc
Tóc mọc bên trong
(Bóng điện)

Muốn to thì lấy bớt đi
(Cái hố)

Đứng thấp, ngồi cao
(Con chó)

Muốn nhanh chạy lại
(Đẩy thuyền)

Muốn dài cắt đi
(Bút chì)

Không vay mà trả
(Thuế)

Không vả mà sưng
(Cái mụn)

Không bưng mà kín
(Quả trứng)

đều thuộc loại tạo ra các mâu thuẫn giả tạo.

Để tạo ra mâu thuẫn giả, người ta cũng hay kết hợp với nghệ thuật chơi chữ, ví như

Chưa cất thì chưa thấy
Cất rồi mới thấy
(Nhà cửa, công trình)

Ở đây “cất” là xây dựng , dựng lên chứ không phải là cất giấu.

Hay như câu đố của chúng tôi ở trên:

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui

Cũng là học cách chơi chữ để tạo ra mâu thuẫn giả tạo vậy.

Tài quan sát và óc hài hước cũng giúp tạo ra những sự vật đầy mâu thuẫn như khi đố về cái kim khâu tay: Mình dài một tấc / Đuôi dài thước năm / Khi đi thì nằm / Khi ngồi thì đứng.

Để tạo ra mâu thuẫn giả, đôi khi tạo ra cả những đối tượng có vẻ cực kỳ phi lý, người ta còn áp dụng cả thủ pháp kết hợp nhiều đối tượng lại. Ví dụ như câu đố:

Bốn chân đạp đất tứ tung
Hai chân lưng chừng
B… ở bụng
L… ở lưng
Là con gì?

Chưa nghe lời giải, kể cũng khó đoán được. Đó chính là con trâu đực có người đàn bà cưỡi.

Ở trên là kết hợp hai đối tượng thực. Để khó đoán hơn nữa, người ta còn kết hợp đối tượng thực với đối tượng ảo. Chẳng hạn như câu đố:

Hai chân nhìn thấy, bốn chân không
Đàn bà mắng đuổi, đàn ông lén tìm
Là con gì?

Câu trả lời khá bất ngờ: là con đĩ ngựa!

7

7. Nghệ thuật nói lái

Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn
(Con ngựa)

Đục rồi cất, cất rồi đục
(Cục đất)

Cách nói lái này thường hay dùng trong các câu “vừa đố vừa giảng” mà đôi lúc vẫn gây lúng túng cho người chưa quen.

Vừa bằng cái đấu
Mà giấu bụi tre
Kiển tố vừa đố vừa giảng
(Tổ kiến)

Cũng có thể kể thêm một vài câu đố loại này:

Bằng ngón chân cái mà chai cứng
(Ngón chân cái)

Bằng cán rựa mà cựa ráng
(Cán rựa)

Bằng ngón tay mà ngáy ton ton
(Ngón tay)

(Ba câu đố sau này, tiến sỹ Lê Trung Hoa cho là không phải vừa đố vừa giảng mà là đố về cái “của quý” của phái nam)

Cách nói lái như các câu đố ở trên còn đơn giản, một tầng, dễ giải. Và trong nhiều câu đố còn quá dễ dãi như “Khoan lai” là “Khoai lang” hay câu đố:

Chiếc xuồng trong ngọn bơi ra
Là xuồng cụt mũi người ta còn dùng

Rồi trả lời là củi mục (nói lái của cụt – mũi) thực ra là gượng ép, không chuẩn xác.

Còn có nhiều câu đố nói lái hai ba lần phức tạp hơn nhiều, như trong truyện Trạng Quỳnh kể rằng: có lần sứ giả bên Tầu đưa sang một vật gói kỹ và để ngoài hai chữ “Đại Phong” để đố vua quan nước Việt. Trạng Quỳnh đã “phân tích” để tìm lời giải như sau: “Đại-phong” là gió to. Gió to thì đổ chùa. Đổ chùa thì tượng-lo. Tượng-lo là lọ-tương”.

Kiểu nói lái nhiều lần như vậy có lẽ thịnh hành ở đồng bằng Nam Bộ. Hồi mới giải phóng Miền Nam, có lần đi chơi cùng một người bạn Nam Bộ về Lái Thiêu, thấy người ta vứt bừa bãi rác rưởi, vỏ trái cây, xơ mít…ở bờ sông, tôi tỏ ra khó chịu. Thấy tôi phàn nàn, anh bạn cười: “Chính vì vậy mà trước kia, ở đây người ta hay có những biển cấm “Quitxơmăng – bông sên” đố cậu biết là gì đấy?”. Tôi cứ nghĩ Miền Nam có sự bang giao với phương Tây nhiều nên đây hẳn là một câu tiếng Tây nào đó và vận dụng mọi khả năng ngoại ngữ để suy đoán. Mãi sau anh bạn mới cười và bảo: Quitxơmăng là quăng xơ mít chứ có gì đâu! Liền đó, anh lại đố tôi: “đố cậu biết vì sao mùa hè mọi người đều thích đánh chuông?”. Tôi cứ nghĩ nói đến chuông là nói đến chùa, đến Phật. Chắc có lẽ vì giữa mùa hè có lễ Phật đản (mồng tám tháng tư âm lịch), …Nhưng anh cười lớn và giảng giải: “Đánh – chuông là đập-chuông. Đập-chuông là đuông-chập. Đuông- chập là đâm-chuột. Đâm-chuột là đâm-tí. Đâm-tí là đi tắm. Mùa hè ai mà không thích đi tắm, nhất là đi tắm biển.

Tôi cũng đã được nghe trong một bữa nhậu, cũng là khi mới từ Bắc vào Nam công tác, một ông bạn già người Nam Bộ nêu câu đố:

-Tại sao người ta hay nói “đàn ông thích đông zui?”

Một bạn trẻ liền nhanh nhẩu:

– Còn gì nữa. Đàn ông ai chả thích có nhiều bạn để bù khú. “Trà tam tửu tứ”, “Rượu ngon không có bạn hiền” mà lại.

Ông bạn già làm một hơi bia, đặt ly xuống rồi thủng thẳng:

– Nông cạn lắm chú em ơi! Nghe anh mày nói đây này: đông-zui là đui-zông. Đui-zông là mù-zó. Mù-zó là mò… Mò cái gì thì chú em biết chứ!

Tất cả bọn nam giới chúng tôi đều cười muốn sặc. Mấy bà thì vờ như không nghe rõ, nhưng thực ra đang cố nén cười. Một lát sau, ông bạn già lại tiếp:

– Thế bây giờ đố các chú em: tại sao người ta nói phụ nữ thích nấu nướng?

– Còn gì nữa – lại chú em lúc nãy lên tiếng – phụ nữ là phải giỏi nữ công. “Công dung ngôn hạnh” mà lại. Phụ nữ giỏi là phải biết làm món nhậu cho chồng tiếp bạn bè, chứ không thì thành “vợ thằng Đậu” rồi còn gì!

– Lại nông cạn nữa rồi! – Ông bạn già lại thủng thẳng: Nấu-nướng nghĩa là đun-thui. Đun-thui nghĩa là đui-thun. Đui-thun nghĩa là mù-co. Mù-co nghĩa là …

Ở phía các bà nhiều người đang theo dõi và nhẩm theo lời ông bạn già: “mù-co nghĩa là …nghĩa là mò…”

– Hết chịu nổi cái nhà ông này.

Mấy bà cười phá lên. Thì ra mọi người đều bị hấp dẫn bởi câu đố lắt léo kiểu nói lái nhiều tầng kia.

Nhân nói đến nghệ thuật nói lái, làm tôi nhớ lại những câu đố khá vui (mà ngày nay đã trở nên khá phổ biến) là những câu đố xung quanh chữ Long. Ở thời phong kiến xa xưa, những gì có liên quan đến nhà vua, đều được gọi kèm theo chữ “long”. Ví như Long bào là áo của vua, Long sàng là giường của vua, Long thể là thân thể nhà vua…Cách gọi tên đó ngày nay trở thành buồn cười, thường được đem áp dụng với sự xuyên tạc để đùa tếu và từ đó xuất hiện các câu đố này.

Vào một buổi gặp gỡ của một số thân hữu đầy không khí chan hòa văn nghệ, tôi được nghe ông Hoàng Năng trình bày tới mười mấy câu đố. Tôi còn nhớ tới nay mấy câu:

Đố: Vua đi tham gia sản xuất gọi là Long gì?
Đáp: Long đạo (lao động), hoặc Long cao (lao công)

Đố: Vua đi chơi về khuya cửa bị đóng, gọi là Long gì?
Đáp: Long kẻo (leo cổng)

Đố: Vua bị Tào Tháo đuổi gọi là Long gì?
Đáp: Long phẩn (phân lỏng)

Đố: Vua đi cầy ruộng gọi là Long gì?
Đáp: Long đền (lên đồng)

Đố: Vua giữ con gọi là Long gì?
Đáp: Long bò (lo bồng)

Đố: Vua nhẩy đầm gọi là Long gì?
Đáp: Long mắc (lắc mông)

Đố: Vua không có khả năng sinh con gọi là Long gì?
Đáp: Long tỉnh (tinh lỏng)

Đố: Vua lấy người nước ngoài sinh ra thái tử gọi là Long gì?
Đáp: Long giái (lai giống) …

Với giọng kể hóm hỉnh kết hợp điệu bộ chân tay và vẻ mặt, ánh mắt…cộng với sự hưởng ứng đóng góp, phát hiện, nhầm lẫn…của tập thể bạn bè, lại được pha vào chút men bia rượu, cuộc vui thật là thỏa thuê hết nói.

8

8. Nhân hóa, sinh vật hóa

Nghệ thuật nhân hóa và sinh vật hóa luôn làm cho câu đố trở nên sinh động hấp dẫn, và cũng có tác dụng làm cho câu đố trở nên lắt léo, dễ dẫn người giải câu đố đến chỗ sai lầm.

Còn duyên đánh phấn phơi màu
Hết duyên má hóp, trụi đầu, răng long

Tả bắp ngô mà rõ ra con người với số phận đổi thay theo định mệnh

Quanh năm áo lông, giầy da
Bốn mùa mũ đỏ, rõ là tay chơi

Tả con gà trống đúng từng chi tiết mà lại rõ ra dáng cậu ấm con quan, công tử con nhà giàu

Có râu, có tóc, có răng vàng
Quần áo xênh xang ba bốn bộ
Vẫn còn nũng nịu mẹ bồng mang

Đó cũng là bắp ngô. Đã già có râu, còn có răng vàng nữa(!) mà vẫn đòi mẹ bế thì nực cười thật! Hay như khi đố về củ hành:

Ao nâu mỏng mảnh
Râu ngắn lơ phơ
Bề ngoài trông thật lờ đờ
Nhưng ai động đến, không ngờ lại hăng!

Từ áo quần, diện mạo đến tính tình được đặc tả rất điển hình, cách chơi chữ rất hóm. Mà lại rất là… củ hành!

Mặt mẹ rạng rỡ như hoa
Mặt cha nhăn nhó chẳng ma nào nhìn.
(Mặt trăng và mặt trời)

Mình bằng hạt gạo,
Cứt bằng hạt kê
Hỏi đi đâu về
Ông đi làm thợ mộc.
(Con mọt)

Năm thằng cầm hai cây sào
Đuổi đàn trâu trắng chui vào trong hang
(Và cơm)

Hai cô mà ở hai phòng
Ngày thời mở cửa ra trông
Đêm thì đóng cửa lấp chông ra ngoài.
(Hai con mắt)

Cô kia nho nhỏ, thế mà khôn
Đã từng ăn ở chốn công môn
Cơm ngon, canh ngọt từng được nếm
Trai hiền gái đẹp đã từng hôn
(Con ruồi)

Chiều chiều ra chơi vườn hạnh
Tối tối thơ thẩn vườn đào
Ghẹo nàng tiên trong giấc chiêm bao
Hôn thiếu nữ đang an giấc ngủ.
(Con muỗi)

Một người cao lớn trượng phu
Đóng bẩy cái khố, thò cu ra ngoài.
(Cây chuối có hoa)

Các câu đố ở trên nhờ có nghệ thuật nhân cách hóa mà trở nên sinh động thú vị hẳn lên. Những thí dụ về nhân cách hóa như vậy rất nhiều, không thể kể ra hết được.

Các vật vô tri vô giác không được biến thành người thì cũng biến thành các con vật, các loài cây. Ví dụ như:

Một đàn cò trắng phau phau
Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm
(Rổ bát đĩa)

Cây khô có rễ trên đầu
Sông sâu chẳng sợ, sợ cầu bắc ngang
(Cột buồm)

Cây bên ta
Lá bên ngô
Cái ngọn tầy bồ
Cái gốc tầy tăm.
(Cái diều)

Ở đây lại một lần nữa nghệ thuật quan sát – so sánh, tưởng tượng – liên tưởng cũng được đan xen áp dụng một cách tài tình.

9

9. Triết lý ngụ ngôn

Như trên đã nói, câu đố chính hiệu chỉ nhằm mục tiêu chỉ tên sự vật. Tuy vậy, rất nhiều câu đố do vô tình hay hữu ý của tác giả mà tính triết lý, ngụ ngôn cứ lộ ra một cách rất tự nhiên, như chúng ta thấy ở các câu đố rất cổ sau:

Không ăn thì đói
Ăn thì bị trói
(Cái bao bố)

Ai vui tôi cũng vui chung
Ai buồn tôi cũng buồn cùng với ai
(Cái gương soi)

Nắng lửa, mưa dầm tôi không bỏ bạn
Tối lửa tắt đèn sao bạn bỏ tôi
(Cái nón)

Bằng một bước mà bước không qua
(Cái bóng)

Ngả lưng cho thế gian nhờ
Vừa êm vừa ấm còn ngờ bất trung
(Cái phản)

Hai thằng có tội thì không
Một thằng không tội mang gông cho hai thằng
(Kiếng đau mắt)

Già già như đám mây xanh
Tàn vàng tán tía chạy quanh bốn bề
Còn duyên ong bướm đi về
Hết duyên dùi đục nằm kề một bên
(Giàn mướp)

Hôi tanh chẳng thú vị gì
Thế mà luôn được kẻ vì, người yêu
(Tiền)

Đi thì ăn trốc, ngồi trên
Về thì lấm lét đứng bên xó hè
(Cái nón)

Đem thân che gió cho người
Chẳng khen thì chớ, còn cười rằng ngu
(Cái giại, do chữ “giại” khi đọc dễ lẫn với chữ “dại” nên mới có câu đố này)

Cái gì như thể khí trời
Ngày đêm quanh quẩn như hơi thở mình
Không hương, không sắc, không hình
Cao, sâu núi thẳm, biển xanh khó bằng?
(Lòng cha mẹ)

Thảng hoặc ta thấy có những câu đố ý nghĩa sâu xa, có sự cấu tứ chặt chẽ như một bài thơ. Chúng tôi ngờ đây là các bài thơ của các nhà nho thâm thúy tả các vật, sau đó được dùng làm các câu đố, chứ không phải câu đố dân gian chính hiệu. Thí dụ như:

Một lũ ăn mày, một lũ quan
Quanh đi quẩn lại vẫn chung đoàn.
Đêm khuya gió lộng đèn vừa tắt
Hết cả ăn mày, hết cả quan
(Đèn kéo quân)

Hoặc như câu đố về cái cày:

Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng
Khom lưng uốn gối cả đời cong
Lưỡi to bởi thế ăn ra phết
Cái kiếp chui lòn có thẹn không?

Sau này tìm hiểu thêm, chúng tôi đã biết được tác giả của một số bài đó như, câu đố về cái phản chính là bài thơ vịnh của Nguyễn Công Trứ để tự than thân. Câu đố về đèn kéo quân là của Nghè Tân (Nguyễn Quý Tân) …

Trong các câu đố đăng trên Tài Hoa Tre, chúng tôi cũng tập tành đưa vào các ý tứ ngoại suy để làm cho câu đố thêm hấp dẫn:

Vợ có răng, không lưỡi
Chồng có lưỡi, không răng
Chúng tôi ra đồng áng
Quý vị vào bàn ăn
(Cày-bừa nghĩ về dao-nĩa)

Mắt híp, bụng to thật có duyên
Chê cơm, chê cháo, chỉ xơi… tiền
Suốt ngày ngậm miệng sao mà mập
Ăn phía sau lưng, thế mới hiền!
(Heo đất)

Núp tôi họ né tránh trời
Dùng tôi qui chụp, khiến người thấm đau
Cần tôi họ đội lên đầu
Hết cần họ để tôi sầu cô đơn
(Cái mũ)

Ôm chân, liếm gót người
Dẫm đạp chẳng chừa nơi
Xưa trơn da, phổng mũi
Giờ há mõm, vều môi
(Giầy da há mõm)

10

10. Đố Kiều

Từ truyện Kiều, các tác giả dân gian đã khéo léo “tập” ra những câu thơ ghép thành những câu đố thật là thú vị. Chúng tôi xin dẫn ra một số câu làm thí du:

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đinh ninh hai miệng một lời song song

hoặc:

Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song
(Diều sáo)

Tả cái diều mà ví với vừng trăng, với cánh hồng bay bổng đều là tuyệt diệu. Còn cái sáo diều thì sao? Cái nào cũng có hai miệng song song và mỗi loại sáo chỉ phát ra một tiếng kêu (một lời) tùy loại to nhỏ. Thí dụ sáo ro chỉ phát ra tiếng ro…ro…Sáo rô chỉ phát ra tiếng rô…rô…Người làm câu đố rất hiểu về diều sáo mà cũng rất thông tỏ truyện Kiều.

Vâng lời khuyên giải thấp cao
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn
(Cái cân)

Rõ là phải “cân” đi nhắc lại rồi nhé!
Trên vì nước, dưới vì nhà
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
(Máng xối)

Máng xối mà không “vì nước” với “vì nhà” thì còn vì cái gì nữa!
Trót vì tay đã nhúng chàm
Cỏ pha mầu áo nhuộm lam da trời
(Thợ nhuộm)

Thợ nhuộm thì suốt ngày tay nhúng chàm, suốt ngày pha mầu với nhuộm là đương nhiên. Mà có lẽ người thợ nhuộm này đang hành nghề ở miền núi?

Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
Trông ra nào thấy đâu nào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?

Rõ rành rành là “anh chàng thông manh” rồi nhé! Có thèm để ai vào mắt bao giờ!

Đố về cái nón mà dùng những câu Nắng mưa mấy độ rồi Ai ai cũng đội trên đầu thì tài tình thật:

Nắng mưa mấy độ đổi dời
Dẫu rằng sương trắng quê người quản đâu
Ai ai cũng đội trên đầu

Hóm hỉnh nhất là đố về cái quần hay cái váy của gái giang hồ:

Cởi ra rồi lại buộc vào
Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh
Cho hay là giống hữu tình
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong

Đúng là cởi ra buộc vào xoành xoạch. Và “vườn hồng” này chim cò ra vào thoải mái, chẳng ai mà ngăn rào được. Tơ mành thì cứ rối bòng bong, có mà trời gỡ!

Còn “đôi gò bồng đảo” của thiếu nữ thì sao?

Trong ngọc, trắng ngà, dầy dầy…
Trông càng đắm, ngắm càng say
Ở trong còn lắm điều hay
Chẳng duyên chi dễ vào tay ai cầm

Hấp dẫn lắm, quyến rũ lắm! Nhưng nếu không có duyên thì đừng có mà “cầm”!

Tuyệt vời nhất là câu đố về ngọn nến:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài
Mot mình âm ỉ canh chầy
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi

Bị gò bó chỉ bởi những câu Kiều mà viết về ngọn nến như vậy, cứ đem so với những tuyệt tác sáng tác tự do, đâu có thua kém gì.

Ngoài các câu đố bằng cách “tập” các câu Kiều như ở trên, người ta còn có nhiều cách đố khác. Thí dụ:

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh đọc được một câu hết Kiều
Đáp: Trăm năm trong cõi người ta
Mua vui cũng được một và trống canh

Đố: Truyện Kiều anh thuộc làu làu
Đố anh đọc được một câu năm người (*)
Đáp: Này chồng, này mẹ này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Cũng có nhiều người đề xuất câu đố dưới đây và đã gây ra nhiều tranh cãi vui vẻ, thú vị

Đố: Truyện Kiều Thiếp chửa thuộc làu
Cậy chàng giải hộ: một câu sáu người (* *)
Đáp: Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

và giải thích đáp án như sau: Chồng là Kim Trọng (1), mẹ là bà Viên Ngoại (1), cha là ông Viên Ngoại (1), em ruột là Thúy Vân và Vương Quan (2), còn em dâu? (1). Tổng số là 6 người. Nhưng em dâu là ai?

Chắc sẽ có người nói là vợ Vương Quan. Theo ý chúng tôi, trong cuộc hội ngộ đầu tiên này không có mặt nhân vật đó. Ta hãy đọc đoạn dưới, khi Thúy Kiều ra gặp lại gia đình:

Trông xem đủ mặt một nhà
Xuân già còn trẻ, huyên già còn tươi
Hai em phương trưởng hòa hai
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!

Có nhắc gì đến ai nữa đâu? Nếu có một người khác nữa ở đấy, tinh tế, tế nhị như Thúy Kiều, chỉ cần liếc mắt một cái là đã biết ai rồi. Và chắc chắn nếu không chạy đến đầu tiên thì ít ra cũng là sau khi chạy lại cha mẹ. Đằng này lại phớt lờ đi thế ư?

Vậy theo chúng tôi, “em dâu” ở đây lại chính là Thúy Vân, vợ của Kim Trọng, nhưng mọi người trong gia đình đều thừa nhận là lấy sau Thúy Kiều. Thế mới là tế nhị. Bởi nếu chỉ giới thiệu Kim Trọng là “chồng” của Thúy Kiều thì Thúy Vân sẽ nghĩ gì vào lúc đó. Chính vì vậy mà dù “em ruột” có kể là hai (Thúy Vân và Vương Quan), hay chỉ kể là một (Vương Quan, vì Thúy Vân được giới thiệu ở sau là em dâu), thì rốt cuộc, trong văn bản ở câu Kiều cũng chỉ có năm người ở dạng hiển. Chính vì vậy mà trong cuốn “Từ lẩy Kiều, đố Kiều…” của Phạm Đan Quế (NXB Văn Học năm 2000, trang 20) chỉ thấy ghi câu đố (*)

Đố đáp ở (*) là hoàn toàn chính xác. Nhưng theo chúng tôi, đố đáp mà chính xác rõ ràng thế thì nhạt lắm. Có thể không chính xác lắm, chỉ cần một logic hình thức hết sức “chày cối” mà người ta phải chịu kia mới vui, mới hay. Giải trí mà lại! Riêng tôi, tôi vẫn thích câu đố (**) hơn. Theo chúng tôi, có nhiều cách giải thích câu đố này:

Cách 1:
– “Câu sáu người” phải hiểu là câu có nhắc đến sáu người.
– “Này chồng…em dâu” phải đọc là: Này chồng Thúy Kiều, …., này em dâu Thúy Kiều!
Như vậy rõ ràng là có sáu người được nhắc đến. Tức là phải kể thêm cả Thúy Kiều.

Cách 2:
– “Câu sáu người” hiểu là câu diễn ra giữa sáu người
– “Này chồng… em dâu” là câu chuyện giữa năm người và vãi Giác Duyên là sáu người cả thảy. Tức người thứ sáu phải kể thêm vãi Giác Duyên.

Các cách lý giải khác xin nhường cho bạn đọc yêu câu đố.

Đố theo (**) vui hơn vì nó có cái để mà bàn, có cái để mà sai (!) trong lúc chơi để cho vui. Và vì vậy có thể nêu câu đố

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã làu
Đố anh đọc được một câu bẩy người
Đáp: Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Trong trường hợp này, “câu bảy người” phải hiểu là có liên quan đến bảy người và câu Kiều trong đáp án là câu diễn ra giữa sáu người để bàn bạc về Thúy Kiều, tức là có liên quan đến bày người.

Còn có một câu đố vô lý hơn nữa:

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã làu
Đố anh đọc được một câu tám người
Đáp: Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Ta thấy cả quỷ, ma… đều được đếm là “người”!

Một giai thoại kể rằng một ông đồ xứ Bắc đố ông đồ xứ Nghệ:

Truyện Kiều anh đã thuộc làu
Đố anh đọc được một câu… bốn con khỉ

Ông đồ Nghệ Tĩnh quê Nghi Lộc, đồng hương với Nguyễn Du, từng tự hào có thể đọc xuôi đọc ngược truyện Kiều mà nghĩ mãi không biết câu nào, đành chịu thua. Ông đồ xứ Bắc mới mở truyện Kiều ra và chỉ vào câu

Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

Ông đồ xứ Nghệ dương mục kỉnh nhìn đi nhìn lại rồi nói: “Có con khỉ nào đâu?”. Ông đồ xứ Bắc giục “Thì ông cứ đọc to lên đi!” Vì giọng Nghi Lộc các thanh không và thanh bằng đều đọc ra thanh hỏi nên mọi chữ “khi” đều đọc thành “khỉ”. Ông đồ xứ Nghệ biết mình bị lỡm nhưng cũng rất thú vị khen bạn thạo Kiều mà lại thông minh hóm hỉnh.

Cũng còn một kiểu đố khác, “dân dã” hơn

Đố: Kiều mắc bệnh gì?
Đáp: Kiều mắc bệnh bạch tạng: Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Da mà trắng hơn tuyết thì bạch tạng là cái chắc!

Đố: Câu nào tả Kiều táo bón?
Đáp: Dùng dằng khi bước chân ra
Cực trăm ngàn nỗi, “rặn” ba bốn lần!

Ở đây chữ “dặn” được đọc trớ đi thành chữ “rặn”. Rặn ba bốn lần mà không được, tốt nhất là dùng thuốc xổ.

Đố: Kim Trọng bị táo bón ở đoạn nào?
Đáp: Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
Cũng nên dùng thuốc xổ đi thôi!

Đố: Kiều đi đái chỗ nào
Đáp: Kiều đái chết cỏ
Xè xè nắm đất bên đàng
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Đố: Kiều “dính bầu” chỗ nào?
Đáp: Thất kinh nàng chửa, biết là làm sao! (ở đây do di chuyển vị trí dấu phẩy nên nghĩa khác đi)

Đố: Kiều có khiếm khuyết gì về nhan sắc?
Đáp: Kiều bị sứt răng cho nên mới sợ hở môi ra những thẹn thùng

Cái dí dỏm ở câu này là Nguyễn Du thì dùng lối hoán dụ, một phương pháp mỹ từ: “hở môi” là thổ lộ, là nói ra. Thành ngữ cũng có câu là “không dám hé răng” vì khi nói, phải hở môi hay hé răng để phát âm. Người ra câu đố lại dùng nghĩa đen: Hở môi mà thẹn thùng thì ắt hẳn là sứt răng rồi.

Đố: Tại sao người ta nói Kiều từng làm nghề tráng gương?
Đáp: Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng trần thử soi

Đố: Kim Kiều có phải công nhân
Xưa kia từng đã góp phần đấu tranh?
Đáp: Kim Kiều chính cánh thợ ta
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ

Ở đây đã sử dụng nghệ thuật chơi chữ: Theo Hán văn cầm là đàn cầm, sắt là đàn sắt, cùng là nhạc cụ gắn bó như vợ chồng . Cầm với kỳ (cờ) là các thú chơi “lân bang “ với nhau như bè bạn. Nên tình cầm sắt là tình vợ chồng, còn tình cầm kỳ là tình bè bạn. Nhưng trong câu đố này lại sử dụng nghĩa chữ Việt cầm là cầm nắm, sắt là các dụng cụ bằng sắt như cờ lê, mỏ lết, kìm, búa…

Đố: Kiều đau bụng ở chỗ nào?
Đáp: Kiều bị đau bụng, muốn “đi ngoài”, trời thì tối, cầu tiêu thì xa (kiểu cầu cá ở miền Tây), mà Kiều lại sợ ma:
Hở ra luống những thẹn thùng
Để lòng thì lại cực lòng lắm thay
Một mình lưỡng lự canh chày
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Đố: Kim Trọng làm nghề gì?
Đáp: Kim Trọng tốt nghiệp sư phạm ra dạy mẫu giáo:
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau lưng theo một vài thằng con con

(Học lực Kim Trọng hơi yếu, phải lưu ban nhiều năm, nên nhiều tuổi hơn Kiều mà lại học cùng Vương Quan) “Túi gió trăng” là túi thơ vì xưa kia thơ ca hay vịnh tả về trăng về gió. Bác Hồ có viết: Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp / Mây gió trăng hoa tuyết, núi sông… Trong câu giải đáp này “Túi gió trăng” là túi xách đựng sách học vần vỡ lòng vì trong đó có in nhiều thơ của Phạm Hổ, Định Hải, Trần Đăng Khoa…

Các câu đố Kiều như vậy đôi khi có vẻ nôm na, thậm chí tục tĩu, nhưng không hề làm giảm tình cảm của mọi người (đặc biệt là người lao động) đối với truyện Kiều và Nguyễn Du. Bởi lẽ, như một nhà văn nào đó đã nói đại ý: Chính những truyện cười về Anh-xtanh còn làm ông nổi tiếng hơn cả thuyết tương đối!

Có thể nói truyện Kiều là nguồn cung cấp vô tận các câu đố. Tất nhiên là để giải trí. Song đôi khi cũng có những phát hiện bổ ích. Tôi nhớ có lần nhà thơ Kim Chuông có đố: “Ai đa tình nhất trong truyện Kiều?” Mọi người còn dồn ý nghĩ về phía Thuý Kiều, Thúc Sinh, Từ Hải… , thì Kim Chuông đưa đáp án: “Đó là người khách viễn phương đã lo chôn cất Đạm Tiên”. Càng nghĩ càng thấy đúng. Điều lạ lùng là (theo Kim Chuông) đáp án ấy lại của một người phương Tây nghiên cứu truyện Kiều!

11

11. Nghệ thuật chiết tự

Từ một chữ viết, tách ra từng bộ phận sẽ tạo ra các nghĩa khác nhau. Câu đố kiểu này rất thịnh khi chữ Hán còn phổ biến. Ngay cả những người ít sành Hán học thường cũng từng thích thú câu đố về chữ Điền

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian

Phát hiện thú vị nhất là trong truyện Kiều có một câu tả đúng chữ Tâm không cần phải chỉnh sửa một chút nào

Một vành trăng khuyết, ba sao giữa trời

Tài nhất, tình nhất là hai câu thơ dùng lối chiết tự để nói hiện tượng không chồng mà có con của nữ sĩ Xuân Hương

Xuân thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang

Chữ Thiên (có một nghĩa là ngày) nhô một nét đầu lên là chữ Phu (nghĩa là chồng); chữ Liễu thêm một nét ngang thành chữ Tử (nghĩa là con). Có thể hiểu nghĩa nôm “Ngày xuân chưa đến liễu sao đã nẩy lộc”Tuy nhiên ngay cả các ngôn ngữ sử dụng mẫu tự La Tinh

chắc cũng không hiếm những chiết tự hay. Các thầy cô giáo dạy tiếng Pháp thường vẫn hay đố học sinh câu đố chiết tự về chữ cái A, chữ cái đầu bảng:

Je suis le chef de 24 gardiens de Paris
Paris sans moi est pris
(Tôi là “sếp” của 24 tên lính gác thành Pa-ri / Không có tôi, thành Pa-ri sẽ bị chiếm đóng)

Câu đố chiết tự này hay cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Câu nọ gợi câu kia rất chặt chẽ.
Trong nhiều tập truyện vui Anh văn, ta thường gặp mẩu chuyện: Kết thúc buổi dạy, thầy giáo thông báo bằng phấn trên bảng: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các trò (CLASSES) của mình”. Thầy giáo vừa bước ra khỏi cửa đã nghe rộn tiếng cười. Ông ngoảnh lại và nhận ra thông báo đã bị sửa: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các tình nhân (LASSES) của mình”. Thầy giáo quay trở lại, xóa bớt một chữ cái L và để lại thông báo: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các con lừa (ASSES) của mình”. Các nhà sáng tác câu đố tiếng Anh, qua câu chuyện này dễ dàng tạo được các câu đố chiết tự khá hóm hỉnh. Ở chữ Việt còn có một lợi thế là có hệ thống dấu.

Hồi gần đây, nhân có việc viết lại sách giáo khoa lớp một, dạy chữ e trước chữ a gì đó, một ông bạn già vô cùng yêu văn hóa Việt chạy đến nhà tôi đập cửa ầm ầm. Tôi vừa ra ông đã nói: Chữ “a”, chữ “ba”, chữ “bà”, chữ “má”… là những tiếng phát ra đầu đời con người. Nó là chữ của tâm linh, không dậy trước lại đi dạy chữ “e” trước. “Bê” “bê” “be” “be”… thế thì biến lớp trẻ thành đàn dê rồi còn gì! Tất cả đều là vấn đề tâm linh, là sắp đặt của trời đất, không thể muốn thế nào cũng được. Ngay những cái dấu cũng vậy. Cậu có biết tại sao người ta lại kể thứ tự dấu “huyền” trước rồi đến dấu “sắc” sau mới đến dấu “hỏi”, tiếp nữa là dấu “ngã”, cuối cùng mới là dấu “nặng” không?

Tôi do dự: “Dạ, có lẽ cũng là do thói quen”.

– Thì đành là thói quen. Nhưng cũng là do tâm linh hướng dẫn cả. Cậu có thấy cái tình yêu vợ chồng để nối dõi nòi giống là hệ trọng nhất trong đời không? Ấy đấy: Trai gái mới gặp nhau thì “cười” (dấu huyền), sau được sự đồng ý gia đình mới “cưới” (dấu sắc), cưới xong rồi mới “cưởi” (cởi – dấu hỏi), cưởi xong rồi mới “cưỡi”… Do không biết tôn trọng trật tự của trời đất nên mới nhốn nháo lên, chưa đánh dấu nọ đã đánh dấu kia. Cậu thử xem, đôi nào không chịu tuân thủ quy luật tâm linh, thì rồi có nên cái quái gì đâu!

Tôi chẳng biết ông bạn già nói đùa hay thật. Kể lại chuyện này chỉ để thấy cái lợi hại trong hệ thống dấu của chữ Việt và cũng là một hứa hẹn cho câu đố chiết tự ở nước ta.
Tuy nhiên, nhìn về đại thể, những câu đố chiết tự còn khá đơn điệu và nhạt nhẽo, đại loại như: chữ “Tu” tức là vào chùa ở; thêm dấu huyền thì bị bắt giam; bỏ huyền thêm dấu sắc thì thành tốt nghiệp phổ thông (cậu tú); bỏ sắc thay bằng hỏi thì thành thứ đựng quần áo… Đố kiểu thế thì chữ gì cũng đem ra đố được. Nhưng chẳng có gì là đáng ghi nhớ cả.

Tuy nhiên đây đó cũng vẫn xuất hiện những câu “chiết tự” thú vị. Xin dẫn vài ví dụ

Giỏi làm mứt, thạo nấu canh
Đến khi mất sắc theo anh học trò.
(Chữ Bí)

Thực ra, có sắc lại hay theo anh học trò hơn, đặc biệt là khi học trò học toán!

Ở đây còn sắc có thể hiểu là còn sắc đẹp chẳng hạn, chứ nói còn dấu sắc hay thay dấu sắc bằng dấu huyền… thì còn gì thú vị nữa.

Tê đầu tê đuôi
Ê mình ê mẩy.
(Chữ Tết)

Đúng với không khí ngày tết, thật là mệt mỏi.

Đầu bò mà gắn đuôi heo
Ai mà gặp nó lăn queo tức thì.
(Chữ Beo)

Câu đố này hay về mặt phương pháp. Nó mở ra một hướng đi trong câu đố chiết tự.

Cái ly mà để giữa bàn
Hồi lâu coi lại, vẫn hoàn như xưa
(Chữ Y)

Cái hay của câu đố này là vừa tả hình dáng, vừa nói nghĩa của chữ Y. Chữ Y hoa rất giống cái ly, nhất là ly để uống sâm panh. Y có nghĩa là không thay đổi

Cắt đầu, chỉ còn có râu!
Chắp vào lại đủ đuôi đầu, mình, chân!
(Chữ Trâu)

Đen huyền mà lại đỏ
(Chữ Đèn)

Câu đố rất ngắn này lại hay ở nhiều phương diện: Thứ nhất là nghệ thuật sử dụng dấu rất khéo. Dấu huyền kết hợp với chữ đen thành đen huyền. Đen huyền, đen mun…là từ rất hay dùng nên không lộ liễu việc sử dụng dấu. Cái hay nữa là câu đố gần như vừa đố vừa giảng. Đen-huyền là “đánh vần” chữ “đèn”. Ở đây còn thú vị ở nghệ thuật chơi chữ. Đã đen, thậm chí đen huyền mà còn đỏ sao được. Và như thế lại tạo ra được mâu thuẫn giả. Từ “đen huyền” hay được dùng để nói về mắt đẹp, mắt sắc, mắt trong. Mắt đỏ là mắt đau, mắt toét. Toàn chuyện trái ngược. Mà từ đỏ đèn cũng lại rất quen thuộc:Láng giềng đã đỏ đèn đâu? là thơ Nguyễn Bính

Nguyên hình nó con anh tôi
Chặt đuôi, xóa dấu, nó đòi làm cha
Ráp đuôi, móc ruột nó ra
Tự nhiên nó lại hóa ra chú mình.
(Chữ Cháu)

Câu đố này hay là ở chỗ “giải phẫu” chữ đủ kiểu để tạo ra nhiều chữ, nhiều nghĩa khác nhau (Đó vốn là công việc của “chiết tự”). Nhưng các câu, các chữ tạo ra có liên quan mật thiết với nhau theo một quan hệ là quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình, nên không rơi vào tình trạng “đầu Ngô, mình Sở”, ông chẳng bà chuộc như rất nhiều câu đố chiết tự phạm phải.

Học tập câu đố dân gian, chúng tôi cũng đã giới thiệu một số câu đố kiểu “chiết tự” trên Tài Hoa Trẻ

Bỏ nón – thành bánh
Để nón – xuân sang
Có nón hay không nón
Vẫn bạn với mai vàng.
(Chữ Tết)

Che đầu thì hỏi
Giấu đuôi: trả lời
Giấu cả đầu đuôi:
Reo lên vui thích
Không hề bưng bít
Thin thít lắng nghe.
(Chữ Tai)

Đợi o một kiếp chẳng nề
Suốt đời anh chẳng nhận về mảy may
(Chữ Cho)

Hai đầu giải tỏa cả
Vạn mét vuông có ngay
Một đầu thôi giải tỏa
Dẫu sao vẫn còn hay
Để nguyên vẹn hơi găy:
Chỉ ngồi chơi xơi nước!
(Chữ Khay)

Chúng tôi nghĩ “chiết tự” là nguồn cung cấp vô tận các câu đố, nhiều khi khá bất ngờ. Tất nhiên không phải quá dễ dãi như đã nói ở trên. Chẳng hạn việc thay đổi một cái dấu đã làm nghĩa chữ thay đổi hẳn. Nhưng cũng như chữ “cười” trong câu chuyện của ông bạn già ở trên, các chữ nghĩa tạo ra phải được kết nối theo một hệ thống lôgic nào đó để tạo thành một chủ đề. Không thể đầu Ngô mình Sở, mỗi câu mỗi dòng một chủ đề khác nhau. Một điều quan trọng nữa là nếu sử dụng dấu, thì phải biết giấu cái dấu thật khéo sao cho người ta không biết mình sử dụng dấu.

12

12. Thơ đố – chân dung

“Thơ chân dung” là loại thơ dùng tên các tác phẩm tiêu biểu của một tác giả nào đó để viết thành một bài thơ ngắn gọn qua đó nói được những nét đặc trưng về cuộc đời về cá tính, về nghề nghiệp và xuất thân, về những thành tựu, những cống hiến của người đó.
Câu đố dùng thơ chân dung đã có từ lâu, ví dụ câu đố về nhà thơ Tương Phố:

Chẳng có đỗ cũng thành tương
Cũng mang ra khắp phố phường
Thu về nuớc mắt dòng dòng
Có chồng rồi lại mất chồng như chơi
Gió mưa sông núi sụt sùi
Thế nhân quên cả giọng cười Xuân Hương.

Hoặc câu đố về Tản Đà:

Cái ấm còn cả nguyên vòi
Bày bán chợ đời chỉ thấy người coi
Nếu đem lên bán chợ trời
Mấy nàng tiên nữ cũng cười không mua
Hỏi sao người đẹp ỡm ờ
Thì ra là những tiên cô tiên khồng

Chúng ta thấy những bài thơ đố như vậy thực ra cũng chưa được hay, chưa được suôn sẻ cho lắm.

Khi nữ sĩ Anh Thơ lấy chồng là bác sĩ, Nguyễn Bính có bài thơ mừng khá hóm hỉnh. Nếu đem làm bài thơ đố về sự kiện hoặc để bạn đọc đặt tên bài thơ như chúng tôi vẫn làm trên Tài Hoa Trẻ thì chất lượng hơn những bài trên rất nhiều:

Những tưởng trăm năm đến chết thèm
Ai ngờ chấm hết chuyện ăn khem
Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm
Chị sắp lên râu làm chức mẹ
Anh mà xuống nuớc đóng vai em
Bấy lâu bịt chặt lầu thơ lại
Kìa bức-tranh-quê đã vén rèm!

Thơ chân dung viết rất khó bởi lẽ ngoài văn tài ra, tác giả lại phải hiểu rõ người mình định mô tả, đọc nhiều sáng tác của họ. Hơn thế nữa, người đọc cũng phải biết xuất xứ những điều mà người làm thơ viết ra thì mới cùng đồng cảm mà thấy cái hay.

Trên Tài Hoa Trẻ chúng tôi cũng đã giới thiệu nhiều bài thơ học theo kiểu đó. Có đôi bài chúng tôi thấy tạm vừa lòng. Ví như bài thơ về Nguyễn Đình Chiểu:

Mắt lòa lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Hoặc bài về Lê Anh Xuân:

Bồn chồn nghe sấm nhớ mưa
Nghe gà gáy nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ – đất, hiến thân
Tên anh: dáng đứng Mùa Xuân – Con đường.

Khá nhiều bài viết khác, thực ra mới chỉ ở mức độ ghép tên các tác phẩm thành một bài có nghĩa, có vần với đôi nét vui tếu để qua đó độc giả nhận được ra người mình định giới thiệu mà thôi, mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng với tất cả tấm lòng quý yêu và trân trọng. Chúng tôi sẽ tiếp tục cải tiến, sửa chữa (xem “Chân dung nhà văn”, tập thơ – câu đố của Đặng Hấn – NXB Thanh Niên 2002)

13

13. Biểu tuợng hai mặt kiểu Hồ Xuân Hương

Nói đến Hồ Xuân Hương, chắc ai cũng thuộc đôi ba bài thơ của bà. Bà tả một vật rất bình thường nào đó, nhưng lại cứ gợi người ta hiểu ra những “vật cấm kị” mà càng nghĩ lại càng thấy cái “vật kia” hiện ra rõ rệt hơn

Vành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
(Cái quạt giấy)

Cửa hang đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
(Hang Cắc Cớ)

Bờ trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
(Giếng nước)

Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Đầu đội mũ da, loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn, rủ thao đen
(Ông quan võ)

Hoặc bà tả một công việc gì đó rất bình thường trong sinh hoạt vui chơi, trong lao động sản xuất mà cứ rõ rành rành là tả chuyện ái ân trong phòng the trướng gấm của đôi lứa gái trai

Đốt ngọn đèn lên, thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt canh thâu
Hai chân đạp xuống, nâng nâng nhấc
Một suốt xiên ngang, thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kĩ…
(Dệt vải ban đêm)

Nửa đêm giờ tí, trống canh ba
Thúc ngựa vào thành phá lũy ra
Một tướng đỏ đầu vào cửa ải
Hai quân lăn lóc chốn sơn hà
Quân ta quỳ xuống đâm quân nó
Nước nó giao hòa với nước ta
Đánh trận xong rồi lau khi giới
Tìm nơi ẩn khố chốn can qua
(Đánh trận đêm)

Mới dẫn ra một phần nhỏ, coi bộ đọc đã thấy mệt.

Không biết Hồ Xuân Hương đã học tập ở các câu đố dân gian Việt Nam, hay các tác giả câu đố đã học tập Hồ Xuân Hương mà số lượng các câu đố biểu tượng hai mặt như vậy (gọi là đố tục giảng thanh) cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể

Hai người ôm ấp lấy nhau
Nhúc nhích đằng đầu, nhúc nhích đằng đuôi
(Cái kéo)

Trời sinh ba góc kéo về ba
Một góc thiếu đi một miếng da
Nhấp nhấp càng lâu, càng thấy sướng
Tại sao nước nọ chẳng tuôn ra?
(Quạt giấy)

Khum khum như mu bàn tay
Mồm thì mồm dọc ngậm ngay hột hồng
Hai bên có hai hàng lông
Ở giữa hột hồng đỏ loét lòe loe.
(Con sò huyết)

Đó là một vài câu đố về các vật. Về hoạt động thì:

Hai tay ôm lấy khư khư
Bụng thì bảo dạ rằng ư đút vào
Đút vào nó sướng làm sao
Dập lên dập xuống nó trào nuớc ra.
(Ăn mía)

Một nguời nằm, một nguời ngồi
Đút vào sướng lắm em ơi
Rút ra đánh choách, miệng cười toét tòe loe.
(Cho con bú)

Cục thịt đút vào lỗ thịt
Một tay sờ đít, một tay sờ đầu
Đút vào một lúc lâu lâu
Nhột ở núm đầu nước chảy ứa ra
Da non nút chặt da già
Kéo cưa đưa đẩy rút ra cùng cười.
(Cho con bú)

Đó là những câu đố của thời xa xưa. Gần đây, tôi lại nghe bọn trẻ đố nhau:

Vạch quần ngoài, thấy quần trong
Vạch quần trong, thấy lông
Vạch lông, thấy hạt
Bóp hạt, thấy nước
Là cái gì?

Và trả lời là: Bắp ngô non. Đúng là láo toét. Nhưng bắt bẻ được chúng đâu phải dễ! Có chỗ nào sai đâu?

Xem ra thơ Hồ Xuân Hương và các câu “đố tục giảng thanh” này chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào.

Bắt chuớc những câu đố kiểu này, chúng tôi cũng đã từng cho in các câu đố:

Đàn bà con gái rất yêu
Chỉ đi tu mới ra chiều dửng dưng
Mềm như nhựa, cứng như sừng
Dùng nó coi chừng kẻo lại gẫy răng.
(Cái lược)

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trăm vuốt ngàn ve vẫn chẳng mòn
Quân tử có thương đừng đập, giật
Cứ nâng, cứ xoáy mặc ái nhòm.
(Đánh bóng bàn)

No say rồi, lấy em đi
Giúp anh cái khoản thứ nhì được chăng
Em đâu còn tuổi thơ măng
Mất em có kiếm cũng bằng công toi
(Cái tăm tre)
(Câu 2 là muốn nhắc thành ngữ thứ nhất đau mắt, thứ nhì dắt răng. Câu cuối là muốn nói mất tăm mất tích)

Tất nhiên cũng còn xa lắm mới đạt được cái mức “hậu sinh khả úy”!

14

14. Đố tình huống, thử thách sự thông minh

Đố: Trong quan tài có một người chết vậy mà có người thì khóc “Ới anh ơi là anh ơi!”. Lại có nguời khóc “Ới chị ơi là chị ơi!”. Vậy người chết là đàn ông hay đàn bà?
Đáp: Đó là người đàn bà có tên là Anh.

Tất nhiên cũng có thể nói đó là người đàn ông có tên là Chị. Nhưng trên thực tế, đáp án này rất khó chấp nhận, trừ ra ở một số vùng khi phát âm không phân biệt âm “ch” với âm “tr”, thì có thể trả lời “đó là người đàn ông có tên là Trị” cũng được.

Đố: Thành phố bị bao vây. Mỗi người đều bị bắt ra và trước mặt tên đao phủ phải nói một câu. Nếu nói đúng thì bị chặt đầu, còn nói sai thì bị treo cổ. Có nhiều nguời đã thoát chết. Vậy họ đã nói câu gì?
Đáp: Họ nói: “Tôi sẽ bị treo cổ”

Đúng vậy, nếu đem người này đi treo cổ thì họ đã nói đúng. Nhưng nếu nói đúng thì bị chặt đầu. Nhưng nếu đem chặt đầu thì họ đã nói sai. Mà nói sai thì phải đem treo cổ. Thành ra chả biết làm sao, đành phải thả họ ra.

Về câu đố này, ông Phạm Quang Giám ở báo “Toán học và tuổi trẻ” có đưa ra một đáp án khác là họ nói với tên đao phủ: “Đầu ông nặng ba kí lô”. Thật vậy, tên đao phủ không thể nào kiểm tra được đầu mình nặng bao nhiêu, và vì vậy không thể kết luận được câu nói đó là sai hay đúng để có cách hành thích người nói. Cũng sáng kiến lắm!

Đố: Theo lệnh của nhà vua, hàng năm sẽ có một số tù nhân được ân xá, một số bị đem đi xử trảm. Việc xét duyệt được tiến hành một cách may rủi. Mỗi tù nhân được gọi ra và bốc ngẫu nhiên một lá thăm trong hai lá bề ngoài giống hệt nhau nhưng một lá thăm có ghi chữ “chết”, một lá có ghi chữ “sống”. Tù nhân A bị bọn quan tòa thâm thù nên đã làm hai lá thăm đều ghi chữ “chết”. Thế mà kết cục, tù nhân A vẫn được tha. Vậy tù nhân này đã ứng xử thế nào?
Đáp: Tù nhân A lấy một lá thăm và lập tức bỏ vào mồm nhai rồi nuốt đi. Khi đó tất nhiên phải mở lá còn lại ra và vì lá còn lại ghi chữ “chết” vậy theo luật thì suy ra lá mà tù nhân đã nhận phải ghi chữ “sống”!
(Nếu tù nhân không bị thâm thù, việc bốc phiếu được làm công bằng thì khả năng sống chết vẫn là 50% chứ không có gì thay đổi có hại cả)

Đố: Dân thành phố A luôn nói thật còn dân thành phố B luôn nói dối. Bạn là du khách biết mình đang ở một trong hai thành phố, nhưng không biết mình đang ở thành phố nào. Dân hai thành phố lại hay qua lại bên nhau. Gặp một người, bạn chỉ được hỏi một câu để biết mình đang ở thành phố nào. (Dân hai thành phố này, khi nghe câu hỏi chỉ gật hoặc lắc mà thôi). Vậy câu hỏi của bạn là thế nào?
Đáp: Câu hỏi là: “Anh sống ở thành phố này phải không?” Nếu họ gật thì bạn đang ở thành phố A còn nếu họ lắc thì bạn đang ở thành phố B.

Cũng câu đố này, có một cách trình bày hiệu quả hơn như sau:

Đố: Ở một Mê-cung có hai cửa thoát ra. Một cửa dẫn đến chỗ chết gọi là “”Cửa tử”, một cửa dẫn tới vùng sống tự do, gọi là “Cửa sinh”. Việc canh giữ hai cửa này do hai tên lính canh thực hiện. Gọi là canh nhưng chỉ làm mỗi việc ai hỏi gì thì trả lời. Nhưng hai người này đều không biết nói, chỉ gật hay lắc đầu khi nghe hỏi. Một trong hai người luôn nói thực, còn người kia luôn nói dối. Việc phân công ai coi cửa nào rất tùy tiện, không theo lịch phân nhất định nào. Bạn bị lạc vào mê cung và chỉ được phép hỏi một câu để tìm “Cửa sinh” mà ra. Câu hỏi của bạn là thế nào?
Đáp: Bạn có thể hỏi một trong bốn câu sau:
1.Người nói thật đang canh “Cửa tử” phải không?
2. Người nói dối đang canh “Cửa sinh” phải không?
3. Người nói thật đang canh “Cửa sinh” phải không?
4. Người nói dối đang canh “Cửa tử” phải không?
Hai câu 1và 2 tương đương nhau. Nếu bạn hỏi một trong hai câu này mà họ gật đầu thì đó là “Cửa tử”, bạn chớ đi vào. Ngược lại, nếu họ lắc đầu, thì bạn cứ ung dung theo cửa đó mà đi ra.

Hai câu 3 và 4 Tương đương nhau và nếu bạn dùng một trong hai câu hỏi này, thì bạn phải xử sự ngược lại với hai câu hỏi trên.

Đố: Có ba thành phố A, B, C. Dân A luôn nói thật, dân B luôn nói dối còn dân C thì cứ một câu thật một câu dối xen kẽ nhau. Dân các thành phố lại thường đi lại qua nhau. Bạn muốn biết bạn đang ở thành phố nào và đang nói chuyện với dân thành phố nào, nhưng chỉ được phép hỏi không quá bốn câu (người trả lời chỉ gật (khẳng định) và lắc (phủ định)). Đố bạn đưa ra những câu hỏi đó.
Đáp: Bốn câu hỏi đó là:
1. Tôi đang ở một trong hai thành phố A và B phải không?
2. Tôi đang ở C phải không?
3. Anh là dân thành phô C phải không?
4. Tôi đang ở thành phố A phải không?

Câu đố này hơi phức tạp, dành cho bạn nào thích tò mò và kiên nhẫn một chút. Lý giải như sau:

a- Nếu có câu trả lời khẳng định hoặc phủ định cho cả 2 câu (1) và (2) ta biết ngay người ta gặp ở C. Trong trường hợp đó, câu trả lời phủ định (trong trường hợp này là câu trả lời sai) cho câu hỏi (3) có nghĩa là câu trả trả lời cho câu hỏi (2) là đúng. Khi đó, nếu câu trả lời cho câu (2) là khẳng định thì không cần hỏi câu thứ (4) nữa. Nhưng nếu câu trả lời cho câu (2) là phủ định thì ta hỏi tiếp câu (4) ta sẽ được một câu trả lời sai và ta suy ra ta đang ở thành phố A nếu câu trả lời là phủ định và ở B nếu câu trả lời là khẳng định. Nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (3) là khẳng định (câu trả lời đúng) thì câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là sai. Khi đó nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là phủ định thì ta biết ta đang ở C và câu hỏi thứ (4) là không cần. Còn nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là khẳng định thì ta lại phải hỏi tiếp câu hỏi thứ tư để được câu trả lời sai và biết mình ở A hay ở B.

b- Nếu câu hỏi (1) và (2) có câu trả lời trái ngược thì người ta gặp ở A hoặc ở B. Câu trả lời khẳng định cho câu hỏi (3) chứng tỏ họ là người thành phố B (nói dối) và câu hỏi thứ tư không cần thiết: nếu câu (2) phủ định (ta biết ta đang ở C). Còn nếu câu trả lời là khẳng định thì ta đang ở A hoặc B; câu trả lời sai cho câu hỏi (4) sẽ cho ta bíêt ta đang ở đâu (ta ở A nếu họ lắc, ta ở B nếu họ gật). Cũng vậy, nếu câu trả lời cho câu hỏi (3) là phủ định chứng tỏ họ là dân thành phố A (nói thật), khi đó nếu câu trả lời cho (2) là khẳng định thì không cần câu thứ (4) còn nếu câu (2) là phủ định thì ta cần câu trả lời cho câu thứ (4).

Đố: Làm thế nào để xỏ một sợi chỉ qua một cái vỏ ốc xoắn?
Đáp:
Tang tình tang, tính tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng
Bên thì bôi mỡ, kiến mừng kiến sang

Đấy là chuyện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi mà Nguyễn Văn Trung đã dẫn trong “Câu đố dân gian Việt Nam”.

15

15. Câu đố về nhãn hiệu – nghệ thuật gán từ, gán nghĩa

Loại câu đố này xuất hiện ở Miền Nam trước giải phóng do có sự giao lưu với phương Tây nhất là về phương diện hàng hóa, nên hàng ngày thường đập vào mắt những nhãn hiệu bằng tiếng nước ngoài. Được phổ biến hơn cả là câu đố về nhãn hiệu thuốc lá Capstan

Đố: Capstan là viết tắt của câu gì khi đọc ngược và khi đọc xuôi?
Đáp:
Cho anh phát súng tim anh nát (đọc xuôi)
Nhưng anh tin số phận anh còn (đọc ngược)

Một câu đố như thế tất nhiên không thể có đáp án duy nhất. Ta còn có thể tìm được các đáp án sau đây:

Đáp 2:
Chiếc áo phong sương tình ân nghĩa (đọc xuôi)
Nghĩa ân tình nỡ phụ anh chi (đọc ngược)

Đáp 3:
Nào ai tàn sát, phần anh cả (đọc ngược)
Con anh phá sản tại anh ngu (đọc xuôi)

Trong quá trình truyền miệng nhau, đáp án nào suôn sẻ hơn, vui hơn sẽ được nhiều người nhớ hơn và trở thành đáp án chính thức. Ở câu đố này có thể xem đáp án đầu tiên là chính thức.

Gần đây, lần ra Huế dự Hội nghị toán toàn quốc, trong bữa cơm thân mật với GS. Nguyễn Bác Văn, GS. Lê Văn Hốt, nhà thơ Phạm Hồng Danh…, TS. Trần Công Chín lại chỉ vào dòng chữ Heineken trên lon bia để đố chúng tôi. Và một số đáp án cũng được đưa ra:

Đáp 1:
Hôn em ít, nên em kiêu, em nguýt (đọc xuôi)
Nếu em khoái, em nằm im em hưởng (đọc ngược)

Đáp 2:
Hại em it nhiều em không e ngại (đọc xuôi)
Nhưng e không em, nó ỉ eo hoài (đọc ngược)

Đáp 3:
Ngỡ em khóc, em nằm í eo …hát (đọc ngược)
Hễ em im, nó ép, khốn em ngay! (đọc xuôi)

Những đáp án này vẫn còn là khởi thảo, sẽ còn được “quần chúng” sửa chữa bổ sung thêm, trước khi một kết quả được xem là chính thức.

Hiện nay, do xu thế hội nhập, tên nhãn hiệu, tên công ty viết tắt như Fahasa, Casuvina…khá phổ biến. Nhiều trường hợp có thể đem ra đố. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, mọi người đều rất bận mải, nên tương lai của loại câu đố này cũng khó có thể biết trước được. Thiết nghĩ, các công ty, các nhà sản xuất có thể ra cuộc thi về nhãn hiệu hàng hóa của mình cũng là một cách quảng cáo rất có hiệu quả.

16

16. Câu đố toán, nghệ thuật tư duy

Người ta thường đưa vào phần đố toán những bài toán đố hoặc những tình huống oái oăm phức tạp phải xử lý. Những tình huống mà mới đọc thấy rất khó giải quyết, nhưng bằng một suy luận thông minh, một sáng kiến, một “mẹo” nào đó, vấn đề được giải quyết đơn giản và dễ hiểu đến bất ngờ. Một số câu đố mà chúng tôi đã đưa trong phần “Đố mẹo, gài bẫy” hay phần “Đố tình huống, thử thách sự thông minh” cũng có thể chuyển sang phần đố toán này. Xin dẫn thêm ra đây một vài câu:

Đố: Tại sao vào mùa đông, máy bay từ Hà Nội đi Huế mất có 80 phút mà từ Huế đi Hà Nội lại mất những 1 giờ 20 phút?
Đáp: Vì 80 phút cũng là 1 giờ 20 phút

Câu đố này gài bẫy người ta ở những chi tiết: dùng các từ “mất có” và “mất những”, rồi một đằng tính thời gian bằng phút, một đằng lại tính bằng giờ. Lại thêm chi tiết bay vào mùa đông chẳng dùng làm gì để hướng người ta nghĩ đến mùa đông có gió mùa đông bắc…

Đố: Với 3 que diêm, hãy xếp 1 số lớn hơn 3 và nhỏ hơn 4.
Đáp: Đó là số pi (=3,14159…). Câu này do người ta chỉ nghĩ đến số thập phân bình thường như 3,5 chẳng hạn và sẽ không thể xếp được.

Đố: Trong một ngôi đền có ba ông thần hình dáng giống hệt nhau, nhưng tính nết rất khác nhau: Thần-thật-thà luôn luôn nói thật, Thần-dối-trá luôn luôn nói dối và Thần-khôn -ngoan lúc nói thật, lúc nói dối. Một nhà toán học lại thăm đền. Ông hỏi thần ngồi bên trái:
– Ai ngồi bên ngài?
– Thần-thật-thà!
Nhà toán học hỏi tiếp thần ngồi giữa:
– Ngài là thần gì?
– Thần-khôn-ngoan!
Ông hỏi tiếp thần bên phải:
– Ai ngồi cạnh ngài?
– Thần-dối-trá!
Nhà toán học đã suy luận thế nào để biết ba loại thần đó?
Đáp: Gọi lần lượt ba thần ngồi từ trái sang phải là A, B, C
(1) Theo A: B là Thần-thật-thà
(2) Theo B: B là Thần-khôn-ngoan
(3) Theo C: B là Thần-dối-trá
(1) Chứng tỏ A không phải là Thần-thật-thà, vì nếu A là Thần-thật-thà, thì (1) đúng, và B là Thần-thật-thà điều đó vô lý vì chỉ có một Thần-thật-thà thôi.
(2) chứng tỏ B không phải là Thần-thật-thà, vì nếu là Thần-thật-tha, thì mâu thuẫn với (2)
Vậy C là Thần-thật-thà và theo lời C (3) B là Thần-dối-trá . Tất nhiên còn lại A là Thần-khôn-ngoan

Trong mục T (Đố toán) ở phần ba (Câu đố sưu tầm và tuyển chọn) của cuốn sách này, chúng tôi có đưa vào 30 câu đố toán. Chúng tôi cũng đã chuyển sang dạng văn vần để thêm vui và dễ nhớ. Ở đó có nhiều bài toán mới đọc có vẻ khó, nhưng cách giải rất đơn giản mà lại rất vui, có những bài toán rất dễ, nhưng chỉ sơ ý một chút, bạn có thể cho đáp số không chính xác như bài toán “Bao nhiêu chi tiết máy?”, bạn có thể bỏ bớt chi tiết thứ 43. Hoặc bài toán “Ếch nằm đắy giếng”…

Cũng còn phổ biến một loại đố toán là tiến hành một chứng minh tỏ ra rất chính xác, nhưng trong xâu chuỗi các biến đổi chặt chẽ, có xen vào những khe hở rất nhỏ và kết quả đi đến một kết luận “động trời” như: Mọi tam giác đều cân, mọi góc đều vuông, đường xiên dài bằng đường thẳng góc, 1 = 2… Thế rồi đố chúng ta phát hiện ra khe hở trong xâu chuỗi lý luận. Bạn đọc có thể tìm đọc trong cuốn “Giải trí toán học” của Đặng Hấn, NXB Trẻ ấn hành năm 1995. Chúng tôi xin dẫn ra ở đây vài ví dụ:

Đố: 1 = 2 . Sai ở đâu?
Giả sử x = y vậy y² = x² do đó x² – y² = x² – xy suy ra (x – y) (x + y ) = x (x – y )
“Giản ước” hai vế cho x – y ta có x + y = x. Thay x = y = 1 ta có 1 = 2 (?!)
Giải đáp: x = y, vậy x – y = 0. “Giản ước” hai vế cho x – y tức là chia hai vế cho 0 là phép toán không có nghĩa.

Đố: “Một đồng bằng mười đồng” sai ở chỗ nào?
1 đồng = 10 hào vậy 1² đồng = 10² hào = 100 hào = 10 đồng. Nghĩa là 1 đồng bằng mười đồng (?!)
Giải đáp: Sai lầm là ở chỗ khi ta bình phương hai vế, ta mới chỉ bình phương các con số mà đơn vị đo thì ta lại không bình phương. Như vậy 1đ = 10 hào thì 1 “đồng bình phương” = 100 “hào bình phương”. Nhưng “hào bình phương” và “đồng bình phương” là gì thì ta lại chưa định nghĩa nên chẳng biết quan hệ giữa chúng ra sao và do đó ta chưa phát hiện ra điều gì là vô lý cả, mới chỉ phát hiện ra phép toán của ta là vô lý thôi.

Các câu đố về toán hiện nay được in ra rất nhiều. Nhiều sáng tác và sưu tầm của các bạn yêu toán và của các nhà toán học có tên tuổi rất có giá trị. Tuy nhiên có thể thấy hai nhược điểm khá nổi bật như sau:

Thứ nhất, những câu đố thực sự hay thường lại là những bài toán phải sử dụng các kiến thức không thực sự đơn giản mà câu đố thì để giải trí nên lại cần phải vui. Các câu đố loại này may ra chỉ có các nhà toán học hoặc chí ít cũng là những sinh viên, học sinh giỏi toán mới thấy “vui” được. Loại thứ hai, khá phổ thông thì lại đơn giản quá nên nhạt, dễ chán.

17a

Trong thời gian gần đây câu đố được in ra khá nhiều với số lượng khá lớn và tái bản nhiều lần. Điều đó chứng tỏ câu đố phát huy được những mặt tích cực của nó. Báo chí cũng đăng nhiều câu đố, đài truyền hình cũng có nhiều cuộc đố với tính chất vui để học. Câu đố có thể dùng để giải trí cho các nhà khoa học, các nhà văn sau những giờ lao động mệt mỏi.

Câu đố giúp các bạn học sinh phát triển óc quan sát, so sánh, khả năng tưởng tượng và liên tưởng; ít nhiều giúp ích cho việc học văn và khả năng suy luận trong khoa học.
Báo Thanh Niên ra ngày 30/5/2001 có bài “Văn của các em khiến người lớn cười ra… nước mắt” được báo Phụ Nữ (TPHCM) chủ nhật số ngày 17/6/2001 trích đăng lại. Chúng tôi cũng xin chép lại đây cho các bạn tham khảo:

Đề tập làm văn trong kì thi tốt nghiệp tiểu học vừa diễn ra ở tỉnh nọ: “Em hãy tả hình dáng và tính tình của một cụ già mà em rất kính yêu”. Xin trích nguyên văn 8 bài làm của học sinh nông thôn:

1. Hình dáng của bà nội rất là thấp, được hai mét rưỡi, dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít nhìn thấy gì nữa… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi.

2. Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lộ, miệng cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, hai cái chân.

3. Bà cụ ngoài 40 tuổi.

4. Hình dáng của ông rất bình thường, chiều rộng một mét, chiều cao hai mét.

5. Mỗi khi ông cười hàm răng của ông không được trắng và chắc như trước nữa mà đã gãy 4 cái răng. Khuôn mặt của ông không còn đẹp trai như trước nữa mà rất nhăn nhó, ông cười cũng như là ông giận.

6. Khuôn mặt ông bầu bĩnh; đôi mắt ông như đôi mắt bồ câu trắng; dáng đi của ông rất hoang thai và cái miệng của ông như trái tim mãnh liệt.

7. Ông của em dài thì bằng mười mét và không mập.

8. Ông của em cao khoảng 1m, khung mặt của ông như trái song.

Chúng tôi nghĩ nếu các em bớt đọc truyện tranh nhảm nhí, in ấn xô bồ, quan tâm hơn đến sách văn học và thuộc được một số câu đố dân gian như chúng tôi dẫn ra ở phần 1) và 2) của bài viết này, chắc chắn các em không đến mức làm văn miêu tả dở đến như vậy.

Nhưng cũng phải nói ngay rằng: dùng một cuốn câu đố để thay cho một giáo trình lịch sử, địa lý, toán học… thì sẽ không đúng với mục đích của câu đố và sẽ hoàn toàn thất bại. Câu đố chủ yếu vẫn để giải trí)

Trong các câu đố đăng trên Tài Hoa Trẻ, bên cạnh việc cung cấp thông tin để nhận ra sự vật, chúng tôi cố gắng đưa vào những yếu tố có chất văn học hoặc từ đó dẫn đến các bài thơ hay, hoặc các câu cách ngôn, thành ngữ hay, để tăng phần thú vị cho người chơi câu đố, đồng thời cũng giúp cho các em học sinh qua đó có thể biết thêm một số kiến thức trong văn học. Ví như khi đố “đôi đũa”:

Vênh váo là rất hại
Ái ngại chị chìa vôi
Rất thương người mỗi miếng
Tôi dâng mời tận môi
Đừng đem tôi trả bạn
Kẻo mang tiếng hẹp hòi.

Trong câu đầu, chúng tôi muốn nhắc tới thành ngữ “Vợ dại không hại bằng đũa vênh”. Trong câu 2 muốn nhắc đến thành ngữ: “Đũa có đôi, chìa vôi lẻ bạn”. Hai câu cuối muốn nói “hành động trả đũa” thường là các hành động không cao thượng.

Hay câu đố về “cơm”

Phải đâu bát phở ăn chơi
Gắn bó một đời như thể vợ ta
Thảo thơm nuôi sống vạn nhà
Nhưng sao mẹ ruột lại là đàn ông
Có khi nào hóa cá không?

Hai câu đầu muốn nhắc một “thành ngữ” vui trong dân gian… lận: “Cơm là vợ, phở là bồ”. Câu thứ tư nhắc hai thành ngữ: “Cơm tẻ – mẹ ruột” và “Thuốc nam thuốc bắc bú cặc cho cơm”. Thành ngữ này sinh thời Chế Lan Viên rất tâm đắc. Ông (ký Chàng Văn) đã dẫn ra để minh lý cho quan điểm của ông là “Không có từ nên thơ hay không nên thơ miễn là sử dụng nó đúng chỗ thì sẽ hay, sẽ thơ”. Câu cuối ở câu đố này cũng nhắc đến một danh từ hay dùng là “Cần câu cơm”.

Bài thơ đố:

Sen tàn, cúc thắm, trời hanh
Nhẹ rơi chiếc lá nửa xanh nửa vàng
Bay từng giọt – nắng ngân vang
Thoảng thơm hương cốm trong làn heo may
(Chớm thu)

rất bình thường, chẳng có gì đặc sắc. Nhưng cái chính là mỗi câu trong bài lại gợi nhớ ra những câu thơ xuất sắc về mùa thu.
– Sen tàn cúc lại nở hoa là câu Nguyễn Du tả cảnh hè sang thu (Kiều)
– Câu thứ hai gợi nhớ hai câu thơ của Thanh Tùng: Một mặt lá mùa hè còn níu ở / Mặt kia thoáng đã thu rồi.
– Câu 3 nhắc thơ Nguyễn Mỹ Nắng bay từng giọt – Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông.
– Câu 4 nhắc thơ Nguyễn Vũ Tiềm: Sợi rơm vàng buộc gió / Cả sóng sánh sen hồ / Nắng đa tình Bến Nghé / Phải lòng hương cốm thu. Hay thơ Lương Hữu: Thu ở ngàn thu tà áo trắng / Em ngồi chia nắng với heo may. Hoặc đây nữa: Gửi đi một chút heo may / Để bên ấy biết bên này thu sang (Đặng Nguyệt Anh)

Hay bài thơ đố về tình yêu:

Cho ăn no thì chết
Càng đói càng khỏe ra
Cứ uống xong lại khát
Chợt gần rồi chợt xa
Con dao rỉ rồi mẻ
Không cắt nghĩa được mà.

Hai câu đầu nhắc danh ngôn của A.De Musset: Tình yêu là con quái vật; sống trong đói lả và chết trong sự no say. Câu 3 nhắc thơ Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình / gặp rồi lại nhớ là mình của ta. Câu 4 nhắc thơ Lê Thị Kim: Tinh yêu không là gió / chợt gần rồi chợt xa / Tình yêu không là cỏ / Mọc lan man thềm nhà. Câu 5 nhắc thơ Hoài Anh: Tình yêu như con dao / Để thì rỉ / Chặt thì mẻ / Em tính sao?. Câu cuối nhắc thơ Xuân Diệu: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Phần câu đố về các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chúng tôi cũng cố gắng cung cấp những thông tin cần thiết nhất về các văn nghệ sĩ đó để các bạn yêu văn học nghệ thuật thêm hiểu, thêm yêu văn nghệ và các bậc tài hoa của đất nước.

Chơi câu đố là một thú chơi tao nhã mà mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia. Đọc “Hồng lâu mộng” chẳng hạn, ta bắt gặp những cuộc chơi rất hào hứng mà từ chủ nhân có quyền uy cao nhất đến các con sen đầy tớ đều tham gia một cách bình đẳng. Người giải đúng câu đố có thể không phải là người học thức cao mà có khi chỉ là người thường vẫn được xem là rất dốt nát. Không ai căn cứ vào cuộc chơi câu đố mà đánh giá học vấn, tư tưởng chính trị… của người khác. Thường nhiều khi biết lời giải câu đố rồi, người ta còn cố tình giải sai đi cho vui. Người ta cũng gợi ý và nhường cho người bề dưới, trẻ em… giải đúng để thưởng cho chúng. Đó là văn hóa của lối chơi câu đố. Người tham gia chơi câu đố, khi nghe một người đố mà mình biết lời giải rồi cũng đừng vội vàng nói ngay, nếu không sẽ mất đi những tranh luận thú vị và người ra đố cũng cụt hứng, mất vui.

17b

Câu đố xem ra cũng có nhiều công dụng. Xin dẫn ra đây hai mẩu chuyện về Thanh Tịnh đã được nhà văn Ngô Vĩnh Bình kể trong cuốn “Thanh Tịnh như tôi biết”

Dùng câu đố để giữ trật tự

Nhà thơ Thanh Tịnh rất quý trẻ nhỏ, và ngược lại, trẻ nhỏ cũng rất thích gần ông. Biết ông sống độc thân hay buồn, anh em trẻ công tác ở Tạp chi Văn nghệ quân đội và cánh nhà văn, nhà báo thường dắt con đi cùng mỗi lần ghé thăm nhà thơ. Trẻ đến chơi thường rất mê bộ “sưu tập” đồ chơi của ông, nhất là những loại súng, ngựa. Chúng cứ hỏi ông hết câu nọ đến câu kia…Một tết, khách lớn đông mà khách nhỏ đến cũng thật nhiều. Ông bảo bọn trẻ cũng là khách nhưng là “khách mini”. Khách mini lắm khi nhõng nhẽo quấy quả bố mẹ, vòi vĩnh nhà thơ đến mức không trò chuyện nổi. Nhiều bé bị bố mắng đâm ra ỉu xìu. Thanh Tịnh không bằng lòng. Ông chia đều kẹo bánh cho lũ trẻ và bảo:

– Bây giờ ông tiếp các cháu hề?

Lũ trẻ nhao nhao đến quanh ông. Ông nói là ông sẽ ra câu đố cho chúng và “treo giải 50 đồng” cho những cháu trả lời được đúng và nhanh. Bọn nhóc khoái lắm, giục ông “đố đi”. Ông hắng giọng, liếc qua chữ “Pháo tết” bên bàn và đọc:

Đến ngày pháo nổ gần xa
Đọc đi đọc lại, vẫn là tên tôi!
(Là chữ gì )

Lũ trẻ đoán non đoán già thì ông đã bảo: “Xuống dưới nhà nghĩ nhé! Ai giải đúng lên lĩnh thưởng”.

Tự nhiên bọn trẻ chạy ào ào xuống dưới sân một cách triệt để, nhường “chỗ” cho người lớn chuyện trò. Một tuần trà đã qua mới lác đác có cháu lên và được nhà thơ phán: “Trật rồi, cho giải lại”. Mãi cả giờ sau bọn trẻ mới kéo lên gác được đông đủ. Thanh Tịnh dõng dạc: “Vậy là không cháu nào đoán được. Đó là chữ “Tết”, dễ ợt!” Tuy vậy ông vẫn khuyến khích bằng cách cho mỗi cháu hai chiếc kẹo. Lũ trẻ khoái lắm, trước lúc ra về cứ “Chào ông” vang cả lên.

Dùng câu đố để chữa cháy báo xuân

Tờ báo nọ dự định ra số xuân sớm hơn mọi năm vì quan niệm báo tết là thứ hàng hoa, phải kịp thời đến tay bạn đọc. Nhưng hiềm một nỗi ông bạn họa sỹ “mi” tính toán số chữ không chính xác, nên khi ra “bông” thấy bị thủng nhiều chỗ. Đưa ảnh vào cũng được, nhưng kiếm không ra, đưa bài khác vào thì hỏng hết ý đồ mà cũng chẳng đủ “đất”. Viên thư ký tòa soạn nhanh ý guồng xe đến “cụ” Thanh Tịnh với ý đồ xin vài mẩu chuyện hoặc câu đối để “lấp chỗ trống”.

Năm ấy tuổi đã “thất thập cổ lai hy” nên viết lách có phần chậm. Có tí vốn liếng nào cũng đã “bị” các báo khác nhanh chân hơn đến “chộp” trước cả rồi. Vì thế nên khi nghe lời “thỉnh cầu” đầy vẻ S.O.S ông cũng rất lo. Nhưng chỉ một thoáng đã thấy ông hỏi: “Bản bông có đây không?”. Người thư kí đưa ra cho nhà thơ xem. Quả bị “thủng” đến mấy chỗ. Dường như không phải suy nghĩ nhiều, nhà thơ cao niên vớ lấy cây bút bi, giương kính lão lên và viết liền vào chỗ trống lớn nhất một câu đố:

Phần đầu tôi mệt lắm rồi
Phần đuôi lặng lẽ giúp người che thân
Nếu đem ghép lại hai phần
Tôi kêu một tiếng, xa gần biết tên
Là chữ gì?
(Xem giải đáp trang…)

Ông lật đi lật lại bản “bông”, tìm ra một chỗ “thủng” khác, ông ghi lời giải: Pháo (ph là mệt phờ + áo = pháo). Đoạn ông bỏ kính, buông bút, trả bản bông cho vị khách và hỏi: “Ổn chưa?”. Người nọ chỉ biết cười, vội guồng xe tới nhà in.

Dùng câu đố để mời bạn đến ăn cơm

Đây không phải là chuyện về nhà thơ Thanh Tịnh mà là về một Đại tá bạn tôi. Tôi và anh bạn thường hay lai rai trò chuyện. Bẵng một thời gian do cả hai đều quá bận. Một hôm ghé một trường đại học thì gặp nhau. Mừng quá. Anh hỏi tôi: “Đặng Hấn lâu nay đang sưu tầm câu đố phải không?”. Nghe nhắc câu đố là tôi khoái lắm, liền túm ngay lấy anh. Tôi hỏi “Sao ông biết?” Thay cho câu trả lời, anh bạn nói “Đố cậu một câu đây: Một cô đến, sáu anh sờ. Hai anh sờ ngực, hai anh sờ đùi. Một anh sờ khắp mọi nơi. Anh sờ mông đít miệng cười lôi ra. Cô trông thấy, cô cười xòa: “Xin mời các vị cứ là tự nhiên!”  Là gì?

Tôi vận dụng tất cả các kỹ năng phán đoán mà vẫn không hiểu là gì, đành chịu thua và hỏi: “Là chuyện gì thế?”. Anh nói rất nghiêm trang: “Đâu phải dễ thế! Cậu muốn biết là gì thì đúng 11 giờ trưa mai đến nhà ăn tập thể của bọn mình, chỗ chúng ta vẫn nhậu ấy rồi khắc biết!” Nói xong anh chẳng thèm bắt tay tôi, dứt khoát bỏ ra đi.

Đúng giờ ngày hôm sau tôi tới thì thấy anh và mấy “chiến hữu” quen thuộc cùng bia rượu đã bày biện sẵn sàng. Chính ở nhà ăn này, tôi đã có lời giải của câu đố: Mỗi bàn ăn xếp sáu người. Chuẩn bị ăn thì có một cô nhân viên đến kiểm tra phiếu ăn và mọi người vội vàng sờ vào túi áo (sờ ngực), người sờ túi quần (sờ đùi), người sờ túi sau (mông đít) để tìm phiếu ăn… Lúc ra về anh bạn dặn tôi: “Thỉnh thoảng lại thăm anh em, có thơ gì hay đọc cho nghe. Đừng ham hố làm ăn quá. Hôm nay cậu đến đây là vì câu đố chứ đâu phải vì bạn bè!” Biết cãi lại cũng chẳng ăn thua và câu nói của bạn cũng chẳng phải hoàn toàn vô lý, tôi chỉ còn biết im lặng đồng ý.

17c

Câu đố cũng còn được dùng như các câu chuyện vui, góp thêm hứng thú cho các buổi giao lưu gặp gỡ bạn bè hoặc làm giảm mệt mỏi trong các chuyến chu du dài trên xe tàu vất vả.
Có lẽ người biết nhiều câu đố nhất là các hướng dẫn viên du lịch. Một lần xe gần đến thủy điện Hòa Bình mọi người đã uể oải lắm. Anh hướng dẫn viên du lịch đưa câu hỏi:“ Đố các vị biết vì sao khi các chàng trai trao nhẫn cưới, thì các cô gái lại thích nhẫn kim cương hơn nhẫn vàng, dù rằng nhẫn vàng thường vẫn to hơn nhẫn kim cương?”. Tất nhiên các cô ai mà chả biết vì nhẫn kim cương đắt tiền hơn. Nhưng nói ra sợ người ta chê mình thực dụng. Còn người lớn tuổi thì đều nghĩ chắc phải có lý do gì khác, chứ không thì ai đố làm gì. Thế là chẳng ai lên tiếng. Mãi sau mới có một cụ tóc đã bạc sáu bảy phần cười và nói: “Có gì đâu. Các bà các cô chỉ cần quan tâm cứng hay mềm chứ ai mà chú ý to hay nhỏ!”. Tất cả xe cười rộ. Anh hướng dẫn viên vái tay trước cụ già: “Xin bái phục cụ. Đúng là không cái gì qua mặt được các bậc cao niên!”

Một lần khác xe đi trên đất Phan Rang, gần tới đèo Ngoạn Mục. Trời giữa trưa nắng ơi là nắng. Anh hướng dẫn viên lại ra câu đố: “Có hai anh chị yêu nhau rất thắm thiết. Nhưng rồi do những lý do khách quan rất chính đáng họ không lấy được nhau, chẳng ai có lỗi với ai và họ vẫn mang mối tình ở một nơi thầm kín của trái tim dù cô gái đã đi lấy chồng. Một hôm tình cờ họ gặp nhau ở một sân ga cũng giữa trưa đứng bóng như bây giờ (Anh hướng dẫn viên chỉ tay ra trời nắng). Sau phút hàn huyên đầy cảm động, quên cả nắng cháy giữa sân ga, họ lại phải chia tay vì họ đi tàu khác nhau và đã sắp đến giờ tàu chuyển bánh. Anh thanh niên xin phép được hôn cô gái. Suy nghĩ một lát, cô gái nói: “Em đồng ý cho anh hôn. Nhưng anh hãy hôn lên chỗ nào mà chồng em sẽ suốt đời không bao giờ hôn lên đó”. Anh thanh niên ngần ngừ một lát, cúi sát xuống phía chân cô gái, hôn một cái “nóng bỏng”. Rồi họ chia tay nhau. Vậy anh thanh niên đã hôn lên cái gì của cô gái?”

Im lặng một lúc lâu rồi bắt đầu ồn ào.

– Chắc hắn hôn lên chiếc giày?
– Ai lại hôn lên giày bao giờ?
– Hôn lên giày thì chồng cô ta cũng hôn lên được!
– Hay hắn hôn lên gấu quần?
– Gấu quần hôi bỏ mẹ, ai lại hôn!

Một ông trung niên buột miệng

– Đã yêu nhau thì nó còn hôn lên cả những chỗ hôi hơn ấy chứ!

Cô vợ ngồi bên đỏ bừng mặt nguýt chồng rồi nói nhỏ nhưng rất gay gắt:

– Thôi im đi. Không biết xấu hổ!

Cả xe ồn ào lên một hồi, sau đó anh hướng dẫn viên mới trả lời

– Chàng thanh niên đã đặt một cái hôn “nóng bỏng” lên cái bóng của cô gái trên sân ga!

Một đáp án rất bất ngờ và rất thơ mộng. Đúng là chàng thanh niên chỉ còn biết theo đuổi, giữ gìn hình bóng của người yêu. Những gì thuộc về vật chất đã có chủ nhân rồi!

Tôi nhớ lần ấy xe du lịch chở chúng tôi từ Thượng Hải sang Hàng Châu. Phong cảnh thật nên thơ mà mọi người trên xe đều mệt mỏi ngủ gà ngủ gật, vì đã trải qua mấy ngày mệt mỏi do đi quá nhiều (Người hướng dẫn viên du lịch đặt tên cho đoàn tham quan của chúng tôi là đoàn văn công Sóng-Giang. Tức là cứ đêm mới về khách sạn ngủ mà sáng ra là dong!). Thấy tiếc cho mọi người bỏ qua không chiêm ngưỡng phong cảnh nên thơ hai bên đường, nơi quê hương của các nhà thơ lớn như Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, tôi liền lên tiếng.

– Xin đố các vị một câu đố đây!

Không thấy ai hưởng ứng, nhưng tôi vẫn nói dõng dạc

– Đố các vị biết cái gì mà mới có, đang còn thì không cho được. Phải đợi đến lúc hết mới cho được?

Câu đố gây sự tò mò. Tưởng đâu chẳng ai để ý vì thấy im phăng phắc. Nhưng thực tình mọi người đều đã nghe và đang suy nghĩ. Lát sau, đây đó mới lao nhao lên

– Là cái gì thế?
– Chịu thôi. Giải ra đi ông Hấn ơi!

Đợi một chút cho mọi người thêm sốt ruột, rồi tôi mới nói:

– Tôi cũng không biết nó là cái gì mà lạ thế. Vốn là có một lần, do tình cờ nghe được hai anh chị đang tâm tình. Anh con trai nói: “Em ơi! Cho anh đi! Chúng mình yêu nhau mà!”. Cô gái nói: “Em mới có, đang còn, không cho được! Ráng đợi thêm mấy bữa hết rồi em cho! Ngốc ạ!”. Đến bố tôi cũng chẳng hiểu là cái gì. Đố các vị là cốt để hỏi. Ai ngờ các vị cũng không biết à?
– Bố láo chi xiên!
– Thằng phải gió!

Đây đó rợn lên tiếng nói xen tiếng cười. Mọi người nhìn ra hai bên đường: trắng xóa một màu hoa cúc. Đây là quê hương của “trà” hoa cúc Trà gồm toàn hoa cúc. Tuyệt nhiên không có lá chè.. Cùng với màu trắng là hương thơm ngào ngạt tràn vào xe. Tất cả đã tỉnh táo. Nhờ mầu sắc? Nhờ hương thơm? Biết đâu một phần lại chẳng vì câu đố?

SÀI GÒN những đêm tháng 8/2001.
ĐẶNG HẤN

Chia sẻ bài này:

Leave a Reply

Be the First to Comment!

Notify of
avatar
wpDiscuz