Chân dung nhà văn (bút danh vần A-B-C)

01

Anh ĐứcTrong hòn đất cất anh hùng
Làm nên sóng gió một vùng biển xanh
Chị Tư nhân hậu, hiền lành
Đứa con của đất đức tình vẹn hai
(Trẻ trung nhảy bổng bay dài
Nên nay ông lão mơ hoài bóng chim?)

» Xem/Đóng đáp án

ANH ĐỨC (nhà văn)
Anh ĐứcCâu 1 nhắc tác phẩm HÒN ĐẤT rất nổi tiếng của Anh Đức và tập truyện LÃO ANH HÙNG DƯỚI HẦM BÍ MẬT. Câu 2 nhắc các tập: BIỂN ĐỘNG, BIỂN XA, MIỀN SÓNG VỖ. Câu 3 nhắc tác phẩm MỘT TRUYỆN CHÉP Ở BỆNH VIỆN sau đổi là CHỊ TƯ HẬU khi dựng thành phim, có sự tham gia diễn xuất của nghệ sĩ Trà Giang. Câu 4 nhắc tiểu thuyết ĐỨA CON CỦA ĐẤT, đồng thời ĐứcTình ở câu này là muốn nhắc tên khai sinh của nhà văn là Bùi Đức Ái. Hai câu cuối nhắc tập truyện GIẤC MƠ CỦA ÔNG LÃO VƯỜN CHIM.

Nhà văn Anh Đức sinh năm 1935 tại Châu Thành, Kiên Giang. Hiện đang sống và viết tại Tp. Hồ Chí Minh.

02

Bằng ViệtThơ tình – Luật lý đâu hơn?
Bàng hoàng nhìn đất xanh rờn sau mưa
Trái tim mình trở lại chưa?
Nghe như sống mũi đến giờ còn cay!
Bốn mươi năm trước hăm hai…

» Xem/Đóng đáp án

BẰNG VIỆT (nhà thơ)
Bằng ViệtCâu đầu muốn nói nhà thơ Bằng Việt vốn tốt nghiệp Đại học Luật tại Liên Xô. Câu 2, nhắc tập thơ ĐẤT SAU MƯA. Chữ  bàng hoàng là lấy từ câu thơ Bằng Việt trong bài NGHE NHẠC BÊ -THÔ- VEN từng làm bàng hoàng nhiều bạn thơ và bạn yêu thơ : Tiếng trống thúc bàng hoàng hai thế kỷTrái tim lớn mang niềm đau khổ lớn / Trái tim trải những vòng sóng gợn / Lan truyền đi mãi mãi đến tương lai… Cả hai câu đầu có bạn dự thi nhắc một ý thơ của Goethe : Mọi lý luận đều  xám, nhưng cây đời thì mãi mãi xanh tươi. Câu 3 nhắc bài thơ TRỞ LẠI TRÁI TIM MÌNH của Bằng Việt, từng được giải nhất của Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Câu tiếp nhắc một câu trong bài thơ BẾP LỬA của Bằng Việt : Lên sáu tuổi cháu đã quen mùi khói /…/ Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !. Câu cuối là chúng tôi muốn cập nhật một thông tin về tác giả : ông vừa tục huyền với một cô gái rất trẻ. Chúng tôi muốn dùng câu thơ Nguyễn Công Trứ để chúc mừng ông.

Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê Hà Tây. Hiện sống và viết tại Hà Nội. Hiện ông là chủ tịch hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.

03

Bích KhêHỡi ơi đúng độ xuân hồng
Tỳ bà nhạc tắt, ngô đồng lá rơi
Tinh hoa gửi lại cho đời
(Xưa tinh huyết đã tặng “người khỏa thân”?)
Vừa khai mào cuộc duy-tân
Mà lời tuyệt mệnh mộ phần đã ghi!

» Xem/Đóng đáp án

BÍCH KHÊ (nhà thơ)
Bích KhêTrong bài nhắc hai tập thơ chính của Bích Khê là TINH HOA và TINH HUYẾT. “Tinh huyết” đã được in năm 1939 còn “Tinh hoa” là tập tác giả dồn hết tâm lực để sáng tác thì mãi năm1997 NXB Hội Nhà văn mới cho ra mắt bạn đọc. Nhiều bài thơ xuất sắc của tác giả được đề cập : XUÂN HỒNG, TỲ BÀ, NHẠC, TRANH LÕA THỂ, DUY TÂN, LỜI TUYỆT MỆNH… bài “tỳ bà”  có 7 khổ 4 câu 7 chữ gồm toàn những từ vần bằng: Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm / Trăng đan qua cành muôn tơ êm / Mây nhung pha màu thu trên trời / Sương lam phơi màu thu muôn nơi /…/ Cây đàn yêu đương làm bằng thơ / Dây đàn yêu đương run trong mơ / Hồn về trên môi kêu : em ơi / Thuyền hồn không đi lên chơi vơi… Hai câu cuối của bài này được Hoài Thanh  đánh giá là hay nhất trong nền thi ca Việt Nam: Ô hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi ! vàng rơi ! thu mênh mông “Tranh lõa thể” cũng là một tuyệt tác của tác giả: Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ / Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này? / Nàng ở mô xiêm áo bỏ đâu đây ? / Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm, / Nàng là tuyết: làn da nàng tuyết điểm / Nàng là hương: nhan sắc mộng lên hương / Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường; / Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc./ Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc / vài chút trăng say đọng ở làn môi / Ô run run mấy nét vú phong đồi / Chừng đây đó gót sen vàng xây động… “Lời tuyệt mệnh” còn đề ở bia mộ tác giả: Thân bệnh : ngô vàng mưa lá rụng / Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi / Sau nghìn thu nữa trên trần thế / Hồn vẫn về trong ánh nguyệt soi.

Bích Khê tên khai sinh là Lê Quang Lương sinh ngày 24/3/1916 ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, mất ngày 17/1/1946 trong khi bao dự định “duy-tân” thơ: đưa vào thơ các yếu tố tượng trưng, siêu thực, thơ cấu trúc, “thơ lõa thể”… vừa được nhen nhóm.

04

Bùi Chí VinhChàng trai ơi, nhớ lắm thay
Như rượu đế nhớ thịt cầy, nhớ ghê !
Như ca-ra nhớ ô-kê
Như sấm sét bỗng nhớ về thu lôi!
Em không bé bỏng, lớn rồi
Anh đang bắt rắn, hay ngồi điểm danh?

» Xem/Đóng đáp án

BÙI CHÍ VINH (nhà thơ)
Bùi Chí VinhBốn câu đầu nhại theo bài THIẾU NỮ (Cô gái ơi, anh nhớ em/ như con nít nhớ cà rem vậy mà/ như con dế trống đi xa/ Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi/ Con dế thì gáy một hơi/ Còn anh gáy suốt một thời con trai…). Câu 4 nhắc bài SỰ  TÍCH CỘT THU LÔI (tuyển thơ lục bát Việt Nam) (Không hề cháy thịt cháy da/ Vậy mà thân thể tan ra dễ dàng/ Lặng im hết hệ tuần hoàn/ Chỉ còn đứng giữa trần gian hai người/ Chỉ còn môi thật là môi/ Mắt thật là mắt, có lời bên trong/ Đáng gì cái lạnh mùa đông/ Gió càng mang rét, càng hồng má thêm/ Một người nhỏ nhẹ xưng em : / Mở đầu tiếng sét có tên “ái tình” / Bầu trời đột ngột bình minh/ Chôn chân anh đứng một mình… thu lôi). Câu 5 nhắc bài BÉ… BỎNG (Bé bỏng trong tim bé bỏng trong thơ / Em bé bỏng trong tay anh bé bỏng/ Viên sỏi lăn trên vỉa hè rất nóng/ Viên sỏi là em, còn anh hóa vỉa hè/ / Anh không cần chờ đợi một vòm me / Che sao được buổi trưa đang chết khát/ Cứ lồ lộ, anh không cần râm mát/ Bé bỏng chừng nào nướng chín thịt da anh). Câu 6 nhắc bài ÔNG GIÀ BẮT RẮN (Riêng ta đi kiếm dây thòng lọng/ Đợi nàng rắn cái lén đi qua…) và bài ĐIỂM DANH (Bích ơi, Dung ơi, Thảo ơi / Phượng ạ, Giang ạ, Kim ạ / Các em có mặt như những điếu thuốc lá / Để vành môi anh thở ra những sương mù…).

Bùi Chí Vinh sinh năm 1954 tại Sài Gòn (quê Nam Định). Hiện sống và viết tại Tp.Hồ Chí Minh.

05

Bùi GiángÔng giằng búi tóc. Ông khóc ông cười…
Còn hai con mắt khóc người một con
Ngàn thu rớt hột mưa nguồn
Đêm trăng ngắm lá hoa cồn hiện lên
Từ duy lý tới ngẫu nhiên
Câu thơ vớ-vẩn mà nên thần-sầu!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI GIÁNG (nhà thơ)
Bùi GiángGiằng búi bà Bùi Giáng (nói lái). Đây là phát hiện của chính Bùi Giáng. Rứt tóc, bứt tai, cười khóc vô cớ là đặc điểm của những người bị bệnh tâm thần : Người điên cái bóng cũng điên / Người khùng cái mộng oan khiên cũng khùng… Câu 2 là thơ Bùi Giáng (MẮT BUỒN). Câu 3 và 4 nhắc các tập thơ : NGÀN THU RỚT HỘT, MƯA NGUỒN, ĐÊM NGẮM TRĂNG, LÁ HOA CỒN. Câu 5: Bùi Giáng từng có những sách khảo luận về triết khá nổi tiếng, nhưng thơ ông như được sáng tác bằng máy tính điện tử nhờ phương pháp Monte – Carlo. Để rõ câu cuối, xin trích lời nhà văn Đặng Tiến trong bài Nhớ Bùi Giáng (Hồng Lĩnh xuân 1999) : “Nhà thơ Bùi Giáng ra đi, để lại cho đời những câu thơ vớ-vẩn-thần-sầu”. Xin trích một số câu : Xưa kia tôi đã có lần / Và bây giờ đã có phần tôi quên. Hay : Hỏi rằng người ở quê đâu? / Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà. Hoặc : Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu / Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa. Hay nữa : Nhớ em từ trước đến sau / Từ đầu ríu rít tới đau cuối cùng. Hoặc nữa : Em đi thể diện nhu mì / Mắt ngơ ngẩn ngó, tai tùy nghi nghe…

Bùi Giáng sinh năm 1925 tại quê Quảng Nam, mất năm 1998 tại Sài Gòn.

06

Bùi Hoàng TámĐã từng thịt chó lá mơ
Chống tình lệch nhịp, nuôi thơ, giữ hồn
Vội gì lo giải Quí Đôn
Hãy kiếm xị cồn lưng lửng chiều nay…

» Xem/Đóng đáp án

BÙI HOÀNG TÁM (nhà thơ)
Bùi Hoàng TámBùi Hoàng Tám đã từng mở quán bán thịt chó để ổn định kinh tế đặng có thể yên tâm theo đuổi nàng thơ. Dù ông tỏ ra dứt tình với thơ : Thà rằng thịt chó lá mơ / Còn hơn làm những câu thơ tầm thường, nhưng lúc nào cũng bần thần ngơ ngẩn làm ảnh hưởng đến công việc hàng họ. Vợ ông đã phải bực mình: “Thơ! Thơ với chả thẩn! Có mà dí l… vào thơ!”. Trong một bữa nhậu với bạn bè máu me thơ phú, Bùi Hoàng Tám đã thấm say, trầm ngâm đọc: Vợ tôi nửa dại nửa khôn / Một ngày mấy bận dí l… vào thơ. Một bạn thơ (Xuân Đam?) vừa thông cảm với bạn, vừa chạnh nghĩ cảnh mình liền đọc nối: Vợ tôi dở tỉnh dở mơ / Một ngày mấy bận dí thơ vào l… (Còn vài bạn thơ góp thêm nhiều câu khác, song không tiện chép ra đây). Giải thưởng Lê Quí Đôn là giải thưởng của Hội Văn Nghệ Thái Bình.
Trong bài thơ trên nhắc hai tác phẩm của Bùi Hoàng Tám từng trúng giải thơ Lục Bát báo Giáo Dục và Thời Đại: LỆCH NHỊP: … Éo le chắc lép là Trời / Bắt tôi lệch nhịp với người tôi yêu / Em là sáng, tôi là chiều / Ban trưa ở giữa với nhiều nhớ mong / Biết rồi em sẽ lấy chồng / Tôi về sống nốt cho xong một đời / Thương chồng em, thương vợ tôi / Thương bao đôi lứa trên đời lệch nhau – và bài ANH CÒN LƯNG LỬNG CHIỀU NAY : Nào em – em rót nữa đi / Uống vì còn sống / Uống vì còn say / Nếu không có buổi chiều nay / Thì anh biết buộc chuỗi ngày vào đâu? / Chén này đã đổ sang nhau / Cho kỳ mặt rượu nát nhàu thì thôi / Cho kỳ lẫn lộn buồn vui / Cho câu thấp thoáng – cho lời trăm năm / Cho kỳ bóng nắng sủi tăm / Cho xâm xẩm nhớ – Cho đằm đặm quên / Cho kỳ tốc áo em lên / Ném đời anh xuống cho quên ngọn ngày / Anh còn lưng lửng chiều nay / Và còn lưng lửng chén này / Nào em ! Bùi Hoàng Tám chưa cho in tập thơ riêng nào (dù ông đã cho in báo chí địa phương và trung ương khá nhiều). nhưng chỉ đọc đôi bài của ông ta đã thấy ông quả là thi sĩ.

Bùi Hoàng Tám sinh năm 1958 tại Thái Bình, mấy năm nay ông làm phóng viên “Nhà báo và công luận” ở Hà Nội.

07

Bùi Minh QuốcCầm chùm cúc gọi tên niềm hạnh phúc
Nhớ mắt em…
Nhớ góc vườn hầm mẹ cỏ lên xanh.
Máu thấm đất nuôi ta thành dũng sĩ
Đâu phải chỉ qua nhau đi lướt vô tình!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI MINH QUỐC (Dương Hương Ly – nhà thơ)
Bùi Minh QuốcCâu một nhắc BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC (tưởng nhớ Xuân Quý): …Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ Con sông Giằng gầm réo miên man/ Nước lũ về… Trang giấy nhỏ mưa chan/ Em vẫn viết, lòng dạt dào cảm xúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc/ …/ Trong một góc vườn cháy khét na-pan/ Em sửng sốt gặp một chùm hoa cúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc… Câu 2 nhắc Bài MẮT EM: Lạ kỳ đôi mắt của em / Ngước nhìn như thể mắt chim dịu dàng/ Mà sao trút lửa nồng nàn / Phút đầu tiên ấy bàng hoàng lòng anh/ Ôi em đôi mắt trong lành / Mở cho anh thấy cao xanh tâm hồn/ Như trời xanh nắng tươi non/ Thoáng nhìn nhau đã vẹn tròn tình yêu. Hai câu tiếp nhắc tập MẢNH ĐẤT NUÔI TA THÀNH DŨNG SĨ (Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam). Câu cuối nhắc bài CÓ KHI NÀO… được nhiều người thuộc: Có khi nào trên đường đời tấp nập/ Ta vô tình đã đi lướt qua nhau/ Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất/ Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu?…

Bùi Minh Quốc sinh năm 1940 tại Hà Tây, hiện sống ở Đà Lạt.

08

Bút NgữQuê ta nước úng, nước cường
Đêm về sáng, thức bên giường, lo mưa…
Thời loạn lạc đã qua chưa?
Vẫn còn đây: pháo đài xưa Đồng Bằng

» Xem/Đóng đáp án

BÚT NGỮ (nhà văn)
Bút NgữTrong bài nhắc các tác phẩm chính trong rất nhiều tác phẩm của Bút Ngữ: BÊN ĐỒNG NƯỚC ÚNG (tập truyện), ĐÊM VỀ SÁNG (tiểu thuyết), NHỮNG NGÀY NƯỚC CƯỜNG (tập truyện), NHỮNG THỜI LOẠN (tiểu thuyết lịch sử ) và PHÁO ĐÀI ĐỒNG BẰNG. Ngoài thành tựu sáng tạo văn học, Bút Ngữ còn đóng vai trò trụ cột cho việc tổ chức, chăm lo xây dựng nền văn học của tỉnh Thái Bình trong nhiều năm trước đây.

Bút Ngữ tên khai sinh là Phan Đình Khương, sinh năm 1931 tại Vũ Thư, Thái Bình. Hiện ông cư ngụ tại thị xã Thái Bình.

09

Bút TreQuê hương thi sĩ Phú Thò
Chè xanh, cọ biếc, mập to trái chuồi
Lòng còn nhớ mãi cái buôi
Đầu làm phân bắc, chăn nuồi đàn bo
Cu Ba lông mượt giống to
Cách màng văn hóa đất tô lại càng…

» Xem/Đóng đáp án

BÚT TRE (nhà thơ)
Bút TreTrong bài nhắc một số tập thơ của Bút Tre: RỪNG CỌ ĐỒI CHÈ, QUÊ HƯƠNG PHÚ THỌ, PHÚ THỌ LỚN LÊN, MỘT NGÀY CỦA PHÚ THỌ. Các từ trái chuồi, cái buôi, phân bắc, chăn nuôi, cách màng, văn hóa, lại càng… là muốn nhắc các câu thơ “Bút Tre” được lưu truyền trong dân gian: Liên hoan có một trái chuồi/ Ra về nhớ mãi cái buôi hôm này; Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh/ Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng; Chăn nuôi mấy cậu gầy nhom / Làm đàn heo nái xòn xòn đẻ sai; Chú đi công tác bảo tàng/ Cũng là công việc cách màng giao cho; Bây giờ đang đứng trưởng ty/ Bút Tre thơ phú tôi thì có sau/ Cuối cùng xin nhắc một câu/ Văn hóa quần chúng là đầu chúng ta!; Những con đường rộng thênh thang/ Thái Nguyên Yên Bái lại càng Lào Cai.

Trong tập Chân dung nhà văn (hý họa) này chúng tôi đưa Bút Tre vào vì cuốn sách ít nhiều có tính giải trí. Tuy nhiên cũng muốn qua đây, một lần nữa làm rõ “hiện tượng thơ Bút Tre” này.

Bút Tre tên khai sinh là Đặng Văn Đăng sinh 23/8/1911 tại Đồng Lương, Sông Thao, Vĩnh Phú, mất ngày 18/5/1987. Ông nguyên là trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú, một cán bộ có tâm huyết, có kiến thức rộng, sống thanh bạch, lạc quan. Ông sáng tác nhiều thơ ký là Bút Tre. Thơ ông là thơ trữ tình, thơ chính luận, thơ thời sự để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Hoàn toàn không có ý biếm hài. Nhưng khả năng làm thơ quá kém nên trở nên dớ dẩn và buồn cười. Cụm từ “Thơ Bút Tre” đã được dùng thay cho cụm từ “Thơ con cóc” để chỉ sự dở của thơ. Đọc thơ ai, thấy dở, trước kia người ta thốt lên: “Thơ con cóc!” thì bây giờ người ta kêu là “Thơ Bút Tre!”. Lúc đầu người ta tìm các câu thơ dở của ông, “nhuận sắc” cho dớ dẩn hơn, tục tĩu hơn và bảo là thơ của ông. Sau dần người ta tạo ra thơ mới, lấy cái dớ dẩn nực cười làm “mục tiêu sáng tạo” và gọi luôn đó là “Thơ Bút Tre”. “Nghệ thuật thơ Bút Tre” chủ yếu là ở 3 điểm: 1. đặt sai ngữ pháp; 2. do bí vần hay thanh bằng trắc mà đánh dấu “huyền”, “hỏi”, “sắc”, “nặng”, “ngã” tùy tiện; 3. do số từ trong câu đã quy định (chủ yếu là trên 6 dưới 8 của thể Lục-bát) mà ngắt xuống dòng vô lối, bẻ gẫy một từ thành nửa trên nửa dưới. Trong khi áp dụng 3 “thủ pháp” trên cố gắng tạo ra hoặc hướng người đọc nghĩ tới các từ tục tĩu để gây cười.

Bút Tre Đặng Văn Đăng hoàn toàn không có ý thức khơi nguồn một dòng thơ nào cả. Thơ Bút tre nói như Nguyễn Văn Toại là cái họa (chứ không phải cái phúc) của một đời cầm bút. Các câu như: Anh đi công tác Pờ lây/ cu dài dằng dặc biết ngày nào ra; Chị em phụ nữ đánh cầu / Lông bay vun vút trên đầu anh em; Không đi không biết Cửa Lò/ Đi về mới biết nó to hơn cửa mình… đều do “dân gian… lận” đặt ra. Có bài lần trước nghe: Không đi không biết Tam Đao/ Đi thì chẳng biết nơi nào mà ngu/ Một giường nhốt những hai cu/ Sướng khô đành chịu đến chu nhật về. Lần sau nghe đọc lại thì câu cuối đã đổi thành: Gối không đủ gối lấy mu gối đầu.

Hiện tượng Thơ Bút Tre là hiện tượng vô hại. Nó góp một tiếng cười vui mà cả từ người làm nghề văn chương nghệ thuật đến người xa lạ với nghề văn cũng thấy vui thú nên chắc chắn còn được duy trì và phát triển.

10

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Đù mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT (nhà thơ)
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH: Sáng lên Hoành Sơn trông/ Chiều xuống Bàn Thạch tắm/ Nhặt hòn đá hai nơi/ Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3, 4 nhắc thơ Cao Bá Quát: Thập tải giao luân cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” ( người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời.Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

11

Cao Xuân SơnHắn từng là chiếc ghế gẫy
Đặt chỗ nào nhìn cũng nghiêng
Từng tiễn Kinh Kha xuất ngọai
Không thích – khách đâu, thích tiền!Mới vừa qua đêm giã biệt
Cánh cửa hắn đã khép hờ
Hắn gióng hồi chuông… xỏ lá
Coi chừng! Các bé ngây thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Đùa với CAO XUÂN SƠN (nhà thơ)
Cao Xuân SơnHai câu đầu nhắc bài THƠ VUI GIỮA CHUỖI NGÀY BUỒN với khổ kết Chẳng bù cho những lúc/ Hét vợ con… như điên/ Giờ như chiếc ghế gẫy/ Đặt đâu nhìn cũng nghiêng!. Hai câu tiếp nhắc bài TIỄN EM TRAI ĐI HÀN QUỐC (…Con thơ, vợ dại thương suông, ích gì/ Áo cơm nặng lắm đi đi/ Cái ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời?/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha). Bốn câu cuối nhắc tên ba tập thơ của Cao Xuân Sơn: ĐÊM GIÃ BIỆT (Rụng xuống trái còn xanh/ là tại trời bão nổi/ Chiếc lá vàng lìa cành/ là mùa thu có lỗi / / Sông cạn dòng nước chảy / tại đất nhiều bể dâu/ Trăng khuyết vẹt đỉnh đầu/ tại trời đêm nguyệt thực/ / Tất cả đều hiểu được/ duy chỉ một điều này/ sao không là ai khác/ mà em – vừa chia tay?), CÁNH CỬA KHÉP HỜ (Anh khép hờ cánh cửa phòng anh/ có thể gió bất ngờ đưa hương tới…) và CHUÔNG LÁ (Không gió không mưa lá chiều cứ rụng/ Giọt giọt chuông/ buông/ sầm sậm mặt ngày…)

Cao Xuân Sơn sinh năm 1961 tại Hà Nam, hiện công tác tại chi nhánh NXB. Kim Đồng tại TP. Hồ Chí Minh.

12

Chế Lan ViênHỡi những ma Hời trong đêm sờ soạng
Giữa điêu tàn ta dựng nguy nga
Ta là tháp Bay-on bốn mặt
Ta làm ra ánh sáng phù saTừ rối cạn đổi đời làm… rối nước!
Trên đá trồng hoa, trên dây làm xiếc
Dẫu Châu – Thành là chuyện trời ơi
Ta cũng đã đẻ ra đàn tuấn mã cho đời!

» Xem/Đóng đáp án

CHẾ LAN VIÊN (nhà thơ)
Chế Lan ViênHai câu đầu nhắc tập thơ ĐIÊU TÀN vừa ra đời đã làm rạng tên tuổi tác giả. Cảnh ma sờ soạng, máu chảy xương rơi, sọ dừa lăn lóc… có tần suất xuất hiện rất cao trong tập thơ này. Câu 3 nhắc bài THÁP BAY-ON BỐN MẶT: Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình. Câu 4 nhắc tập ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA tập thơ từng làm chấn động văn đàn. Những câu thơ không có ý học mà thuộc thường là ở tập này như Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn hay Xa mẹ mười năm đi khắp nước/ Trăm quê chưa dễ thực quê nhà/ Sáng nay mới thực về quê nhỉ: Bóng mẹ già ai giống mẹ ta. Câu thứ 5 nhắc bài RỐI CẠN VÀ RỐI NƯỚC: Anh đẽo tâm hồn anh thành con rối để yêu em/ Anh hóa gỗ, hóa dây hóa dại khờ ngũ sắc/ Tuồng tích ấy chú rối mình đủ khóc/ Cần chi bàn tay nào đến giật dây thêm/ * / Anh rối nước muốn lên bờ thành rối cạn/ Em đi xa ao thương nhớ hóa đầy/ Anh đứng giữa lệ mình trơ không dám khóc/ Vui nỗi gì khán giả vỗ ran tay. Câu 6 nhắc tập HOA TRÊN ĐÁ và bài XIẾC (2): Anh lên cao chả có dây an toàn nào thắt ở sau lưng/ Trừ em ra – -đóa hồng trên mặt đất-/ Chỉ lơ đễnh buông tay là đi đứt/ Lên cao làm chi? Là để hái cành hồng. Ở đây cũng muốn nói tài thơ, tài sử dụng ngôn từ của Chế Lan Viên cũng giống như nhà ảo thuật làm xiếc vậy. Hai câu cuối nhắc bài ANH NHƯ NGƯỜI NGHE CÓ CHÂU THÀNH XA: Anh như người nghe có châu thành xa liền đẻ ra giống ngựa để đi tìm/ Đến nơi chả có châu thành nào cả/ Nhưng đã đẻ ra giống ngựa/ Toàn tuấn mã/ Mà nếu đem châu thành ra trả giá/ Có người yêu ngựa sẵn sàng đem.

Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Quảng Trị, mất năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

13

Chim TrắngTên anh dí dỏm vô cùng
Đồng bằng, miền núi khắp vùng yêu thương
Ngoại ơi, một góc quê hương
Tình yêu gọi, những ngả đường hướng theo!

» Xem/Đóng đáp án

CHIM TRẮNG (nhà thơ)
Chim TrắngCâu 1 nhắc tập thơ TÊN EM RỰC RỠ VÔ CÙNG. Chúng tôi sửa chữ em thành chữ anh vì “Chim Trắng” cũng rực rỡ lắm chứ! Nó là biểu tượng của Hòa Bình, ai chả yêu! Câu 2 nhắc tập thơ ĐỒNG BẰNG TÌNH YÊU. Câu 3 nhắc tập MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG (Bơi ngược dòng sông tìm lại một bến đò/ Tìm lại một cuộc đời có đời tôi trong đó/ Hơi bàn tay ấm đưa ra, đêm đen không nhìn thấy/ Gió chướng rong thơm giữa chiến trường…) và bài thơ HOA CAU QUÊ NGOẠI: Mẹ lấy chồng xa/ Lâu lâu mới dẫn con về quê ngoại/ Chưa bước vào nhà/ Đã thấy đầy sân hoa trắng rụng/ Hương cau thoang thoảng/ Thơm như là tuổi thơ/ …/ Thương ngoại nên thương luôn hàng cau/ Thương cả dây trầu mẹ tưới, mẹ vun/ Thương con nước lớn đầy sông/ Chở hoa cau trắng xuôi dòng. Về đâu?/ Thương sao câu hát ngọt ngào/ Giữa trưa bỏm bẻm nhai trầu mẹ ru… Câu cuối nhắc tên hai tập thơ KHI TÌNH YÊU LÊN TIẾNG và NHỮNG NGẢ ĐƯỜNG.

Tên khai sinh của nhà thơ là Hồ Văn Ba sinh năm 1938 tại Bến Tre. Hiện ông là Tổng biên tập báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

14

Chu VănTrâu bạc: ngòi bút tớ cầy!
Đã qua bão biển, đường lầy chẳng thua!
Vốn dân đất mặn đồng chua
Văn hay chữ tốt, từng “vua” xứ người!

» Xem/Đóng đáp án

CHU VĂN (nhà văn)
Chu VănTrong bài nhắc một số tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi Chu Văn: CON TRÂU BẠC, BÃO BIỂN, CON ĐƯỜNG LẦY, ĐẤT MẶN. Câu đầu lấy ý từ câu đố dân gian về ngòi bút: Không phải bò/ chẳng phải trâu/ Uống nước ao sâu/ Lên cày ruộng cạn. Hai câu cuối: Nhà văn Chu Văn vốn quê Thái Bình (xứ  đồng chua nước mặn) và ông đã từng là chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà-Nam-Ninh. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Chữ.

Chu Văn sinh năm 1922 tại Đông Hưng Thái Bình, mất năm 1994 tại Hà Nội.

Chia sẻ bài này:

Leave a Reply

Be the First to Comment!

Notify of
avatar
wpDiscuz