Câu đố về danh nhân lịch sử (sáng tác, 21 câu)

1

Kiếm gãy, nhổ tre làm vũ khí
Dấu chân ngựa để những hồ ao
Lên ba dẹp giặc lo còn trễ
Bay chín tầng mây hận chửa cao!

» Xem/Đóng đáp án

THÁNH GIÓNG
Hai câu ba và bốn là dịch thơ Cao Bá Quát : “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn / Đằng vân do hận cửu thiên đê”

2

Tên đẹp – hoa sen đẹp
Đức hiền – hạt gạo hiền
Người cha – đôi mắt mẹ
Tóc trắng – tóc ông tiên

» Xem/Đóng đáp án

Phác họa BÁC HỒ
Câu đầu nhắc thơ Bảo Định Giang : “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Câu hai nhắc thơ Xuân Diệu :“Bác hiền như hạt gạo thôi / Chí no thiên hạ, tình nuôi đồng bào”. Câu ba nhắc thơ Tố Hữu : “Ôi người cha đôi mắt mẹ, hiền sao!”. Câu bốn nhắc thơ Phạm Tiến Duật viết khi Bác đi xa:”Bác là ông tiên tóc trắng / Mặt trời lặn, mặt trời mang theo nắng / Bác ra đi, để ánh sáng cho đời…”

3

“Tam tộc tru di”, máu đỏ làng
Bình Ngô muôn thuở giọng còn vang
Hỡi ơi Thị Lộ – gương tầy… chiếu
Tài sắc mà chi để lụy chàng.

» Xem/Đóng đáp án

Vài nét NGUYỄN TRÃI
Câu 1 nhắc vụ án “Lệ Chi Viên” về cái chết của vua Lê Thái Tôn dẫn đến thảm họa cho Nguyễn Trãi. Câu 2 nhắc ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ cũng là nhắc đến tài đức và công lao của Nguyễn Trãi đối với dân tộc và triều đình nhà Lê. Ở câu 3 “gương tầy chiếu” là sửa lại thành ngữ “gương tầy liếp” nghĩa là gương lớn. Gương ở đây là muốn nói đến gương “tài mệnh tương phương” tức là tài và mệnh làm hại lẫn nhau, thường xảy ra trong chế đệ phong kiến cũ. Chữ “chiếu” là muốn nhắc đến giai thoại làm quen nhau của Nguyễn Trãi và Thị Lộ : Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cả câu 3 lẫn câu 4 muốn nhắc đến cái chết của vua Thái Tôn ắt hẳn có nguyên nhân (hay nguyên cớ) từ tài sắc của Thị Lộ. Và vì cái chết đó mà triều đình dàn cảnh hãm hại Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê Hà Đông, mất năm 1442.

4

Năm trăm năm. Hỏi đã là lâu?
Mây trắng. Kìa ai tóc trắng đầu
Thơ phú tiên tri – lời sấm trạng
Văn chương giáo huấn lẽ nông sâu…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên hiệu là BẠCH VÂN cư sĩ. Ông sinh năm 1491, quê Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên (1535). Ông được vua Mạc Phúc Hải phong tước Trình Truyền Hầu (1544) (ý so sánh với anh em Trình Di, Trình Hạo ở Trung Quốc giỏi lý số) rồi sau lại phong Trình Quốc Công nên người ta gọi ông là Trạng Trình. Ông có nhiều câu thơ tiên đoán được sự biến động của các triều đại nên sau người đời hay gọi các câu thơ đó là “sấm Trạng Trình”. Ông có để lại cuốn BẠCH VÂN THI TẬP gồm khoảng 100 bài thơ Nôm và khoảng 100 bài thơ chữ Hán. Thơ ông nặng tính giáo huấn nói về nhân tình thế thái (Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến / Gang không mật mỡ kiến bò chi…), đọc xong ta có thể bắt chước cụ Yên Đổ mà thốt lên : “Lạ nhỉ, người xưa cũng thế ư!”. Sau đây xin chép ba bài thơ “không đề” của ông để làm rõ “xuất xứ” các câu thơ của bài “thơ chân dung” này.
Bài 1 : Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dù ai vui thú nào / Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao / Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao / Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.
Bài 2 : Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt cay chua lẫn ngọt bùi / Còn bạc còn tiền còn đệ tử / Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi / Xưa nay đều trọng người chân thực / Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi / Ở thế mới hay nguời bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
Bài 3 : Làm nguời có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn / Khôn được ích mình, đừng rẻ dại / Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn / Khôn mà hiểm độc là khôn dại / Dại vốn hiền lành ấy dại khôn / Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại / Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585.

5

Thương đều thập loại chúng sinh
Đầm đìa dòng lệ chảy quanh thân Kiều
Chữ TÂM vằng vặc gương treo
Sầu tuôn đứt nối còn nhiều trăm năm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DU
Câu đầu nhắc VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du. Câu hai nhắc câu thơ của Tố Hữu : Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều có thể xem là câu thơ thuộc loại hay nhất viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Câu thứ ba nhắc câu Kiều : Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài đồng thời cũng muốn nói chính Nguyễn Du là tấm gương sáng về chữ TÂM. Câu cuối muốn nhắc câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Xuân Diệu dịch : Ba trăm năm nữa mơ màng / Thế gian ai đó khóc chàng Tố Như ). Có lẽ còn nhiều (chứ không phải chỉ ba) trăm năm nữa vẫn còn nhiều người thương khóc Nguyễn Du. Sầu tuôn đứt nối là chữ của Nguyễn Du tả Thúy Kiều thương khóc Đạm Tiên : Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Nguyễn Du (tên hiệu là Tố Như ) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm 1765 mất năm 1820. Sự nghiệp văn chương chủ yếu dành cho thơ chữ Hán, Truyện Kiều không phải là phần tinh túy nhất của thiên tài Nguyễn Du nhưng vì viết bằng chữ Nôm nên được phổ biến rộng sâu hơn.

6

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Cha mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH : Sáng lên Hoành Sơn trông / Chiều xuống Bàn Thạch tắm / Nhặt hòn đá hai nơi / Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3,4 nhắc thơ Cao Bá Quát : Thập tải giao luân cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” (người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp / Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời. Và Một chiếc cùm lim chân có đế / Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh, Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

7

Mắt lòa, lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Câu 1 nói Nguyễn Đình Chiểu là người anh minh sáng suốt, tuy bị mù lòa, nhưng ông luôn nhìn rõ mọi lẽ phải trái; phân biệt kẻ xấu người tốt, không vì một lợi ích cá nhân nào làm lu mờ được đức trung thực, lòng yêu nước thương dân của ông. Câu 2 và 3 nhắc hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, tuyên ngôn về quan niệm sáng tác văn học của ông : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu cuối là nguyên văn câu thơ nổi tiếng của ông nói về lẽ ghét thương : Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre, sinh năm 1822, mất năm 1888.

8

Trong lồng sáo hót
Cần trúc trên vai
Mũ nồi đội lệch
Liên lạc rất tài
Giờ về làm sách
Cho thiếu nhi coi

» Xem/Đóng đáp án

KIM ĐỒNG
Bốn câu đầu nhắc lại hình ảnh Kim Đồng (Nông Văn Dền) đi làm liên lạc trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua các truyện kể và phim ảnh về anh. Câu cuối nhắc tên nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bản lớn nhất nước chuyên xuất bản sách cho thiếu nhi.

9

Bồn chồn nghe sấm, nhớ mưa
Nghe gà gáy, nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ đất, hiến thân
Tên anh – dáng đứng mùa xuân, con đường.

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ANH XUÂN
Câu đầu nhắc bài thơ NHỚ MƯA QUÊ HƯƠNG – Giải thưởng báo Văn Nghệ 1961, trong đó có câu Ôi, tiếng sấm từ xa đang rền vang rộn rã cũng là tiếng súng, tiếng trống trận ở Miền Nam thôi thúc nhà thơ. Từ “bồn chồn” cũng muốn nhắc câu thơ Lê Anh Xuân viết về Sài Gòn thời chiến tranh : Cái quầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về!. TIẾNG GÀ GÁY báo hiệu bình minh cách mạng giải phóng và HOA DỪA là tên các tập thơ của Lê Anh Xuân. GIỮ ĐẤT là tên tập văn xuôi của Lê Anh Xuân viết ở chiến trường Miền Nam. Tên thật của tác giả là Ca Lê Hiến (quê ông ở Bến Tre) khi về chiến đấu ở Miền Nam, ông lấy bút danh Lê Anh Xuân và đã hy sinh. Ở TPHCM, hiện có đường Lê Anh Xuân, một con đường nhỏ nhưng đẹp, ngay trung tâm quận I. Chữ “dáng đứng” cũng muốn nhắc bài thơ DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM của Lê Anh Xuân : Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng anh gượng đứng lên, tỳ súng trên xác trực thăng / và anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng / Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng / Có thằng sụp xuống chân anh lánh đạn / Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm / Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công /…/ Vẫn đứng lên im như bức thành đồng / Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Lê Anh Xuân sinh năm 1940 tại Bến Tre. Hy sinh năm 1968 tại Long An ven Sài Gòn./toggle]

[tabby title="10"]Bỏ kiếp sống mòn, nửa đêm vào rừng kháng chiến
Những cánh hoa tàn nở thắm lại theo
Đôi mắt ngạo cười Lý Cường, Bá Kiến
Bát cháo hành thơm tình Thị Nở-Chí Phèo[toggle]NAM CAO
Câu 1 nhắc 3 tác phẩm : SỐNG MÒN (tiểu thuyết); NỬA ĐÊM (tập truyện), Ở RỪNG (nhật ký). Câu 2 nhắc tập truyện NHỮNG CÁNH HOA TÀN; Câu 3 nhắc tập truyện ĐÔI MẮT và tập truyện CƯỜI. Hai câu cuối cùng nhắc tác phẩm CHÍ PHÈO và một số chi tiết của truyện.
Nam Cao có tên khai sinh là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 ở làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân Nam Hà; hy sinh năm 1951 tại Ninh Bình.

11

Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Chẳng chia ly cùng bạn đọc bao giờ
Con đuờng ấy nắng ngân vang ngàn chuông nhỏ
Xanh mơ màng đẹp mãi giấc anh mơ.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN MỸ
Câu 1, 2 nhắc bài thơ CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ (chép ở sau). Bài thơ ấy cũng như tên tuổi của tác giả không bao giờ “chia ly” với bạn yêu thơ. Câu 3 nhắc bài CON ĐƯỜNG ẤY : Con đường nhỏ / Đi giữa hai hàng cây / Cái con đường ấy mình đầy bóng râm / Con hươu sao đã ruỗi nằm / Để nghe những tiếng thì thầm ở trên / Đôi bên là nắng / Thu đã đượm vàng / Nắng bay từng giọt / Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông…Câu cuối nhắc bài GIẤC MƠ XANH : …Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi / Là Ô Loan, đầm Mẹ sáng ngời / Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi / Nâng dải mơ lên tới đỉnh trời.

Bây giờ xin chép bài CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ : Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng / Trưa một ngày sắp ngả sang Đông / Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ / Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ / Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa / Chồng của cô sắp sửa đi xa / Cùng đi với nhiều đồng chí nữa / Chiếc áo đỏ rực như than lửa / Cháy không nguôi trước cảnh chia ly / Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia / Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy / Không che được nước mắt cô đã chảy / Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời / Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi / Và rạng đông đã bừng trên nét mặt / Một rạng đông với màu hồng ngọc / Cây si xanh gọi họ đến ngồi / Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai / Ngày mai sẽ là ngày xum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi / Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế / Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ / Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào / “Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” / Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy / Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi / Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người / Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp / Một làng xa giữa đêm giá rét… / Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi / Như không hề có cuộc chia ly.

Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 ở Tuy An, Phú Yên, hy sinh năm 1971 ở Trà My, Quảng Nam

12

Anh là ai? Một sinh viên
Tên anh niềm ước bình yên quê nhà
Nghĩa đời đâu chỉ đô la
Trái bom đánh giặc chính là trái tim.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THÁI BÌNH
Nguyễn Thái Bình còn có tên là Việt Thái Bình, một sinh viên xuất sắc của Miền Nam du học ở Mỹ trong những năm giặc Mỹ đánh phá đất nước ta. Trong thời gian học tại Mỹ, Nguyễn Thái Bình là một sinh viên đấu tranh tích cực chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã gạt bỏ mọi danh vọng tiền tài mà kẻ thù đưa ra mua chuộc, để chống lại kẻ thù của dân tộc ngay trên đất nước chúng. Anh bị đưa về giết hại ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 2 tháng 7 năm 1972. Trong bức thư ngỏ gửi nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, có đoạn anh viết: “Trái bom của tôi chỉ là trái tim của tôi. Nó có thể nổ tung để thức tỉnh lương tâm của mọi người…”

13

Thanh hỏi, thanh ngã, thanh không
Thanh nào cũng một tấm lòng vì dân
Phút thiêng gọi Bác ba lần
Gửi tên làm nhịp cầu xuân vĩnh hằng

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VĂN TRỖI
Tin anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường được truyền ra Bắc bằng vô tuyến nên ít nhiều bị nhiễu. Hơn nữa, tiếng Miền Nam đôi khi không phân biệt dấu hỏi với dấu ngã khi phát âm, nên tên anh được báo chí đăng khác nhau : Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Trôi. Sau này, bộ Văn hóa đã có quy định bằng văn bản là tất cả các sáng tác dù dùng tên gì vẫn có giá trị. Câu thứ ba muốn nhắc bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu :”Hồ Chí Minh muôn năm / Hồ chí Minh muôn năm / Hồ Chí Minh muôn năm /Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần!” Câu bốn nhắc “cầu Công Lý” đã được đổi tên là cầu Nguyễn Văn Trỗi.Và cũng muốn nhắc câu thơ Tố Hữu: “Anh đã chết rồi / Anh còn sống mãi / Chết như sống, anh hùng, vĩ đại”

14

Quan văn không phạm hơi đồng
Một cây quốc trụ vàng ròng mười mươi!

» Xem/Đóng đáp án

Cố Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG
Câu đầu nhắc đôi câu đối lưu truyền trong dân gian: “Ba mươi năm kháng chiến cầm quân, mừng tướng Võ vẫn Nguyên áo Giáp / Cả một đời lo toan việc nước, phục quan Văn không Phạm hơi Đồng”. Câu hai nhắc một giai thoại : Hồi ở chiến khu Việt Bắc, Quanh bàn làm việc của Bác ở nhà sàn có bốn cột, ở đó treo bốn ống bương. Bác gửi công văn cho các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh (Quân, Dân, Chính, Đảng) và Bác nói vui: Đó là tứ trụ của Bác.

15

Chiến sĩ Việt Nam tiến về Hà Nội
Buồn tàn thu gửi lại Suối Mơ
Cứ ngỡ Thiên Thai mà làng tôi đó
Tiến quân ca tôi hát giữa ngày mùa

» Xem/Đóng đáp án

VĂN CAO
CHIẾN SĨ VIỆT NAM, TIẾN VỀ HÀ NỘI, BUỒN TÀN THU, SUỐI MƠ, THIÊN THAI, LÀNG TÔI, TIẾN QUÂN CA, NGÀY MÙA là các ca khúc tiêu biểu của Văn Cao được nhắc đến trong bài.
Văn Cao họ Nguyễn. Ông sinh năm 1923 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định, mất năm 1995 tại Hà Nội.

16

Tướng Võ có tên Văn
Từng tam khí Đờ lát
Lừng lẫy trận chín năm
Vẫn lành nguyên áo giáp.

» Xem/Đóng đáp án

VÕ NGUYÊN GIÁP
Câu đầu nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp có biệt danh là “Văn”. Câu hai nhắc bài thơ TAM KHÍ ĐỜLÁT- ĐỜTÁTXINHI của Tú Mỡ: “Tướng giặc tên Đờlát / Họ Đờtátxinhi / Vùa chết bệnh não gì? / Chẳng qua vì ức đó /…/ Chẳng hay trước khi chết / Tướng có kêu sầu bi / Trời sinh Tátxinhi /Sao sinh Võ Nguyên Giáp!” Câu ba nhắc cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy về quân sự, thơ Tố Hữu : “Chín năm làm một Điện Biên / Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Câu cuối là nhắc tên Đại tướng.

17

Du kích Sông Thao hát bài ca du kích
Hành quân xa vì chiến thắng Điện Biên
Vui mở đường, ta lại vào chiến dịch
Cho Việt Nam –Quê hương tôi thống nhất hai miền.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ NHUẬN
Trong bài nhắc tên các ca khúc của Đỗ Nhuận rất quen biết với nhiều người: Du kích sông Thao, Bài ca du kích, Hành quân xa, Chiến thắng Điện Biên, Vui mở đường và Việt Nam quê hương tôi. Đỗ Nhuận sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (đã mất).

18

Lên ngàn mát lá xanh che
Có anh chiến sỹ lắng nghe nhạc rừng
Giữa vui lòng bỗng rưng rưng
Nghe giông bão nổi giữa chừng bài ca

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG VIỆT
Hai câu đầu nhắc các nhạc phẩm: Lên ngàn, Lá xanh, Nhạc rừng. Hai câu thơ cuối nhắc nhạc phẩm:Tình ca (…Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu quê xa / Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba…). Câu này cũng muốn nói Hoàng Việt đã hy sinh đúng lúc tài năng đang độ chín gây nhiều thương tiếc cho người thân và người yêu nhạc. Hoàng Việt sinh năm 1928 tại Tiền Giang. Hy sinh ở chiến trường miền Nam năm 1967 (tên khai sinh là Lê Chí Trực)

19

Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Lên đàng hay xuống đường cũng vì giải phóng miền Nam
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch quân cướp nước
Phía chân trời bình minh reo vang

» Xem/Đóng đáp án

LƯU HỮU PHƯỚC
Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Xuống đường, Giải phóng miền Nam, Tiến về Sài Gòn, Bình minh reo vang là các nhạc phẩm nổi tiếng của Lưu Hữu Phước. Ông còn có các bút danh khác như Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Hồng Chí … Là một nhạc sỹ hàng đầu về thể loại hành khúc của Việt Nam. Sinh năm 1921 tại Cần Thơ (đã mất)

20

Huyền thoại mẹ hát bên đèn
Mưa rơi rơi, dáng mẹ hiền nghiêng che
Trái tim lớp lớp người nghe
Mãi còn một cõi đi về thong dong
Tay trong tay nối lớn vòng…

» Xem/Đóng đáp án

TRỊNH CÔNG SƠN
Hai câu thơ đầu nhắc một bài hát nổi tiếng của Trịnh Công Sơn là Huyền thoại mẹ và một vài chi tiết về lời ca. Hai câu tiếp được các bạn dự thi giải thích theo hai hướng :1. Những bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Một cõi đi về, sẽ mãi mãi còn sống trong trái tim những người yêu nhạc của ông. 2. Trịnh Công Sơn sẽ còn được bạn yêu nhạc nhớ mãi và trái tim họ chính là cõi đi về của ông. Câu cuối nhắc ca khúc Nối vòng tay lớn. Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Đaclak (quê ở Huế), mất năm 2001 tại TP. Hồ Chí Minh.

21

Xuân chiến khu đã đẹp rồi
Xuân thành phố đẹp gấp mười lần hơn
Chim ơi, đừng hót để… hôn!
Hoa xuân mãi mãi sẽ còn hồng tươi.

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN HỒNG
Câu 1 nhắc bài hát Xuân chiến khu, câu 2 nhắc bài hát Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh là mùa xuân đẹp nhất quê mình). Câu 3 nhắc bài hát Mùa xuân bên cửa sổ: Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau / … / Chim ơi đừng bay nhé, hoa ơi hãy tỏa hương / … / Cho đôi bạn trẻ đón xuân về…. Câu cuối muốn nhắc tên nhạc sĩ Xuân Hồng. Tên khai sinh là Nguyễn Xuân Hồng, sinh năm 1928 tại Tây Ninh (đã mất)

Chia sẻ bài này:

Leave a Reply

Be the First to Comment!

Notify of
avatar
wpDiscuz