Câu đố về thiên nhiên – tình cảm (sáng tác, 41 câu) 1/5 (1)

1

Đi là nắng, về là trăng
Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… và thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Ánh mặt trời chiếu thẳng đến ta là ánh nắng. Ánh mặt trời gặp mặt trăng, phản hồi lại ta là ánh trăng. Tất cả: Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… đều do năng lượng ánh sáng mặt trời mà có. Ánh bình minh, ánh hoàng hôn, ánh trăng… là nguồn cảm hứng vô tận của bao thế hệ nhà thơ.

2

Không roi, vách núi phải mòn
Vén mây để lộ khuôn tròn trăng chơi
Reo lên lồng lộng nghĩ, cười
Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

» Xem/Đóng đáp án

Gió
Câu 1 nhắc thơ Hữu Thỉnh Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím. Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Du: Trời còn để có hôm nay / Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời / Hoa tàn mà lại thêm tươi / Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Câu 3 nhắc thơ Trần Mai Ninh : Ơ cái gió Tuy Hòa / Cái gió chuyên cần và phóng túng / Gió đi ngang đi dọc / Gió trẻ lại lừng chừng / Gió nghĩ, gió cười / Gió reo lên lồng lộng (Nhớ máu). Câu cuối nhắc thơ Đặng Nguyệt Anh : Gió từ đâu đến thổi gầy nhành mai / Một đời gió có vì ai / Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

3

Vàng mơ như thể mỡ gà
Nhuộm trăm tờ lá đều ra xanh rờn

» Xem/Đóng đáp án

Ánh nắng
Ánh nắng có màu “vàng mơ”. Lá cây nói chung không có ánh nắng chiếu vào, không thể có màu xanh tươi được.

4

Chang chang nắng hạ đường dài
Mày theo tao, chẳng chịu rời một ly
Tối đèn tắt lửa mày đi
Để tao đơn độc lấy gì làm vui
Thắp đèn cầy, mở sách coi
Ô kìa, mày lại về ngồi bên tao.

» Xem/Đóng đáp án

Cái bóng người
Chỉ cần chú ý thêm hai câu cuối : Thắp đèn dầu hay đèn cầy (nến) thường mới rõ bóng của người. Đèn điện sáng mạnh, tỏa đều nên ít thấy bóng

5

Tôi như đường vàng óng
Tôi như muối trắng tinh
Tôi cùng dã tràng tắm biển
Tôi phiêu lưu, trôi dạt, nổi nênh
Tôi vào chảo giục bắp xòe như hoa nở
Bạn yêu hoa, tôi trong suốt thành bình.

» Xem/Đóng đáp án

Cát
Câu 5 nhắc việc người ta thường hay dùng cát để rang bắp (ngô). Về chi tiết này có câu đố dân gian về “Quân Gia Cát đánh quân Đông Ngô” khá hóm hỉnh. Câu 6 nói thủy tinh được làm từ cát.

6

Chân ở trong nước
Đầu ở ngoài nước
Ngửa mặt lên trời
Xin một điều ước

» Xem/Đóng đáp án

Cầu
Chân cầu ở trong nước, đầu cầu ở trên đường (ngoài nước), mặt cầu ngửa lên trời, “cầu” còn có nghĩa là “ước”.

7

Ve ve thổi lửa đỏ dần
Quạt bàn quay, rủ quạt trần cùng quay
Tiếng ai đập đá luôn tay
Vại bia hơi ngỡ biển đầy sóng xao!

» Xem/Đóng đáp án

Quán cóc hè về
“Lửa” ở câu đầu chính là “Lửa phượng”. Ở câu cuối vì nóng nực nên nhìn vại bia liên hệ ngay đến biển. Bài “Bia việt Nam “ của Xuân Diệu có câu : Một cốc vàng như đồng lúa chín / Bọt trắng phau như đầu sóng biển / Một cốc vàng ánh sáng xuyên qua / Cốc tươi cười ta ca hát chúng ta. Vì là quán cóc trống bên đường nên có sự giao lưu với bên ngoài.

8

Khay bầy, trống đánh hai bên
Thơm bia Thủy Tạ, ngọt kem Bốn Mùa
Cầu cong gợi dáng thuyền vua
Trầm tư bóng tháp nơi rùa đòi gươm

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Gươm
Một bên hồ Gươm là phố Hàng Khay, một bên là Hàng Trống. Bên bờ hồ có nhà hàng Thủy Tạ và hiệu “Kem Bốn Mùa” Cầu ở câu 3 là cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn. Tháp ở câu 4 là Tháp Rùa.

9

Tưởng đâu ở bên Pháp
Về thủ đô thấy liền
Tên em vừa nghe đọc
Ngỡ là để dán tem!
Có ông già cổ lỗ
Gặp em hóa thanh niên.

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Tây
Trước kia ta hay gọi người Pháp là Tây, nước Pháp là nước Tây, ngày nay ta cũng hay nói “các nước phương Tây” Hồ cũng còn là thứ làm từ bột để dán (có bột mới gột nên hồ; thợ may ăn giẻ, thợ mã ăn hồ). Hai câu cuối : Đường Cổ Ngư trước kia nay được cải tạo và đặt tên lại là đường Thanh Niên. Có bạn giải thích đường dành cho đôi lứa tâm tình, người già đến đây với cảnh đẹp của hồ, thấy như trẻ lại, yêu đời hơn. Cũng có lý lắm.

10

Không chạy, không đi, sao vẫn ngã
Có tơ, có lửa, lắm khi đau
Có nhân mà khó nhìn ra quả
Rất khó đo lường rộng, hẹp, sâu.

» Xem/Đóng đáp án

Lòng người
Ở câu 1 từ “ngã lòng” là nói sự nản chí (thối chí) Thơ Vương Bột có câu Chớ để ngã lòng theo đầu bạc Vương Tăng Nhụ cũng viết : Dây đứt còn mong nối lại – Lòng ngã thật khó nỗi cầm. Ở câu 2 : “tơ lòng”, “lửa lòng”, “đau lòng” là nói các trạng thái tình cảm thường được dùng trong thơ : Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng; Sự đời đã tắt lửa lòng / Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi?; Đau lòng kẻ ở người đi / Thân còn chả tiếc, tiếc gì đến duyên! là những câu Kiều khá quen biết. Ở câu 3 : Ở lâu mới biết lòng người có nhân “Nhân” là tính “nhân bản”, “nhân đạo”. Ở đây dùng từ đồng âm khác nghĩa : “nhân” là hạt nhân của trái quả. Câu 4 nhắc câu ca dao Sông sâu còn có kẻ dò / Lòng người nham hiểm ai đo cho tường.

11

Áo lượt quần là đủ vẻ tươi
Mặt sông, hồ, biển thẩy gương soi
Khi như chạy giặc, khi lơ lửng
Nhớ mẹ về thăm, nước mắt rơi.

» Xem/Đóng đáp án

Câu cuối nói về hiện tượng mưa: Mây là nước bốc hơi lên và khi mưa lại trở về với nước.

12

Không trồng, chẳng phải bón chăm
Có mùa thu hoạch hằng năm rành rành
Cây cao, không lá, không cành
Hạt gieo vườn ruộng, mọc xanh lúa mầu

» Xem/Đóng đáp án

Mưa
Phía Nam nước ta mỗi năm chia 2 mùa : “mùa khô” và “mùa mưa”. Câu 3,4 lấy ý từ câu đố dân gian : Cây cao ngàn trượng / hạt nhỏ li ti… Khi mưa xuống, lúa màu đều xanh tốt, hạt nẩy mầm.

13

Mắt vui như thể nắng ngời
Môi vui luôn nở nụ cười như hoa
Tính tình hiền hậu, dịu hòa
Đón chào, cây cỏ mượt mà như tranh
Thích mai, đào, bánh chưng xanh
Thích ăn củ kiệu, củ hành dầm chua…

» Xem/Đóng đáp án

Nàng Xuân
Bài thơ viết theo lối nhân cách hóa. Ta có thể đọc lại như sau : Mắt nàng xuân như nắng ngời / Môi nàng xuân nở nụ cười như hoa / Nàng xuân hiền hậu dịu hòa v.v..

14

Như chiếc gương trong đặt giữa trời
Soi đàn chim lượn, áng mây trôi
Sen soi môi thắm, dừa soi tóc
Trăng ngắm dung nhan, sửa nét cười….

» Xem/Đóng đáp án

Mặt nước trong xanh
Nhà thơ Phạm Hổ có bài thơ Gương : Gương nhỏ trong tay người / Gương lớn để ngoài trời / Cái ao soi sen nở / Cái hồ soi mây trôi. Đặng Hấn, hồi chiến tranh chống Mỹ có bài thơ Cái hố phòng không trên đường Thợ Nhuộm với 2 câu kết : Xưa nay vẫn chuyện bình thường / Ở đâu nước cũng là gương soi trời.

15

Tôi sinh ra đã từ lâu
Giúp người thân ở xa nhau chuyện trò
Tâm tình sâu nặng đừng lo
Tính tôi kín đáo giữ cho vẹn tuyền
Nhưng sao thủ tục đầu tiên
Lôi tôi vào cuộc để phiền danh tôi.

» Xem/Đóng đáp án

Phong bì thư
“Thủ tục đầu tiên” là “tiền đâu?” nói về các hiện tượng tiêu cực “phong bao” làm ảnh hưởng đến nét đẹp tinh thần của phong bì thư.

16

Tên như câu hỏi ở đời
Long lanh gợi nhớ mắt người cách xa
Nở bừng như một bông hoa
Là nhân của trái bao la đen huyền.

» Xem/Đóng đáp án

Sao
“Sao” hay “vì sao” đọc lên nghe như một câu hỏi (Tiếng Anh là “Why?”). Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Bính : Sao Hôm như mắt em hôm ấy / Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu. Bạn Trần Thị Thanh Tĩnh (Hà Tây) còn nhắc lời ca của Phan Huỳnh Điểu : Ngôi sao như mắt em trong những đêm không ngủ, bạn Hoàng Trọng Nghĩa ở Cô Tô còn nhắc lời bài hát : Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài… và giải thích Bác đã đi xa (người cách xa) và chúng ta luôn nhớ Bác…, đều là những ý đáng trân trọng. Câu 3 nói : ta hay hình dung ngôi sao (trên cờ chẳng hạn) gồm 5 cánh như bông hoa nở (bông mai chẳng hạn). Câu 4 nhắc thơ Huy Cận : Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng / Từng cặp nhân vàng trong trái đêm.

17

Ngâm : gầy trắng, muối : mập hồng
Đây mơ máy lạnh, đấy trong bông gòn
Đấy vuông, đây tựa ống tròn
Đây vàng tươi, đấy đỏ son khoe màu
Từng mê một thứ giống nhau
Vì quên điều độ nên sau không còn.

» Xem/Đóng đáp án

Hai miền đón Tết
Vào dịp Tết, ở miền Bắc hay muối củ hành (có dáng mập, thường có màu hồng) hay gói bánh chưng (có hình vuông) hay chưng hoa đào (có màu đỏ). Ở miền Nam thường ngâm củ kiệu (dáng gầy, màu trắng) hay gói bánh tét (có hình ống tròn) hay chưng hoa mai (có màu vàng). Ở miền Bắc trời rét phải đắp chăn bông, còn ở miền Nam trời nóng thích nằm máy lạnh. Trước kia, cả hai miền cùng thích đốt pháo, nhưng vì việc này gây nhiều tác hại, nên sau này đều bỏ hẳn.

18

Người bảo màu tím
Người nói trắng phau
Tôi hàn gắn vết tim đau
Điều chưa rõ, tôi sẵn câu trả lời
Nhiều người chỉ tranh thủ thôi
Nhiều người thực bụng quý tôi hơn vàng
Vậy mà trên khắp thế gian
Bao nơi tôi bị giết oan vô tình.

» Xem/Đóng đáp án

Thời gian
Câu đầu nhắc thơ Đoàn Phú Tứ : Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngát. Câu thứ hai nhắc hai câu thơ Đoàn Văn Cừ : Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ / Nước thời gian gội tóc trắng phau phau trong bài Chợ Tết. Câu thứ ba nhắc một danh ngôn đại ý : Thời gian là liều thuốc tốt nhất để chữa lành mọi vết thương lòng. Câu thứ tư nhắc : Thời gian sẽ trả lời, thời gian sẽ chỉ rõ hết mọi điều đúng sai, phải trái. Các câu tiếp theo nhắc : Tranh thủ thời gian, Thời gian quí hơn vàng bạc, Đừng lãng phí thời gian, Đừng giết thời gian bằng những việc vô nghĩa v.v…

19

Sen tàn, cúc thắm, trời hanh
Nhẹ rơi chiếc lá nửa xanh, nửa vàng
Bay từng giọt, nắng ngân vang
Thoảng thơm hương cốm trong làn heo may

» Xem/Đóng đáp án

Chớm thu
Câu đầu gợi nhớ câu Sen tàn cúc lại nở hoa để tả hè đã sang thu (Kiều). Câu 2 nhắc thơ Thanh Tùng : Một mặt lá mùa hè còn níu ở / Mặt kia thoáng đã thu rồi… Câu 3 nhắc thơ Nguyễn Mỹ : Nắng bay từng giọt – nắng ngân vang / ở trong nắng có một ngàn cái chuông. Ở câu 4 heo may và cốm được nhắc nhiều trong thơ về mùa thu. Ví như Thu ở nghìn thu tà áo trắng / Em ngồi chia nắng với heo may (Lương Hữu) hay Gửi đi một chút heo may / Để bên ấy biết bên này thu sang (Đặng Nguyệt Anh) hay nữa Sợi rơm vàng buộc gió / Cả sóng sánh sen hồ / Nắng đa tình Bến Nghé / Phải lòng hương cốm thu (Nguyễn Vũ Tiềm)

20

Cho ăn no thì chết
Càng đói càng khỏe ra
Cứ uống xong lại khát
Chợt gần rồi chợt xa
Con dao rỉ và mẻ
Không cắt nghĩa được mà!

» Xem/Đóng đáp án

Tình yêu
Câu đầu nhắc một danh ngôn phương Tây : Tình yêu là một con quái vật không cho ăn thì khỏe, cho ăn no thì chết (A.De-Musset). Câu 3 nhắc thơ Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình / Gặp rồi lại nhớ là mình của ta. Câu 4 nhắc thơ Lê Thị Kim : Tình yêu không là gió / Chợt gần rồi chợt xa / Tình yêu không là cỏ / Mọc lan man thềm nhà. Câu thứ 5 nhắc thơ Hoài Anh : Tình yêu như con dao / Để thì rỉ / Chặt thì mẻ / Em tính sao? Câu cuối nhắc thơ Xuân Diệu : Làm sao cắt nghĩa được tình yêu.

21

Khi tưởng nơi để ở
Lúc ngỡ là chính ta
Cơm sôi thì bớt lửa
Nồng – nhạt có sao mà
Như hom nằm trong giỏ
Cua ếch làm sao ra
Muốn dời non, tát bể
Cốt nhất giữ thuận hòa!

» Xem/Đóng đáp án

Chồng vợ
Hai câu đầu nhắc thơ Bùi Giáng : Bây giờ thời thế điêu linh / Ta về buôn bán với mình phôi pha / Mình ơi ta gọi là nhà / Nhà ơi ta gọi mình là nhà tôi. Chữ “mình” cũng được dùng ở ngôi thứ nhất : Nghĩ mình mà ngán cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! (Nguyễn Khuyến) Câu 3 : Chồng giận thì vợ bớt lời / cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê (ca dao). Câu 4 : Vợ chồng có khi nồng khi nhạt (Thành ngữ). Các câu 5,6 : Chồng là giỏ, vợ là hom (thành ngữ). Hai câu cuối : Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn (tục ngữ)

22

Khi thì mỉm miệng cười duyên
Khi ngời gương mặt dịu hiền, thanh cao
Gái trai ai biết thế nào
Đi đâu theo đấy, hỏi chào không thưa.

» Xem/Đóng đáp án

Trăng
Trăng khuyết trông như miệng người cười. Trăng tròn như gương mặt đẹp của cô gái : Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang là câu thơ Nguyễn Du tả vẻ đẹp Thúy Vân. Câu 3 : Khó biết trăng là trai hay gái vì có người gọi “ông” : ông trăng ơi xuống đây mà chơi v.v … là câu hát đồng dao. Thơ Xuân Diệu lại viết : Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ, có người gọi là : “ả Hằng Nga”… Ở câu 4 nhắc hiện tượng khi trăng sáng, đi tới đâu ta cũng thấy như trăng đi theo. Tất nhiên trăng không biết nói nên hỏi chào không thưa được.

23

Là con : mê ngọt mật ong
Để rồi mật nó đắng không gì bằng
Là xe : chở nặng, chạy hăng
Là: “đầu” tốt nhất, thưa rằng : lánh xa
Là cỏ : nhổ lại mọc ra
Là gì thế nhỉ? Trăng ngà cũng xơi!

» Xem/Đóng đáp án

Gấu
Hai câu đầu từ bài thơ tứ tuyệt Trần Mạnh Hảo Gấu xơi toàn mật ong / Làm nên mật gấu đắng / Lấy cái ngọt tận cùng / Làm nên cái đắng nhất. Xe gấu là loại xe tải loại nặng thường dùng ở những mỏ than. “Đầu gấu” tốt nhất là …để công an tiếp chuyện. Về cỏ gấu có câu : Đất có gấu, gấu lại mọc. Câu cuối là nói hiện tượng nguyệt thực mà dân gian thường gọi là gấu ăn trăng. Gấu còn ăn cả mặt trời khi có hiện tượng nhật thực.

24

Quả gì quý nhất cuộc đời
Thực mà như xạo, rằng tôi tặng nàng!
Quả gì khoái nhất tiếng vang
Bấm gan chờ được người phang mấy vồ
Quả gì nước mắt chưa khô
Máu tươi khát mãi, uống vô lại đòi

» Xem/Đóng đáp án

Quả tim, quả chuông và quả đất
Ở câu 1 : Khi yêu nhau người ta hay nói : Trao tặng trái tim cho nhau. Ở câu 4 nhắc thơ Xuân Diệu : Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung và thơ Pê-tô-phi : Trái đất ăn gì mà quá khát / Sao uống hoài nước mắt, máu tươi!

25

Có lưng, da, mặt, chân, chim
Còn khoe có mắt, đố tìm thấy đâu
Đàn ông sao lại có bầu?
Da xanh mặt đỏ, nghĩ lâu bật cười
Kiểm kê đánh số người đời
Mắc màn ba xạo ghẹo nơi khốn cùng.

» Xem/Đóng đáp án

Trời
Ta hay gặp các từ lưng trời, da trời, mặt trời, chân trời, chim trời cá nước, bầu trời. Câu thứ hai nhắc câu thành ngữ trời có mắt, những kẻ độc ác có thể giấu người khác, nhưng trời sẽ nhìn rõ và sẽ trừng phạt. Câu thứ năm nhắc thành ngữ số trời đã định. Câu cuối nhắc thành ngữ màn trời, chiếu đất.

26

Hai mặt mà lại không đầu
Không mồm vẫn cất tiếng kêu rộn ràng
Thương vay, khóc mướn cả làng
Không cha mẹ, vẫn có tang suốt đời

» Xem/Đóng đáp án

Trống
Trống có hai “mặt trống”, có “tang trống”, trống không thể thiếu trong mọi đám ma.

27

Một ông mặt lạnh như tiền
B…dài mấy thước chực bên vỉa hè
Chờ người bì bịch ngựa xe
Ghé vào tức tốc ông đè ông bơm

» Xem/Đóng đáp án

Cây xăng

28

Tôi hao hao giống cái chày
Bao cô ca sĩ đêm ngày cầm chơi
Nâng lên, áp sát tận môi
Âm ai nhỏ, chạm tôi rồi cũng to.

» Xem/Đóng đáp án

Micrô

29

Nằm mà cao mươi thước
Uốn lượn tựa rồng tiên
Sả thân lo việc nước
Sao mang tên thấp hèn?

» Xem/Đóng đáp án

Con đê

30

Vì người mới phải lên cao
Bởi muốn thu vào, phải để lôi ra

» Xem/Đóng đáp án

Cột thu lôi
“Lôi” là sấm sét theo nghĩa chữ Hán, theo tiếng Việt, lôi là lôi ra. Thực chất của hiện tượng thu lôi là từ cột phóng ra các điện tử mang điện tích âm để trung hòa điện tích dương ở đám mây mang điện để không xẩy ra sét nữa.

31

Xanh đi, đỏ đứng ngắm
Kìa: vạch chắn mầu vôi
Trước sau chỉ gang tấc
Khác tư cách con người

» Xem/Đóng đáp án

Xe qua giao lộ

32

Quay đều như chong chóng
Cánh mai trắng, cánh hồng
Cánh vàng tươi cúc thắm
Cánh tuyết điểm tùng thông

» Xem/Đóng đáp án

Bốn mùa
Ơ đây muốn nhắc đến bài thơ cổ “Tứ quí” : Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch / Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ / Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc / Tùng lăng đông tuyết bạch thiên chi.

33

Hóa thân từ sắt, bê tông
Yêu đời nên mới đến công viên ngồi
Giúp già một phút thảnh thơi
Giúp đôi trẻ thổ lộ lời tâm tư

» Xem/Đóng đáp án

Ghế đá công viên

34

Rõ nghiêng mà chắc, mà bền
Nhờ nghiêng mới nổi tuổi tên với đời

» Xem/Đóng đáp án

Tháp Pizơ
Đặng Hấn có bài thơ “ Tháp Pizơ” : Tháp Epphen nổi tiếng vì cao / Nổi tiếng về to là Kim tự tháp… / Mỗi kỳ quan một cách nổi tiếng riêng / Như tháp Pizơ nổi tiếng chỉ vì…nghiêng!

35

Không cần phải gọi : vừng ơi!
Thấy người tiến lại liền mời qua ngay
Không quay vẫn khép mở hoài
Cả khi đóng, phía trong ngoài thấy nhau

» Xem/Đóng đáp án

Cửa kính tự động
Loại cửa này sử dụng từ tính. Hay dùng ở sân bay, khách sạn lớn…

36

Ùa vào lá thắm hoa tươi
Tiếng chim hót, mở khoảng trời bao la…
Diệu huyền – con mắt của nhà
Ngóng người xa, hướng người xa dõi về

» Xem/Đóng đáp án

Ô cửa sổ
Xuân Diệu viết: Anh có nhà, có cửa / Nhung không vợ, không con / Sợ cái bếp không lửa / Sợ cái cửa không đèn…

37

Rộn ràng nhịp kéo vui tai
Chín xanh vừa đủ, giòn dai phải chừng
Em ơi, chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

» Xem/Đóng đáp án

Nộm đu đủ thịt bò khô

38

Tính ngay thẳng,
Chẳng thiên vị một ai
Nếu mình sai
Đo người sai thành đúng
Muốn người đúng
Trước hết mình đừng sai

» Xem/Đóng đáp án

Dụng cụ đo lường
Thước, cân, đồng hồ đo…đều rất thẳng thắn, vô tư, cứ theo các vạch chia trên mình mà đánh giá. Nhưng các vạch chia cũng có thể đúng sai. Các sản phẩm đều có tiêu chuẩn quy định chất lượng. Nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu của mọi nền sản xuất xã hội. Nhưng muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, trước hết phải nâng cao chất lượng của chính các dụng cụ đo lường, đánh giá chất lượng.

39

Căm căm về với gió mùa
Lại còn khen ngọt để đùa người ta
Không dao mà cắt thịt da
Nghĩ người không cửa không nhà mà thương

» Xem/Đóng đáp án

Rét
Người ta hay nói rét căm căm. Rét ở nước ra thường về theo các đợt gió mùa Đông Bắc. Người ta cũng hay nói: rét ngọt là rét thấu vào tận xương, rét cắt thịt da. Mùa rét là cực nhất cho những người nghèo, đặc biệt là những người không cửa không nhà.

40

Chẳng ai khảo cũng khai ra:
Học hàm, học vị, cửa nhà, chức, danh…
Khi hồng, lúc trắng, lúc xanh
Một bên bỏ dấu để thành chữ Tây!

» Xem/Đóng đáp án

Danh thiếp (Các-vi-zít)
Các chi tiết đều đã rõ, chỉ cần nói thêm: danh thiếp thường một bên ghi bằng chữ Việt, có đánh dấu, một bên bỏ hết dấu ở các chữ tên người, tên địa danh để thành chữ Tây!

41

Tấm lớn ngoài, tấm nhỏ trong
Tên anh, tên chị, hai ông, hai bà
Tim lồng, song hỷ đậm đà
Tay thon nhỏ, chén rượu hoa nâng mời…

Mặt mày người gửi rạng ngời
Có người nhận được, rụng rời chân tay!

» Xem/Đóng đáp án

Thiếp mời đám cưới
Chỉ cần giải thích thêm câu cuối: Người nhận thiếp mời đám cưới mà rụng rời chân tay có thể do một trong hai lý do: hoặc đó là thiệp mời đám cưới người yêu mình: Các thầy giáo khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội truyền miệng nhau bài thơ: Nhận được thư em lúc nhá nhem / Mừng mừng vội vội, bóc ra xem / Tin đưa sét đánh dăm ba chữ: / Anh ạ, ngày mai họ cưới em. Nguyên nhân thứ hai xin dẫn thơ Thạch Quỳ: Thiếp mời đám cưới cầm tay / Nửa vui cho bạn, nửa gay cho mình / Không đi thì nhạt mất tình / Đi thì “chuyện ấy” như hình có xoay /… / Đỏ xanh vay mượn dăm tờ / Nhớ ngày, nhớ tháng, nhớ giờ rồi đi / Thiếp mời đám cưới là chi / Có người giả ốm mỗi khi thiếp về.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về động vật (sáng tác, 29 câu)

1

Suốt đời cúi mặt giấu mình
Đánh mùi hôi, tức thì rình kiếm ăn.
Gằm gằm con mắt tối tăm
Nghe tên đã thấy dữ dằn, đáng khinh.

» Xem/Đóng đáp án

2

Người trách : khôn như nó
Người chê: dại như nó
Giỏi tiếng Anh nhất nhà
Bé vui đặt tên là :
“Cái chuông điện không dây”

» Xem/Đóng đáp án

3

Vốn dòng Tôn Thất
Sống rất khiêm nhường
Áo sồi, chân đất
Bắt ruồi thay cơm
Ăn xong súc miệng vài cơn mưa rào!

» Xem/Đóng đáp án

4

Càng to lại càng nhỏ
Óc gạch, đầu đá vôi
Sống hoành hành đây đó
Chết nhắm mắt không rồi

» Xem/Đóng đáp án

5

Lâu nay nổi tiếng phiêu bồng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo
Anh hùng từng bị …vô keo
Kìa: cơm, than, lửa luôn theo bên mình

» Xem/Đóng đáp án

6

Khi đậu : treo ngược trên cây
Sáng trời thì ngủ, hết ngày bay ra
Tai thính như có ra đa
Cánh căng phồng gió hóa ra cánh buồm

» Xem/Đóng đáp án

7

Nửa chim, nửa chuột
Mắt tuột sang tai
Lầm lẫn đêm ngày
Lộn phèo trời đất.

» Xem/Đóng đáp án

8

Trời ư? Bằng cái vung thôi
Tớ đây với cậu ông trời – chỗ thân
Tớ nằm vờ ngủ chờ xuân
Bạo mồm nên tớ nhiều lần hàm oan

» Xem/Đóng đáp án

9

Mũ mượn cây hoa
Da: người sợ hãi
Cho cây bút máy
Mượn lưỡi, mượn ruột

» Xem/Đóng đáp án

10

Mắt híp, bụng to, thật có duyên
Chê cơm, chê cháo, chỉ xơi… tiền
Suốt ngày ngậm miệng, sao mà mập?
Ăn phía sau lưng, thế mới hiền!

» Xem/Đóng đáp án

11

Áo vàng màu nắng
Đốn trắng như sao
Ngơ ngơ ngác ngác
Củi gác trên đầu
Không hiểu vì đâu
Chả ai tin tưởng

» Xem/Đóng đáp án

12

Bốn chân, đi guốc
Múa vuốt, nhe nanh
Mày bơi dưới nước
Mày hót trên cành

» Xem/Đóng đáp án

13

Dáng hình hệt chúa sơn lâm
Khinh rừng núi chật, về nằm đống tro
Lén rình ăn vụng cá kho
Khoe có học trò là chúa sơn lâm

» Xem/Đóng đáp án

14

Nghe tên ngỡ để viết thơ
Nào ai có ngờ sống ở biển khơi
Biết dùng phản lực đi chơi
Cái tên gợi nhớ tính người thẳng ngay

» Xem/Đóng đáp án

15

Con gì bắt chuột hơn mèo
Lên non lên núi leo trèo vượn khen
Giữa trời bay lượn chim ghen
Ra sông ra biển cá thèm tài bơi?

» Xem/Đóng đáp án

16

Bụng bò lại nuốt mồm bò
Bị chân bò giẫm nằm co bên đường

» Xem/Đóng đáp án

17

Thân vừa dẻo vừa mềm
Tên vừa khô vừa cứng
Không chân, đi rất êm
Hay trèo cây, trộm trứng

» Xem/Đóng đáp án

18

Lên một nơi xuống một nơi
Hàm răng cuối trời, đầu cổ chân mây
Râu, xương làm cảnh đó đây
Con: Trung, Nam, Bắc mỗi ngày một đông

» Xem/Đóng đáp án

19

Đầu hay đuôi khó phân minh
Đi khom về cúi, ai rình mà lo?
Ngắn dài mặc sức dãn co
Lấy mình làm thước mà đo mọi người

» Xem/Đóng đáp án

20

Tài, sức mầy ai lạ
Tưởng mầy giỏi thế nào
Núp ô dù sắt đá
Dùng miệng để leo cao
Bao mầm non mầy phá
Rồi vểnh râu tự hào!

» Xem/Đóng đáp án

21

Có tài làm xiếc
Đi ngược trần nhà
Nghe xưa giàu sụ
Tiếc của lắm à?
Những loài khát máu
Diệt trừ không tha

» Xem/Đóng đáp án

22

Áo xanh vớ đỏ
Chân khéo như tay
Học gì thuộc đó
Chẳng rõ dở hay
Ngậm chua, nuốt cay
Lên cao bằng mỏ!

» Xem/Đóng đáp án

23

Vợ đẻ chẳng ấp chẳng nuôi
Chồng giọng khản đặc, nổi trôi tháng ngày
Dạy gì cũng để ngoài tai
Đưa tin toàn những tin sai, tin nhầm.

» Xem/Đóng đáp án

24

Thân ở ngoài nước
Đầu ở trong nước
Lấy tóc làm râu
Chồng vợ thương nhau
Nhờ câu nhân nghĩa.

» Xem/Đóng đáp án

25

Cả họ đi guốc
Ăn sáng, chiều nhai
Sách nuốt trong bụng
Nhạc để ngoài tai

» Xem/Đóng đáp án

26

Không đầu, không cổ
Mắt cắm đầu que
Tám cẳng ngo ngoe
Xương khoe ngoài thịt

» Xem/Đóng đáp án

27

Lấy đầu làm búa bổ chơi
Rằng ta giúp đời giữ lửa phân minh
Cây sâu , cột ruỗng khiếp kinh
Coi chừng, đầu mẻ vì đinh có ngày

» Xem/Đóng đáp án

28

Chân đi, chân nhẩy
Cặp ngắn, cặp dài
Tưởng đâu mọc cánh
Nào ngờ đôi tai
Phải vì gan nhỏ
Chạy nhanh rất tài

» Xem/Đóng đáp án

29

Đã từng thắng bạch – cốt – tinh
Đã từng đại náo thiên đình kém đâu
Giờ ngồi bắt chấy cho nhau
Gãi lưng gãi đầu,. Chờ mẩu bánh con

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về cây trái (sáng tác, 36 câu) 1/5 (2)

1

Giúp bà, giúp mẹ thắm môi
Giúp anh, giúp chị vừa đôi đẹp lòng
Cho em ngựa cưỡi nhong nhong
Học theo dáng đứng cha ông giữa đời!

» Xem/Đóng đáp án

2

Trái thì chín tựa mặt trời
Lột vỏ đi rồi, hóa mặt trăng con
Trái thì chín tựa trăng tròn
Bổ đôi hiện mặt trời son rực hồng.

» Xem/Đóng đáp án

3

Vỏ như trăng mọc về đêm
Ruột tươi đỏ – mặt trời lên ban ngày
Cớ sao giễu kẻ ăn mày
Tiền xu dẫu lắm, dính đầy máu me!

» Xem/Đóng đáp án

4

Năm bảy tàu thì để không
Lấy thân đóng mảng qua sông không cầu
Có buồng nào ở được đâu
Cha con ngày tháng dãi dầu nắng mưa

» Xem/Đóng đáp án

5

Cây vuông, không lá, không hoa
Người cầm vòi tưới, xe ra xe vào
Tưới cây mới lạ lùng sao :
Từ cây nước chảy ào ào khỏi cây.

» Xem/Đóng đáp án

6

Lá to, lá nhỏ
Củ đỏ, củ trắng
Củ giống nhau chưa?
Củ đỏ thỏ ưa
Làm dưa củ trắng

» Xem/Đóng đáp án

7

Nghe tên thèm bánh tráng
Kho thịt thì hết chê
Nâng vạt váy mà hứng
Tạc dáng đứng Bến Tre.

» Xem/Đóng đáp án

8

Không thừa không thiếu
Ngồi kiệu, che dù
Khi vàng sắc nắng
Bao nhiêu nếp trắng
Biến thành đậu đen

» Xem/Đóng đáp án

9

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui
Con cái ngoan ngoãn
Cho ăn năm roi!

» Xem/Đóng đáp án

10

Tên giấy có phải giấy đâu
Giấy sao có thể dãi dầu nắng mưa
Giống pơ – luya mầu lắm cơ
Chắc ong bướm gửi thư từ cho nhau.

» Xem/Đóng đáp án

11

Hoa ngời sắc trắng nắng hanh
Thông qua giai đoạn quả, thành hạt ngay!
Hương hoa thơm dịu mà say
Từng vương tóc dài cô gái đồng xanh

» Xem/Đóng đáp án

12

Hương hoa gợi nhớ hương trà
Tên hoa gợi cảnh biệt xa não lòng
Sắc hoa bình dị trắng trong
Hoa khô rồi vẫn thơm nồng như tươi

» Xem/Đóng đáp án

13

Không máu đỏ cũng da vàng
Dẫu rằng kẻ Bắc, người Nam một nhà
Quanh năm che nụ giấu hoa
Dành hương, giữ sắc làm quà xuân sang

» Xem/Đóng đáp án

14

Chọn mùa bão táp chào đời
Mang hình tên lửa, thẳng trời vút lên.

» Xem/Đóng đáp án

15

Thân trúc, thân tre
Lá lau, lá lúa
Lá như gươm khuơ
Thân như rồng múa
Máu trắng, nhiễm đường
Sao da vẫn tía?

» Xem/Đóng đáp án

16

Nghe tên : rõ tiên nga
Sực nức mùi nước hoa
Người chê : văn hóa yếu
Người thầm thì : xấu da!
Hiểu tấm lòng thơm thảo
Sẽ đẹp dạ cả nhà.

» Xem/Đóng đáp án

17

Chín trộm ban đêm
Mùi thơm nức nở
Chông gai cắm ngoài
Ngọt ngon bọc giữa
Cả nhà vui chung
Mình tôi buồn nhớ

» Xem/Đóng đáp án

18

Thấy em là thấy hè rồi
Thơm tho đã trải, ngọt bùi đã qua
Vượt nơi hèn thấp vươn ra
Kiêu sa lắm, chớ lầm ra tôi đòi.

» Xem/Đóng đáp án

19

Có quả mà chả có hoa
Từ trong quả chín, muỗi ra bất ngờ
Quanh năm ai cũng thờ ơ
Tết mang lên tận bàn thờ tổ tiên

» Xem/Đóng đáp án

20

Cắt ngang giống hệt bánh đa
Trên cây giống hệt, bông hoa tươi hồng
Cũng là con cháu tiên rồng
Cửu Long ít ở, Thăng Long ít về

» Xem/Đóng đáp án

21

Cây gì mà lạ quá ta
Lúc nhỏ là bà, lúc lớn là ông
Đời nghèo chỉ uống nước trong
Vạn năm xanh tốt, đời không tuổi già

» Xem/Đóng đáp án

22

Chùm hoa tim tím mờ mờ
Trái như mặt đẹp vào thơ bao đời

» Xem/Đóng đáp án

23

Gỗ chẳng thể làm bàn tủ
Lá không ăn được như rau
Hoa hiếm, trái không hề có
Tự hào: Ngàn tuổi sống lâu!

» Xem/Đóng đáp án

24

Già làm nhà cửa tập tàng
Trẻ trung đan lát dần sàng nhỏ to
Non tơ lại khoái xáo cò
Thẳng ngay dẫu cháy thành tro cũng đành!

» Xem/Đóng đáp án

25

Tồng ngồng của quí khoe ra
Thế mà cứ bảo là ta biết điều!

» Xem/Đóng đáp án

26

Hoa gì nhỏ cũng bảo to?

» Xem/Đóng đáp án

27

Hoa gì vàng, trắng cũng cho là hồng?

» Xem/Đóng đáp án

28

Hoa gì không một ai trồng
Hái chơi, không trả một đồng, cũng : mua!

» Xem/Đóng đáp án

29

Hoa gì như thể lộc vua?

» Xem/Đóng đáp án

30

Hoa gì sư sãi trong chùa ngạc nhiên?

» Xem/Đóng đáp án

31

Hoa gì xinh nhỏ dịu hiền
Tên gọi gắn liền mồm miệng khuyển dương?

» Xem/Đóng đáp án

32

Hoa gì hữu sắc, vô hương
Đàn bà quí phái mang thường hôm mai?

» Xem/Đóng đáp án

33

Hoa gì nở đẹp hôm nay
Nhìn hoa ai cũng nói sai thì giờ?

» Xem/Đóng đáp án

34

Hoa gì trái đắng, chát chua
Tên nghe thơ mộng như đùa trêu nhau?

» Xem/Đóng đáp án

35

Hoa gì nhìn choáng váng đầu?

» Xem/Đóng đáp án

36

Hoa gì tưởng để giúp nhau mua hàng?

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về nhà ở (sáng tác, 49 câu) 5/5 (1)

1

Chong chóng thiệt ngộ
Không gió mới quay
Quay rồi mới gió
Sông ngòi không có
Bắc cầu mới quay.

» Xem/Đóng đáp án

2

Chỉ cần ấn chiếc nút
Trăm khán giả hét la
Hai đội bóng quốc tế
Tranh giải trong… góc nhà.

» Xem/Đóng đáp án

3

Mùa đông ở nước nào đây
Có pom, nho đúng bên Tây đó mà
Thế nhưng vẫn giống bên ta
Rau muống ở dưới, trứng gà ở trên
Ái chà, chả sợ thiếu kem.

» Xem/Đóng đáp án

4

Tưởng đâu ma quỷ hiện hình
Rõ giọng người tình, vạn dặm xa xôi
Ung dung áp má hoa khôi
Rỉ tai tổng thống, hôn môi nữ hoàng.

» Xem/Đóng đáp án

5

Một mồm trăm giọng phát ra
Tưởng trong vật ấy có ma ẩn tàng
Giữa đường, quán nhậu, cơ quan
Xa xôi, gấp gáp sẵn sàng có nhau!

» Xem/Đóng đáp án

6

Đứa thì gan ruột sục sôi
Đứa thì lòng dạ suốt đời giá băng
Cũng là việc nước lo toan
Mấy cuộc luận bàn mà vắng chúng tôi.

» Xem/Đóng đáp án

7

Người bảo tôi đen huyền
Người chê, khen : tối, sáng
Đêm hội thái bình tôi lại hành quân
Đất nước chiến tranh tôi từng đứng gác.

» Xem/Đóng đáp án

8

Mới mọc thì cao
Mọc lâu thấp bớt
Trái ớt trên đầu
Đèn sao mời rước
Mặc ai vui cười
Lệ tôi sướt mướt.

» Xem/Đóng đáp án

9

Dại khôn dồn ra đó
Nhìn nó rõ hình dong
Chọn kỹ mà gửi của
Đủ xanh, bủng, đen, hồng.

» Xem/Đóng đáp án

10

Bệnh vào qua nó
Vạ ra qua nó
Lúc có thép gang
Khi trôn trẻ nhỏ
Quán đổ đình xiêu
Ăn nhiều núi lở

» Xem/Đóng đáp án

11

Hương hoa nghi ngút như rồng lên mây
Chắp tay khấn nguyện vài giây
Tức thì có trái ăn ngay, xin mời!

» Xem/Đóng đáp án

12

So với yếm dãi thì hơi nhỏ
Trẻ thò lò mũi lại không xài
Đợi đến ngày vui đem … thắt cổ
Tiếp viên, tài xế thắt lai rai.

» Xem/Đóng đáp án

13

Khi em mặc áo mầu hoa
Khi mang áo giáp nuột nà song mây
Bao mơ mộng đẹp từ đây
Từ đây bao tứ thơ hay nẩy vần.

» Xem/Đóng đáp án

14

Ban ngày ngủ đứng một nơi
Thức canh giấc ngủ cho người canh thâu
Nón không rời, nắng ở đâu?
Thưa rằng : Nắng ở trong đầu mà ra!

» Xem/Đóng đáp án

15

Nhìn ngoài như chiếc rọc dừa
Phía trong hun hút dẫn đưa hai đường
Lối đi của những mùi hương
Gió thổi bất thường cứ đổi chiều luôn.

» Xem/Đóng đáp án

16

Không mồm, không mắt
Chân không nhúc nhắc
Dùng mặt để … ăn!

» Xem/Đóng đáp án

17

Vênh váo là rất hại
Ái ngại chị chìa vôi
Rất thương người mỗi miếng
Tôi dâng mời tận môi
Đừng đem tôi trả bạn
Kẻo mang tiếng hẹp hòi.

» Xem/Đóng đáp án

18

Chồng có răng không lưỡi
Vợ có lưỡi không răng.
Chúng tôi ra đồng áng
Quý vị vào bàn ăn.

» Xem/Đóng đáp án

19

Hạt gì quả lớn mông mênh
Cá không ăn chẳng để dành được lâu
Lúc trong quả chả thấy đâu
Lúc đem bỏ lọ, hiện màu trắng tinh.

» Xem/Đóng đáp án

20

Phải đâu bát phở ăn chơi
Gắn bó một đời như thể vợ ta
Thảo thơm nuôi sống mọi nhà
Nhưng sao mẹ ruột lại là đàn ông?
Có khi nào hóa cá không?

» Xem/Đóng đáp án

21

Dẻo mềm đến thế thôi mà
Da trơn, da trắng, nõn nà đáng yêu
Nào măng, nào mọc, nào riêu
Ốc, bò, thịt nướng … bao nhiêu vẫn thèm.

» Xem/Đóng đáp án

22

Vừa bằng đồng xu
Cho vô chảo mỡ
Bỗng nở như hoa
Chỉ dăm chiếc đĩa
Đầy ba gian nhà.

» Xem/Đóng đáp án

23

Mặt tròn da trắng
Duyên em nhờ lắm tàn nhang
Gặp lửa gặp than
Phát ban càng nhiều càng thích.

» Xem/Đóng đáp án

24

Khi ngủ thì đứng
Lúc ăn lại nằm
Ham ăn cho sướng
Bị người chặt băm.

» Xem/Đóng đáp án

25

Càng rửa lại càng bẩn
Rửa rồi để làm chi?
Thôi đừng hỏi lẩn thẩn
Rửa rồi thì … đổ đi!

» Xem/Đóng đáp án

26

Còn hơi : rõ cái hon – đa
Hết hơi : hòn đá sao mà rinh đây?

» Xem/Đóng đáp án

27

Có dựa ai đâu nào?
Tôi tự mình đứng thẳng
Muốn giúp bạn lên cao
Nên tôi cần cao cẳng.

» Xem/Đóng đáp án

28

Mồm không, tai mũi cũng không
Có trăm ngàn mắt song song đan cài
Người dùng để bắt chim trời
Trời dùng để bắt những người bất lương.

» Xem/Đóng đáp án

29

Rửa mặt thì lâu
Gội đầu thì chóng
Cứ ngỡ cúi đầu
Thì ra râu quai nón!

» Xem/Đóng đáp án

30

Ăn cơm thì nuốt
Uống nước thì nhai
Đi dạo phố ngoài
Trẻ em phải dắt.

» Xem/Đóng đáp án

31

Một mẹ bốn năm con
Con da đẹp, miệng tròn
Tính tình mẹ thiệt ngộ
Khách đàn ông đến nhà
Vạch vú cho con bú
Đợi khách hôn con xong
Lại cho con bú nữa

» Xem/Đóng đáp án

32

Đàn bà con gái rất yêu
Chỉ đi tu mới ra chiều dửng dưng
Mềm như nhựa, cứng như sừng
Dùng nó coi chừng, kẻo lại gẫy răng

» Xem/Đóng đáp án

33

No say rồi lấy em đi
Giúp anh cái khoản thứ nhì được chăng?
Em đâu còn tuổi thơ măng
Mất em, có kiếm cũng bằng công toi

» Xem/Đóng đáp án

34

Cắm vào là nó nóng lên
Chà đi kéo lại nước liền rỉ ra
Khum khum như cái bàn là
Đàn ông đã thích, đàn bà thích hơn

» Xem/Đóng đáp án

35

Một mẹ sinh được trăm con
Đứa nào đứa nấy thon tròn thấy mê
Con thường ăn uống no nê
Mẹ vò võ đợi con về ẵm con

» Xem/Đóng đáp án

36

Một nhà mấy chục người con
Da mầu da trắng xinh tròn dễ thương
Tháng năm gần gũi học đường
Hóa hình hóa chữ, thịt xương mỏi mòn

» Xem/Đóng đáp án

37

Một cây chỉ có lá hoa
Giầu nghèo đều có, gần xa đều trồng
Lá rơi bởi mắt người trông
Làm cho xuân hạ thu đông chuyển vần

» Xem/Đóng đáp án

38

Nhà trăm người dáng hao hao
Trán dô, đầu lớn, thân cao, hiền hòa
Từng người bị bắt đi xa
Bất bình đầu đập tường nhà tự thiêu

» Xem/Đóng đáp án

39

Nhìn hoài mà vẫn nhói đau
Tàn tro hay đấy tóc mầu muối tiêu?
Thời gian cháy khói hắt hiu
Hỡi ơi, lần lữa hỏa thiêu đời mình

» Xem/Đóng đáp án

40

Ta vểnh hai sợi râu lên
Cả nhà nghe nhìn thêm tỏ
Cảnh xa, người lạ đây đó
Chính ta bắt, dẫn vào nhà
Ta tinh vi, ta nhậy bén
Cóc cần ai ngắm nhìn ta

» Xem/Đóng đáp án

41

Hơn cánh phản nằm im suốt đêm ngày
Hơn cánh cửa xoay không trọn vòng quay
So cánh chim, kém lắm:
Chẳng bao giờ biết bay

» Xem/Đóng đáp án

42

Răng mọc ở lưỡi
Lưỡi mọc ở tay
Ăn ván nhai cây
Suốt ngày gậm, nhả…

» Xem/Đóng đáp án

43

Có ăn kem que đâu nào
Cớ sao từ ấy vận vào tên tôi
Lớn thì lo việc nằm ngồi
Nhỏ đi lao động ở nơi giảng đường

» Xem/Đóng đáp án

44

Đừng lầm kẻ ở, người đi
Đừng lầm kích thước so bì đúng sai
Rượu ngon, trà đậm, “cốc tai”…
Một đời việc nước không sai tấc lòng

» Xem/Đóng đáp án

45

Ôm chân, liếm gót người
Dẫm đạp chẳng chừa nơi
Xưa trơn da, phổng mũi
Giờ há mõm, vều môi

» Xem/Đóng đáp án

46

Nào ai che mắt ai đâu
Gần xa, mờ tỏ giúp nhau đấy mà
Chắn gió bụi, che nắng lòa
Ra đường “dâm” chút, về nhà hết “dâm”

» Xem/Đóng đáp án

47

Biết gì mà nghĩ?
Thì gật lắc thôi!
Đít bằng gang đúc
Chẳng buông chỗ ngồi
Bụng to, đầu rỗng
Rõ là đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

48

Đầu là đầu mượn, đầu thuê
Đông tây kim cổ cà kê đủ điều
Hết vua kịch, lại hề chèo
Toàn là chuyện đặt rất nhiều người tin

» Xem/Đóng đáp án

49

Mùi thiền đã bén từ lâu
Chẳng ưa thì bảo có sâu có dòi
Tôi rầu là bởi thế thôi
Người chê, người lại mê tôi hơn chồng
Xuân sang, giầu có mặc lòng
Bỏ gì thì bỏ, khó lòng bỏ tôi

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về trường học (sáng tác, 28 câu) 4.75/5 (4)

1

Mặt tròn, rõ da thú
Thân trụ, rõ thân cây
Ruột, gan… thiếu đủ thứ
Người đặt tên cho mày
Mày cố tình bưng bít
Oan ức gì nữa đây?
Mang mày ra, người đánh
Mày kêu động trời mây!

» Xem/Đóng đáp án

Cái trống
Có 4 câu cần giải thích: câu 3 và câu 4 giải thích tại sao có tên là cái “trống”. “ Trống” cũng có nghĩa là “rỗng”. Câu 5 và câu 6 muốn nói sự mâu thuẫn giữa tên cái trống và cái “trống” được bưng rất “kín”.

2

Có chân mà chẳng biết đi
Luận đàm mà chẳng nói gì thế ư?

» Xem/Đóng đáp án

Cái bàn
Ở bài này, dùng lối chơi chữ, dùng các từ đồng âm dị nghĩa: danh từ “bàn” là chỉ vật dụng để ngồi quanh ăn uống hoặc hội họp; động từ “bàn” là bàn luận, bàn bạc. Cái vật tên là “bàn” nhưng lại không biết nói. Cũng nhắc ta trước khi đi họp bàn nên chuẩn bị trước ý kiến để phát biểu.

3

Như thể con lừa khom bốn vó
Quanh năm ngửa mặt để người ngồi
Phương Tây lãi nhất buôn hàng đó
Lừa bạn phản thầy bởi nó thôi

» Xem/Đóng đáp án

Ghế
Hai câu đầu tả hình dạng cái ghế dựa. Mặt ghế chính là chỗ để ngồi. Hai câu sau, chữ “ghế” được dùng theo nghĩa bóng chỉ địa vị, quyền chức. Ở phương Tây, nơi đồng tiền quyết định tất cả, mọi thứ trên đời kể cả vật chất lẫn tinh thần đều trở thành hàng hóa thì việc “buôn quan, bán chức” là ngành kinh doanh thu nhiều lợi nhất và vì vậy cũng dẫn đến nhiều điều thất nhân tâm, vô đạo đức nhất.

4

Người lau, người đánh phấn
Mặt tôi vẫn đen nhèm
Nhưng nếu mặt tôi trắng
Người chớ ngại bôi đen
Bao hồng hào sáng láng
Ở mặt ngời nhìn lên

» Xem/Đóng đáp án

Tấm bảng (trong lớp học)
Hai câu đầu nói về bảng đen với các động tác lau bảng, viết phấn lên bảng; hai câu tiếp nói về tấm bảng mica trắng phải dùng bút mực màu sẫm (xanh hoặc đen) viết mới rõ nét. Hai câu cuối nói về các gương mặt học sinh sáng láng thêm khi tiếp nhận các kiến thức mới được trình bày trên bảng.

5

Em đây phận trắng, tấm thân tròn
Vì nghiệp trăm năm chẳng sợ mòn
Vạch giữa đêm đen làn chớp sáng
Cho ngời những cặp mắt tơ non

» Xem/Đóng đáp án

Viên phấn
Câu 1 tả viên phấn về hình dáng, màu sắc và vẻ đẹp tinh thần của nó. Câu 2 nhắc lời Bác: “Vì lợi ích mười năm trồng cây / Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Nghiệp trăm năm ở đây là sự nghiệp giáo dục. Nét phấn trắng viết trên bảng đen như nét chớp sáng trong đêm tối. “ Mắt tơ non” là mắt sáng các em học sinh.

6

Rõ ràng lọ nước
Nào phải suốt tơ
Bút kéo thành sợi
Dệt thành văn thơ

» Xem/Đóng đáp án

Lọ mực
Khi viết chữ, cây viết giống như chiếc thoi, viết ra chữ giống như những sợi tơ dệt thành bài văn, bài thơ.

7

Đôi chân dài ngoẵng
Đầu mình nhỏ thon
Theo bàn chân lượn
Mọc vầng trăng con

» Xem/Đóng đáp án

Kom pa

8

Nghe tên rõ một nhà văn
Viết không được, chỉ rình nhằm người sai
Xóa bôi chẳng nể sợ ai
Một mai ruột rỗng, nghiệp đời còn chi?

» Xem/Đóng đáp án

Cây bút xóa
Nhà văn cũng hay được gọi là “cây bút”. Cây bút xóa không để lại chữ. Tất nhiên cây bút xóa là vật rất cần thiết khi có sự viết sai.

9

Ta tuy nhỏ bé tí teo
Thông tường toán pháp, ai theo cho bằng
Ta đi giúp chị bán hàng
Sinh viên hỏi toán, ta làm như chơi
Nhưng đừng nhầm nhe, bạn ơi:
Ta đâu thay được óc người nghĩ suy

» Xem/Đóng đáp án

Máy tính bỏ túi
Chỉ có hai câu cuối cần lưu ý: học “toán” khác hẳn với học “tính”. Không nên ỷ lại kỹ thuật tính toán mà ảnh hưởng đến phương pháp suy nghĩ, tìm hiểu bản chất của các công thức, các qui luật trong toán học.

10

Tính sao, tên làm vậy
Chết đứng lúc bình yên
Bị người xô, kẻ đẩy
Lại bất ngờ khỏe lên

» Xem/Đóng đáp án

Con lắc
Câu đố này là một bài thơ của Đặng Hấn có tên “con lắc” với câu đầu : “lạ thay cái con lắc”. Nhà thơ Hoài Anh bình : Đặng Hấn đưa ra nghịch lý, rồi chứng minh ngược lại thấy là rất thuận lý. Chỉ có gian nan mới làm tỏ tài anh hùng, có trắc trở mới kích thích cho người ta phải phấn đấu, để giành lấy thành công, bởi vì: “chiến đấu gian lao thì thắng trận mới vinh hiển”.

11

Không phải lắc ngọc, vòng vàng
Đừng nhầm tôi để khoe sang, khoe giàu
Tôi đong đo thứ không màu
Không mùi, không vị, không đầu, không đuôi
Thứ làm nên mọi cuộc đời

» Xem/Đóng đáp án

Đồng hồ đeo tay
Bài thơ nhắc nhở mọi người sử dụng đúng chức năng của chiếc đồng hồ. Trong bài Tản mạn quanh chiếc đồng hồ trên THT số đầu năm 1999, Đặng Hấn đã có nhận xét: số đồng hồ trong xã hội càng tăng thì kỷ luật về giờ giấc càng giảm. Nhất là trong các sinh hoạt tập thể: đám cưới, họp hành… kể cả các buổi học ở nhiều trường Đại Học hiện nay.

12

Của tin gọi một chút này
Trăm năm duyên số từ đây định rồi
Cũng khi chỉ để đẹp thôi
Hoặc là để nhắc nhở người bền gan

» Xem/Đóng đáp án

Nhẫn
Nhẫn thường được trao nhau để đính hôn; nhẫn cũng có thể để chỉ mang cho đẹp (thường phụ nữ hay mang hơn nên hay gọi là “nữ trang”). “Nhẫn” có nghĩa là “nhẫn nại”, “kiên nhẫn”. Nhiều người mang nhẫn (hay “buộc chỉ cổ tay”) để nhắc mình nhớ một điều gì đó.

13

Số tôi đã chẳng hợp ai
Đường đi ngắn cũng hóa dài, nhọc công
Tôi đưa bạn đến mọi vùng
Chông gai tôi nhận, lạnh lùng tôi che

» Xem/Đóng đáp án

Đôi giày
Câu 1 nhắc một thành ngữ dân gian : “Giày dép còn có số”. Câu 4 cho ta thấy đây là giày, chứ không phải dép, mới giữ cho ấm chân.

14

Núp tôi họ né tránh trời
Dùng tôi quy chụp khiến người thấm đau
Cần tôi họ đội lên đầu
Hết cần họ bỏ tôi sầu cô đơn!

» Xem/Đóng đáp án

Cái mũ
Câu 1 : dùng mũ che mưa nắng. Câu 2 : “quy chụp” là “chụp mũ”, qui kết sai cho người khác. Câu 3 : “Đội lên đầu” còn có ý là tâng bốc, luồn cúi người khác. Câu cuối nhắc ta phải biết quý trọng những gì giúp ta ngay cả khi ta không còn cần nữa, phải biết nhớ ơn những ai ta đã mang ơn.

15

Nhìn đầu: Châu Á
Nhìn cả hóa Âu
Khi dài, khi ngắn
Khi trắng, khi màu
Nuốt người nhưng vẫn chừa đầu người ra.

» Xem/Đóng đáp án

Áo
Hai câu đầu là “chiết tự” chữ “áo” : Phần đầu là chữ Á, toàn bộ là “Áo”– tên một nước ở Châu Âu. Ở câu 3: “áo ngắn” là chỉ tầng lớp bình dân: “Dân áo ngắn”, “Áo cộc, quần manh”, “Áo ngắn giũ chẳng nên dài”. Trong câu 3 “áo trắng” thường chỉ nữ sinh – Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong (Huy Cận), Áo trắng là áo trắng ơi! (Nguyễn Duy). Câu cuối nhắc thành ngữ Áo mặc sao qua khỏi đầu.

16

Sắc như dao
Sáng như sao
Mở ra là thực
Khép vào là mơ

» Xem/Đóng đáp án

Mắt thanh xuân
Câu đầu lấy ý ca dao: Con dao vàng rọc lá trầu vàng / Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa. Hai câu cuối mắt sáng nhìn tỏ rõ mọi vật, khi nhắm lại là cả một thế giới mộng mơ, hồi ức, tưởng tượng hiện ra trong trí óc.

17

Xay gạo ngày, giã gạo đêm
Chùa nhà chưa chắc, vái thêm bụt ngoài
Cà phê đặc để… ngáp hoài
Cái hôn ư? hết năm nay, xin chờ!

» Xem/Đóng đáp án

Mùa thi
Câu 1 nói học “gạo” suốt ngày, suốt đêm. Câu 2 nói học ở trường mình chưa cảm thấy chắc ăn phải học thêm ở trường khác. Câu 3: bằng mọi cách chống buồn ngủ mà không được. Câu 4: nhắc thơ Xuân Diệu Mùa thi sắp tới! – Em thơ / Chiếc hôn âu yếm xin chờ năm sau.

18

Tê đầu, rồi hắt xì hơi
Lại i như thế!
Trời ơi khó vào!

» Xem/Đóng đáp án

Học thi
Hai câu đầu chiết tự chữ “thi” có chữ “tê” ở đầu đến chữ “hắt” rồi “I như thế” là nói chữ “I”. Câu thứ 3 là nói học quá nhiều môn một lúc nên rất khó thuộc, khó “vào”. Cả bài thơ toát lên không khí mệt mỏi, căng thẳng trong những kỳ học để chuẩn bị thi.

19

Bảo xem thì quẳng cho xa
Cấm xem lén lút mở ra mà nhìn

» Xem/Đóng đáp án

Tài liệu học tập của học sinh lười, kỷ luật kém.
Lúc thầy bảo về nhà xem thì quẳng tài liệu sách vở để đi chơi. Lúc thi, cấm xem thì lén lút mở nhìn trộm.

20

Không ở gà hoặc vịt bông
Và không nổ được vì không có ngòi
Không đi câu, chẳng đi bơi
Lại theo những học sinh lười đi thi.

» Xem/Đóng đáp án

Phao
Câu đầu nói ở gà hay vịt đều có bộ phận gọi là “phao câu”. Câu 2 nói chữ “phao” là chữ “pháo” bị mất dấu sắc (cái ngòi). Phao cũng có ở cần câu và để đi bơi. Qua câu cuối biết đây là “phao cứu hộ” của học sinh không chịu học bài trong phòng thi.

21

Bạn mang tâm sự trong bao
Có chúng tôi vào, mọc cánh bay xa
Nhẹ thì bớt chúng tôi ra
Nặng thêm vào nữa, gấp ba bốn lần!

» Xem/Đóng đáp án

Con tem thư
“Tâm sự trong bao” là lá thư để trong phong bì. Thư có dán tem mới được chuyển đi. Thư càng nặng càng phải dán nhiều tem.

22

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trăm vuốt, ngàn ve vẫn chẳng mòn
Quân tử có thương đừng đập, giật
Cứ nâng, xứ xoáy mặc ai nhòm.

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bàn
Bài này nhại theo bài vịnh Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương : Thân em vừa trắng lại vừa tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non / Rắn nát mặt dầu tay kẻ nặn / Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Các từ “vuốt”, “ve”, “giật”, “đập”, “líp”, “xoáy”, “nâng”, … đều là các động tác trong khi đánh bóng bàn. “Mặc ai nhòm” ở câu cuối là nói dù khán giả xem đánh bóng bàn đông, cũng không nên mất bình tĩnh thì đánh mới tốt.

23

So bề to khỏe chẳng thua ai
Khẽ chạm vô chân, té sõng soài!
Mấy trẻ ầm ào vào trận giỡn
Toàn cầu sửng sốt phục tài trai!

» Xem/Đóng đáp án

Bóng đá
Câu 1 và 2 nói về đặc điểm các cầu thủ : to khỏe nhưng cũng rất hay “ăn vạ” để trọng tài phạt đối phương. Đến các danh thủ như Marađôna … cũng nhiều lần bị trọng tài phạt vì “té xạo”. Hai câu cuối : bóng đá là trò chơi của tuổi trẻ nhưng cũng được cả thế giới mê thích, các cầu thủ xuất sắc được rất nhiều người mến phục.

24

Khó thành họa sĩ vì ngắm nhiều tranh
Hết thành nhà văn vì xem nhiều truyện
Nhà văn lão luyện, họa sĩ có danh
Nhờ lộc mày ban, trổ tài … trượt tuyết.

» Xem/Đóng đáp án

Truyện tranh dỏm
Hai câu đầu nói tác hại của truyện tranh dỏm đến thẩm mỹ và thị hiếu của bạn đọc trẻ. Hai câu sau nói tác hại đối với các tác giả, chạy theo lợi nhuận làm giảm dần khả năng sáng tạo của mình, chỉ còn khả năng sao chép hoặc quá dễ dãi về nghệ thuật. (Nhớ rằng ở dây chỉ nói truyện tranh dở chứ không nói truyện tranh hay, được các nhà xuất bản có uy tín chọn in một cách nghiêm túc)

25

Chân dài chỉ một sợi thôi
Cái đầu nhẹ thếch, thích trồi lên cao
Dáng thì dáng bí dáng bầu
Xanh xanh đỏ đỏ rõ màu đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bay

26

Tưởng vật lý hay tin học
Té ra chỉ là trò chơi
Tất nhiên là hấp dẫn lắm
Nhưng vừa vừa chứ bạn ơi
Lúc đầu là “khùng không nhẹ”
“Cái chết” nằm ở phần đuôi

» Xem/Đóng đáp án

Trò chơi điện tử
Câu 1 : Điện tử là một ngành của vật lý học, chơi điện tử cần có máy vi tính như làm tin học. Hai câu cuối là bàn về chữ Điện : “Điên nặng” tức là “Khùng không nhẹ” và “tử” còn có nghĩa là “chết”.

27

Thân tròn, mình trắng, đuôi vàng
Người càng cố kéo, nó càng ngắn hơn
Đời người cũng ngắn theo luôn!

» Xem/Đóng đáp án

Điếu thuốc lá
Câu đầu tả hình dáng điếu thuốc lá. Câu hai, do chữ “kéo” nghĩa là làm dài một vật gì đó ra lại hay được dùng để thay cho chữ “rít”, chữ “hút” : “Kéo một hơi (thuốc)” nên đã tạo ra một “mâu thuẫn” giả. Câu 3 nhắc một sự thật : hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ và sinh nhiều bệnh về đường hô hấp.

28

Người gọi “trắng”, người : “bóng đen”
Nghề tôi có tiền, nhưng “hậu” thì không
Bạn ham một phút “thượng đồng”
Suốt đời sẽ được sống cùng quỉ ma.

» Xem/Đóng đáp án

Ma túy
Ma túy hay được gọi là “hàng trắng”, là “bạch phiến”. Do nó gây tai họa lén lút nên cũng gọi là “bóng đen” đặc biệt hay nói “bóng đen xâm nhập học đường”. Câu hai : buôn ma túy lãi nhiều nhưng không bị vào tù cũng bị bọn maphia thanh toán để bịt đầu mối. 2 câu cuối : bạn tò mò hút, chích thử để “thưởng thức” cảm giác đê mê của ma túy thì dù chỉ một vài lần là sẽ trở nên nghiện ngập, sống cùng bọn xì ke trộm cướp, bị cách ly khỏi cộng đồng.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về chữ (sáng tác, 56 câu)

1

Để nguyên khi khuyết, khi tròn
Cắt cho ngắn, lại thành con vật dài

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Khi cắt bớt đuôi sẽ thành con trăn.

2

Thân, đuôi giống hệt của heo
Vừa thôi không “hát”, bé teo không ngờ
Bớt nửa giữa lại phình to
Rành rành thứ ấy để thờ eo ôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Theo
“Không hát” tức là bỏ chữ “h”. Ở câu cuối, “thờ eo” là đánh vần chữ “theo”

3

Vừa nhút nha nhút nhát
Chỉ chạy trốn là tài
Hết tê đầu, mang nón
Đã hùng hổ ra oai

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thỏ
Hết tê đầu, tức là bỏ chữ “tê” ở đầu, và thêm dấu “^” sẽ thành chữ “hổ”.

4

Rõ to, quả có tiếng đồn
Bớt đi cọng cỏ, chỉ còn cái đinh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đình
Cọng cỏ ở đây là dấu huyền

5

Chặt đầu mới hối
Tha tội quấy hôi
Xóa dấu, chặt đuôi
Văng lời thô tục

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thối

6

Bên trái rõ thực chúng mình
Bên phải mười một rành rành chẳng sai
Bớt mười lập tức vảnh tai
Cần thì gọi, tội đường dài ngại chi

» Xem/Đóng đáp án

Chữ TAXI
“Ta” là chúng mình. “Ngại chi” là chạy taxi đường dài hơi tốn tiền.

7

Trên đầu ta là nó
Là nó lúc mất đuôi
Lật ngược để xuôi vẫn là nó

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nón
Nón tất nhiên đội trên đầu

8

Một nét đầu rơi, thoảng gió nồm
Mắt huyền vừa nhắm, đã “em” ôm
“Em” sau, “em” trước, ồ vui nhỉ
Nhìn ngược nhìn xuôi chỉ thấy mồm.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mồm
Một nét đầu rơi là chữ “m” bỏ một nét đầu thành chữ “n”. Mắt huyền nhắm là bỏ dấu huyền đi. “Em” là đọc lướt của chữ “ em mờ”

9

Ăn chay nên thích trái cây
Mỗi năm thêm một, ai vay được trời

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tuổi
Ăn chay là tu, trái cây ở đây là Ổi

10

Suốt đời em bị ngờ oan
Trước sau mọi việc vẹn toàn siêng năng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ngoan
Ngờ oan là đánh vần chữ ngoan

11

Để nguyên tăm tối mầu than
Chém ngang một nhát, sáng choang cửa nhà

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đèn
Chém ngang một nhát là đánh dấu huyền

12

Không ngờ lại được tha
Che đầu vào hang trốn
Thôi hát, hết leo cao
Mời ò e cờ phướn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thang
Thôi hát là bỏ chữ “h” không còn là chữ thang nữa mà thành chữ tang nghĩa là có đám ma.

13

Đầu bò, mình rắn, đuôi ngan
Tên bay, đạn nổ, tin sang cho mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bắn
Trong chữ “ Bò” thì phần đầu là chữ cái “b”, trong chữ “rắn” thì phần giữa là chữ “ắ”; trong chữ ngan phần đuôi là chữ “n”. Ở câu 2 bắn có thể là bắn tên (bằng cung), bắn đạn (bằng súng) và “bắn tin” : bắn tin sang mụ Tú bà (Kiều).

14

Nửa đầu đựng sữa, pha trà
Toàn phần còn có nghĩa là “ngó trông”
Rau suông, hến, cá, cua đồng…
Chở xe hơi (chọn loại không ô đầu)

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Canh
Nửa đầu chữ canh là “ca”. Chữ “canh” có nghĩa là canh gác hoặc ngó trông. Câu 3 kể một số loại canh. Câu 4 : canh đựng trong tô (từ chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu)

15

Đợi o một kiếp chẳng nề
Suốt đời ta chẳng nhận về mảy may

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cho
“Đợi” nghĩa là “chờ”. “chờ o” là đánh vần chữ “cho”. Chữ cho ngược nghĩa với chữ “nhận”./toggle]

[tabby title="16"]Không đầu, không dấu thì ưa
Không đuôi, không dấu hóa thừa thãi ra
Không đầu đuôi, cứ ậm à…
Để nguyên ngon ngọt, rõ là trái cây[toggle]Chữ Dưa, Dừa, Dứa
Ở câu thứ 3: ư, ừ, ứ… có thể xem là “ậm à ậm ừ!”. Câu cuối có thể coi vừa đố, vừa giảng./toggle]

[tabby title="17"]Chặt đầu, cất tiếng kêu thương
Cắt đuôi lại hóa to xương, lớn người
Muốn dùng, cắt cả đầu đuôi
Che mưa gió, che nắng nôi trên đầu
Nguyên lành giữ trọn trước sau
Sẽ thành một cặp bên nhau khó rời![toggle]Chữ Đôi
“Ôi” là tiếng kêu thương; “đô” là to con, lớn người; “Ô” (hay dù) để che mưa nắng. “Đôi” cũng có nghĩa là một cặp.

18

Chặt đuôi thì ho
Che đầu thì khóc
Đầu đuôi, giấu hết
Đẻ trứng tròn vo
Giữ nguyên vẹn cho
Nở xòe cánh đẹp

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hoa
Ở câu 4 muốn nhắc : O tròn như quả trứng gà.

19

Lấy ca mà để đầu em
Nóng ăn thì lạnh, nhịn thèm thì tan

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Kem
Chữ cái K cũng được đọc là “ca”; chữ “nóng ăn” ở câu 2 có nghĩa là ăn vội, ăn ngay.

20

Bóc vỏ: củ hóa thành hoa!
Lột lần vỏ nữa: hiện ra trứng tròn
No cơm, ọ ẹ…, khen ngon
Gặp miền đất lạ: xòn xòn đẻ sai
Nướng thì thơm, bỏ ruột thì… khai!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoai
Chữ “Khoai” bỏ K và i là chữ hoa; Bỏ h và a còn chữ O (O tròn như quả trứng gà). 3 câu tiếp nhắc các thành ngữ: No cơm tẻ, ọ ẹ khoai lang; Khoai đất lạ, mạ đất quen; Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng (rất thơm). Chữ “Khoai” bỏ chữ o ở giữa còn lại chữ khai

21

Chặt đuôi Miền Bắc gọi vừng
Bỏ giữa Bờm mừng đổi được nắm xôi
Che đầu : èo uột khó nuôi
Để nguyên bắt chuột hoặc ngồi đống tro

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mèo
Miền Bắc gọi là “Vừng” (muối vừng), Miền Nam gọi là “mè”. Bỏ chữ è còn lại “mo”(thằng Bờm có cái quạt mo…). Các phần khác đã rõ.

22

Phải o có nón tàng hình
O vừa đứng đó đã thành cái ô
Nếu cầm thêm một lá cờ
O đàng trong lại hóa o đàng ngoài.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ O
Miền trong gọi O (em hoặc chị của bố) thì Miền Bắc (đàng ngoài) gọi là cô. O đội nón vào thì chỉ còn là cái ô; nếu thêm chữ C (chữ “cờ”) lại thành chữ cô.

23

Dù che trước, dù che sau
Chẳng may mất đầu thì lấy đựng canh
Bởi chưng tê mẩy, tê mình
Chạy đôn chạy đáo kêu inh cả làng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ôtô
“Ô” cũng có nghĩa là “dù”. Chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu còn lại là chữ “tô”, dụng cụ để đựng canh hay phở … Giữa (mình ) chữ ôtô là chữ “t”đọc là “tê” (tê buốt). Ôtô thường chạy đây chạy đó, tiếng động cơ và tiếng còi xe kêu inh ỏi.

24

Không tin là bởi nửa sau
Đem rán nửa đầu xem có thơm không
Khi nhà ở, lúc lông bông
Bạn nào chưa biết, rờ ông biết liền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Rông
“Nửa đuôi” là “ng”, thường được đánh vần là”ngờ” tức không tin. Nửa đầu nhắc thành ngữ “Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng” tức là rất thơm. “Nhà rông” để ở, “chạy rông” là đi lông bông. Câu cuối đánh vần chữ “rông”. Câu đố này thuộc loại “vừa đố vừa giảng”, dân gian hay sử dụng.

25

Đã sờ còn tức ách gì
Khi chia đôi có sá chi đợi chờ

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Sách
Câu đầu là đánh vần chữ “sách”. Chữ sách chia đôi có 2 phần : “sá” (sá chi) và “ch” đọc là “chờ” (đợi chờ).

26

Giấu đầu thì hỏi
Giấu đuôi : trả lời
Giấu cả đầu đuôi
Reo lên vui thích
Không hề bưng bít
Thin thít lắng nghe

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tai
Chữ “ai?” là để hỏi; chữ “ta!” là để trả lời; chữ “a!” hay được kêu lên khi vui thích ngạc nhiên. Không che đi chữ cái nào, ta lại có chữ “tai” là bộ phận trong cơ thể con người và động vật dùng để nghe.

27

Bỏ nón: thành bánh
Để nón: xuân sang
Có nón hay không nón
Vẫn bạn với mai vàng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Chữ “tết” bỏ dấu “^” thành chữ “tét”; mai vàng và bánh tét là những thứ gần như không thể thiếu trong gia đình người Miền Nam vào dịp tết nguyên đán.

28

Tê đầu tê đuôi
Ê mình ê mẩy
Bia rượu mềm môi
Phong lưu biết mấy

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Hai câu đầu (lấy từ câu đố dân gian Việt Nam) chiết tự chữ “tết” và cũng nói cảm giác mệt mỏi do hoạt động nhiều vào dịp tết. Hai câu sau nhắc thơ Tú Xương: Phong lưu đệ nhất ba ngày tết / Túng kiết như ai cũng rượu chè.

29

Còn đầu thì tóc mọc ra
Cắt đuôi, búi tó, vậy mà lại xinh
Xem ra đệ nhất tài tình
Mất đầu mà óc rành rành còn nguyên

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tóc

30

Bỏ đầu mọc răng
Chặt đuôi hóa rắn
Muốn được lời khuyên
Đầu đuôi bỏ hẳn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Chỉ cần nói thêm chữ “răn” là “khuyên răn”, “răn dạy”.

31

Dấu đầu lại hở râu ra!
Cắt đuôi, xóa dấu: đem mà thả ao
Vì thiếu dấu mới xa cau
Quanh năm đồng cạn đồng sâu nhọc nhằn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trâu
Chữ “trâu” bỏ chữ “u” và xóa dấu”^” là chữ “Tra” một loại cá gần giống cá trê nhưng có màu trắng, có nhiều ở Miền Tây Nam Bộ. Nếu chữ “Trâu” có thêm dấu huyền sẽ thành “Trầu” và khi đó sẽ gần với cau. Câu cuối nhắc câu ca dao Trên đồng cạn, dưới đồng sâu / Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

32

Hai đầu giải tỏa cả
Vạn mét vuông có ngay
Chỉ một đầu giải tỏa
Dẫu sao cũng còn hay
Để nguyên vẹn hơi găy
Chỉ ngồi chơi xơi nước!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khay
Vạn mét vuông là một hécta, viết tắt là “ha”. Khay là đồ dùng trong bộ uống trà.

33

Cắt đuôi : chim hóa thú
Đuôi ngắn lại thì hôi
Chia hai phần lớn nhỏ
Kìa: thú y đến rối!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thúy
Chim thúy, cũng có nơi gọi là chim trả vì thúy cũng có nghĩa là mầu xanh ngọc. Thay chữ y bằng chũ i, chữ thúy thành chữ “thúi”

34

Lo làm thơm đẹp mặt người
Chính mình hết đẹp, kẻ cười rằng hôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Phấn
Hết đẹp tức là mất sắc, phấn sẽ thành phân

35

Chẵn lẻ âm dương vốn tự nhiên
Vờ ngu giả ngốc để cầu yên
Lăn quay một cái thành ra họ
Thề thốt để khoe có mắt huyền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nguyên
Các số nguyên gồm các số tự nhiên, các số tự nhiên mang thêm dấu âm và được phân chẵn và lẻ. Chữ Nguyên do chữ “ngu” và chữ “yên” tạo thành.Thêm dấu ngã (lăn quay) thành họ Nguyễn. Nếu thêm dấu huyền thành nguyền (thề nguyền, thề thốt)

36

Trông kìa : ca hát oang oang
Giấu đầu kỹ mấy, con hoang biết liền
Mặt hoa da phấn ngỡ tiên
Không ngờ có hỏi, nó liền thoát y

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoang
Ca hat oang là đánh vần chữ khoang. Nhìn thẳng vào mặt chữ khoang, ta nhìn thấy ngay chữ “hoa”. Không “ngờ” là bỏ chữ “ng”, có hỏi là đánh dấu “?” sẽ được chữ “khỏa” là khỏa thân, thoát y.

37

Vắng ông : quay tít thò lò
Ông về càng tệ: không rồ cũng điên
U đi vắng tưởng đâu yên
Điếc tai hàng xóm những chiêng với cồng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cuồng
Chữ cuồng bỏ chữ ông còn chữ cù là con quay. Bản thân chữ cuồng là điên khùng. Bỏ chữ u còn chữ “cồng” trước kia hay đánh để truyền lệnh, hay đi bộ với chiêng.

38

Mang dấu gì tội cũng to
Trước lo sau mới ấm no, an nhàn.
Vốn dòng chim quí, chim sang
Mất đuôi hò hét oang oang tối ngày

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Loan
Loạn hay loàn (lăng loàn) đều có nghĩa xấu. Loan = lo + an. Loan là con chim phượng hoàng mái, loài chim sang trọng. Bỏ chữ n còn lại là cái loa nên mới hò hét oang oang.

39

Muốn anh đến, hãy đừng chờ
Mong cha về, lại hết nhờ. Chua thay.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chanh
Chờ là “ch”, nhờ là “nh”. Chanh tất nhiên là chua.

40

Chàng không ngờ dấu bị rơi
Vậy là chàng đã đổi đời làm cha

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chàng
Không ngờ là bỏ “ng”, dấu bị rơi là bỏ dấu huyền.

41

Có em thư báo đi về
Không em chỉ có tái tê một mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tem
Tái tê là nói chữ “T”

42

Này này chẳng phải mày đâu
Thiếu đầu đừng hỏi nông sâu cho phiền
Nếu mà có gậy chỉ thiên
Sẽ như phép lạ: hóa liền trái cây

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tao
Khi nói đến ao, người ta hay quan tâm nông hay sâu. Gậy chỉ thiên là muốn nói dấu sắc./toggle]

[tabby title="43"]Mới vừa chê ủng chê ôi
Cho ăn bánh hỏi, lại đòi trái cây[toggle]Chữ Ôi
Bánh hỏi là dấu hỏi. Trái cây ở đây là trái ổi.

44

Một xu thì cũng ân tình
Đừng ham mang dấu mà thành hết khôn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Xuân
Chữ xuân nếu thêm dấu thì chỉ có dấu hỏi là có nghĩa. Nhưng khi đó thành xuẩn là ngu xuẩn, xuẩn ngốc, tức hết khôn.

45

Rành rành bà ấy mẹ tôi
Về già hết đẹp, nhát người đi đêm

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Hết đẹp là mất sắc, tức mất dấu sắc. Có câu tục ngữ: Đi đêm lắm ắt có ngày gặp ma

46

Có mắt huyền lại tưởng lòa
Không mắt huyền hóa kiêu sa mơ màng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Mắt huyền ở đây là dấu huyền

47

Rõ rành rành đấy bố tôi
Cớ sao có hỏi, trả lời rằng không?

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cha
Chữ chả nhiều địa phương sử dụng như từ phủ định : Chả phải, chả có…

48

Xuất thân từ bác áo xanh
Thôi nghề bốc vác lại thành gió trăng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thợ
Áo xanh là áo thợ. Nghề bốc vác là nghề mang nặng, tức dấu nặng. Gió trăng là vẻ đẹp thiên nhiên nên cũng hay biểu tượng cho thơ Đề huề lưng túi gió trăng

49

Gan chả hơn thỏ mấy
Đã đợi vẫn làm eo
“Trứng” rơi còn lo đậy
Cắt “cờ” mập thành heo.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cheo
Cheo là một loài thú giống hươu nhưng cỡ rất nhỏ, chạy nhanh và rất nhát. Nhát như cheo. Trứng rơi là bỏ chữ o đi

50

Đầu bò đuôi gắn đầu trâu
Thân mình mập ú, giúp nhau học hành

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bút

51

Yêu là yêu cả loài người
Cớ sao mang tiếng để đời: gạ cô.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạo

52

Ra ga mang nặng rồi chờ
Công trình lớn nhỏ đều nhờ đến anh
Cũng từ đất cát mà thành
Mầu hồng do lửa, dáng xinh do người

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạch

53

Chờ được thêm trái quả
Rồi đi quét cửa nhà
Bỏ đầu thừa đuôi thẹo
Chúa sơn lâm hiện ra

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chổi
Chổi = chờ + ổi.Bỏ hai phía, chữ chổi thành chữ hổ.

54

Cắt đuôi đem bán hoài không được
Mất sắc eo ôi, ngó rõ ghê!
Thì quẳng nón, xông vào sông nước
Bán buôn, câu cá hoặc chèo thuê

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ghế
Phần đuôi là chữ ế tức không bán được. Bỏ dấu sắc thành chữ ghê. Bỏ tiếp dấu “^” thành chữ ghe tức thuyền

55

Tội đốt lửa rõ mười mươi
Thôi không hỏi tội đã cười như hoa
Đem roi dọa đánh: xin hòa
Bắt mang nặng, xin ở nhà vẽ tranh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hỏa
Đem roi dọa đánh tức là đánh dấu huyền.

56

Đang ngồi yên chỗ tụng kinh
Bởi ham thay dấu, đời mình cũng thay
Đang đồ điện, hóa đồ cây
Vừa vui đỗ đạt, đã tay mang còng.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tu
Ngồi yên chỗ tụng kinh là tu. Đồ điện là tụ (điện), đồ cây là tủ. Đỗ đạt là tú (đỗ tú tài)

Chia sẻ bài này:

Câu đố về danh nhân lịch sử (sáng tác, 21 câu)

1

Kiếm gãy, nhổ tre làm vũ khí
Dấu chân ngựa để những hồ ao
Lên ba dẹp giặc lo còn trễ
Bay chín tầng mây hận chửa cao!

» Xem/Đóng đáp án

THÁNH GIÓNG
Hai câu ba và bốn là dịch thơ Cao Bá Quát : “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn / Đằng vân do hận cửu thiên đê”

2

Tên đẹp – hoa sen đẹp
Đức hiền – hạt gạo hiền
Người cha – đôi mắt mẹ
Tóc trắng – tóc ông tiên

» Xem/Đóng đáp án

Phác họa BÁC HỒ
Câu đầu nhắc thơ Bảo Định Giang : “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Câu hai nhắc thơ Xuân Diệu :“Bác hiền như hạt gạo thôi / Chí no thiên hạ, tình nuôi đồng bào”. Câu ba nhắc thơ Tố Hữu : “Ôi người cha đôi mắt mẹ, hiền sao!”. Câu bốn nhắc thơ Phạm Tiến Duật viết khi Bác đi xa:”Bác là ông tiên tóc trắng / Mặt trời lặn, mặt trời mang theo nắng / Bác ra đi, để ánh sáng cho đời…”

3

“Tam tộc tru di”, máu đỏ làng
Bình Ngô muôn thuở giọng còn vang
Hỡi ơi Thị Lộ – gương tầy… chiếu
Tài sắc mà chi để lụy chàng.

» Xem/Đóng đáp án

Vài nét NGUYỄN TRÃI
Câu 1 nhắc vụ án “Lệ Chi Viên” về cái chết của vua Lê Thái Tôn dẫn đến thảm họa cho Nguyễn Trãi. Câu 2 nhắc ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ cũng là nhắc đến tài đức và công lao của Nguyễn Trãi đối với dân tộc và triều đình nhà Lê. Ở câu 3 “gương tầy chiếu” là sửa lại thành ngữ “gương tầy liếp” nghĩa là gương lớn. Gương ở đây là muốn nói đến gương “tài mệnh tương phương” tức là tài và mệnh làm hại lẫn nhau, thường xảy ra trong chế đệ phong kiến cũ. Chữ “chiếu” là muốn nhắc đến giai thoại làm quen nhau của Nguyễn Trãi và Thị Lộ : Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cả câu 3 lẫn câu 4 muốn nhắc đến cái chết của vua Thái Tôn ắt hẳn có nguyên nhân (hay nguyên cớ) từ tài sắc của Thị Lộ. Và vì cái chết đó mà triều đình dàn cảnh hãm hại Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê Hà Đông, mất năm 1442.

4

Năm trăm năm. Hỏi đã là lâu?
Mây trắng. Kìa ai tóc trắng đầu
Thơ phú tiên tri – lời sấm trạng
Văn chương giáo huấn lẽ nông sâu…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên hiệu là BẠCH VÂN cư sĩ. Ông sinh năm 1491, quê Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên (1535). Ông được vua Mạc Phúc Hải phong tước Trình Truyền Hầu (1544) (ý so sánh với anh em Trình Di, Trình Hạo ở Trung Quốc giỏi lý số) rồi sau lại phong Trình Quốc Công nên người ta gọi ông là Trạng Trình. Ông có nhiều câu thơ tiên đoán được sự biến động của các triều đại nên sau người đời hay gọi các câu thơ đó là “sấm Trạng Trình”. Ông có để lại cuốn BẠCH VÂN THI TẬP gồm khoảng 100 bài thơ Nôm và khoảng 100 bài thơ chữ Hán. Thơ ông nặng tính giáo huấn nói về nhân tình thế thái (Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến / Gang không mật mỡ kiến bò chi…), đọc xong ta có thể bắt chước cụ Yên Đổ mà thốt lên : “Lạ nhỉ, người xưa cũng thế ư!”. Sau đây xin chép ba bài thơ “không đề” của ông để làm rõ “xuất xứ” các câu thơ của bài “thơ chân dung” này.
Bài 1 : Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dù ai vui thú nào / Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao / Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao / Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.
Bài 2 : Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt cay chua lẫn ngọt bùi / Còn bạc còn tiền còn đệ tử / Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi / Xưa nay đều trọng người chân thực / Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi / Ở thế mới hay nguời bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
Bài 3 : Làm nguời có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn / Khôn được ích mình, đừng rẻ dại / Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn / Khôn mà hiểm độc là khôn dại / Dại vốn hiền lành ấy dại khôn / Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại / Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585.

5

Thương đều thập loại chúng sinh
Đầm đìa dòng lệ chảy quanh thân Kiều
Chữ TÂM vằng vặc gương treo
Sầu tuôn đứt nối còn nhiều trăm năm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DU
Câu đầu nhắc VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du. Câu hai nhắc câu thơ của Tố Hữu : Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều có thể xem là câu thơ thuộc loại hay nhất viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Câu thứ ba nhắc câu Kiều : Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài đồng thời cũng muốn nói chính Nguyễn Du là tấm gương sáng về chữ TÂM. Câu cuối muốn nhắc câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Xuân Diệu dịch : Ba trăm năm nữa mơ màng / Thế gian ai đó khóc chàng Tố Như ). Có lẽ còn nhiều (chứ không phải chỉ ba) trăm năm nữa vẫn còn nhiều người thương khóc Nguyễn Du. Sầu tuôn đứt nối là chữ của Nguyễn Du tả Thúy Kiều thương khóc Đạm Tiên : Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Nguyễn Du (tên hiệu là Tố Như ) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm 1765 mất năm 1820. Sự nghiệp văn chương chủ yếu dành cho thơ chữ Hán, Truyện Kiều không phải là phần tinh túy nhất của thiên tài Nguyễn Du nhưng vì viết bằng chữ Nôm nên được phổ biến rộng sâu hơn.

6

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Cha mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH : Sáng lên Hoành Sơn trông / Chiều xuống Bàn Thạch tắm / Nhặt hòn đá hai nơi / Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3,4 nhắc thơ Cao Bá Quát : Thập tải giao luân cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” (người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp / Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời. Và Một chiếc cùm lim chân có đế / Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh, Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

7

Mắt lòa, lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Câu 1 nói Nguyễn Đình Chiểu là người anh minh sáng suốt, tuy bị mù lòa, nhưng ông luôn nhìn rõ mọi lẽ phải trái; phân biệt kẻ xấu người tốt, không vì một lợi ích cá nhân nào làm lu mờ được đức trung thực, lòng yêu nước thương dân của ông. Câu 2 và 3 nhắc hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, tuyên ngôn về quan niệm sáng tác văn học của ông : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu cuối là nguyên văn câu thơ nổi tiếng của ông nói về lẽ ghét thương : Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre, sinh năm 1822, mất năm 1888.

8

Trong lồng sáo hót
Cần trúc trên vai
Mũ nồi đội lệch
Liên lạc rất tài
Giờ về làm sách
Cho thiếu nhi coi

» Xem/Đóng đáp án

KIM ĐỒNG
Bốn câu đầu nhắc lại hình ảnh Kim Đồng (Nông Văn Dền) đi làm liên lạc trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua các truyện kể và phim ảnh về anh. Câu cuối nhắc tên nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bản lớn nhất nước chuyên xuất bản sách cho thiếu nhi.

9

Bồn chồn nghe sấm, nhớ mưa
Nghe gà gáy, nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ đất, hiến thân
Tên anh – dáng đứng mùa xuân, con đường.

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ANH XUÂN
Câu đầu nhắc bài thơ NHỚ MƯA QUÊ HƯƠNG – Giải thưởng báo Văn Nghệ 1961, trong đó có câu Ôi, tiếng sấm từ xa đang rền vang rộn rã cũng là tiếng súng, tiếng trống trận ở Miền Nam thôi thúc nhà thơ. Từ “bồn chồn” cũng muốn nhắc câu thơ Lê Anh Xuân viết về Sài Gòn thời chiến tranh : Cái quầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về!. TIẾNG GÀ GÁY báo hiệu bình minh cách mạng giải phóng và HOA DỪA là tên các tập thơ của Lê Anh Xuân. GIỮ ĐẤT là tên tập văn xuôi của Lê Anh Xuân viết ở chiến trường Miền Nam. Tên thật của tác giả là Ca Lê Hiến (quê ông ở Bến Tre) khi về chiến đấu ở Miền Nam, ông lấy bút danh Lê Anh Xuân và đã hy sinh. Ở TPHCM, hiện có đường Lê Anh Xuân, một con đường nhỏ nhưng đẹp, ngay trung tâm quận I. Chữ “dáng đứng” cũng muốn nhắc bài thơ DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM của Lê Anh Xuân : Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng anh gượng đứng lên, tỳ súng trên xác trực thăng / và anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng / Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng / Có thằng sụp xuống chân anh lánh đạn / Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm / Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công /…/ Vẫn đứng lên im như bức thành đồng / Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Lê Anh Xuân sinh năm 1940 tại Bến Tre. Hy sinh năm 1968 tại Long An ven Sài Gòn./toggle]

[tabby title="10"]Bỏ kiếp sống mòn, nửa đêm vào rừng kháng chiến
Những cánh hoa tàn nở thắm lại theo
Đôi mắt ngạo cười Lý Cường, Bá Kiến
Bát cháo hành thơm tình Thị Nở-Chí Phèo[toggle]NAM CAO
Câu 1 nhắc 3 tác phẩm : SỐNG MÒN (tiểu thuyết); NỬA ĐÊM (tập truyện), Ở RỪNG (nhật ký). Câu 2 nhắc tập truyện NHỮNG CÁNH HOA TÀN; Câu 3 nhắc tập truyện ĐÔI MẮT và tập truyện CƯỜI. Hai câu cuối cùng nhắc tác phẩm CHÍ PHÈO và một số chi tiết của truyện.
Nam Cao có tên khai sinh là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 ở làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân Nam Hà; hy sinh năm 1951 tại Ninh Bình.

11

Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Chẳng chia ly cùng bạn đọc bao giờ
Con đuờng ấy nắng ngân vang ngàn chuông nhỏ
Xanh mơ màng đẹp mãi giấc anh mơ.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN MỸ
Câu 1, 2 nhắc bài thơ CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ (chép ở sau). Bài thơ ấy cũng như tên tuổi của tác giả không bao giờ “chia ly” với bạn yêu thơ. Câu 3 nhắc bài CON ĐƯỜNG ẤY : Con đường nhỏ / Đi giữa hai hàng cây / Cái con đường ấy mình đầy bóng râm / Con hươu sao đã ruỗi nằm / Để nghe những tiếng thì thầm ở trên / Đôi bên là nắng / Thu đã đượm vàng / Nắng bay từng giọt / Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông…Câu cuối nhắc bài GIẤC MƠ XANH : …Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi / Là Ô Loan, đầm Mẹ sáng ngời / Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi / Nâng dải mơ lên tới đỉnh trời.

Bây giờ xin chép bài CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ : Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng / Trưa một ngày sắp ngả sang Đông / Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ / Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ / Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa / Chồng của cô sắp sửa đi xa / Cùng đi với nhiều đồng chí nữa / Chiếc áo đỏ rực như than lửa / Cháy không nguôi trước cảnh chia ly / Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia / Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy / Không che được nước mắt cô đã chảy / Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời / Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi / Và rạng đông đã bừng trên nét mặt / Một rạng đông với màu hồng ngọc / Cây si xanh gọi họ đến ngồi / Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai / Ngày mai sẽ là ngày xum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi / Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế / Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ / Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào / “Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” / Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy / Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi / Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người / Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp / Một làng xa giữa đêm giá rét… / Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi / Như không hề có cuộc chia ly.

Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 ở Tuy An, Phú Yên, hy sinh năm 1971 ở Trà My, Quảng Nam

12

Anh là ai? Một sinh viên
Tên anh niềm ước bình yên quê nhà
Nghĩa đời đâu chỉ đô la
Trái bom đánh giặc chính là trái tim.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THÁI BÌNH
Nguyễn Thái Bình còn có tên là Việt Thái Bình, một sinh viên xuất sắc của Miền Nam du học ở Mỹ trong những năm giặc Mỹ đánh phá đất nước ta. Trong thời gian học tại Mỹ, Nguyễn Thái Bình là một sinh viên đấu tranh tích cực chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã gạt bỏ mọi danh vọng tiền tài mà kẻ thù đưa ra mua chuộc, để chống lại kẻ thù của dân tộc ngay trên đất nước chúng. Anh bị đưa về giết hại ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 2 tháng 7 năm 1972. Trong bức thư ngỏ gửi nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, có đoạn anh viết: “Trái bom của tôi chỉ là trái tim của tôi. Nó có thể nổ tung để thức tỉnh lương tâm của mọi người…”

13

Thanh hỏi, thanh ngã, thanh không
Thanh nào cũng một tấm lòng vì dân
Phút thiêng gọi Bác ba lần
Gửi tên làm nhịp cầu xuân vĩnh hằng

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VĂN TRỖI
Tin anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường được truyền ra Bắc bằng vô tuyến nên ít nhiều bị nhiễu. Hơn nữa, tiếng Miền Nam đôi khi không phân biệt dấu hỏi với dấu ngã khi phát âm, nên tên anh được báo chí đăng khác nhau : Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Trôi. Sau này, bộ Văn hóa đã có quy định bằng văn bản là tất cả các sáng tác dù dùng tên gì vẫn có giá trị. Câu thứ ba muốn nhắc bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu :”Hồ Chí Minh muôn năm / Hồ chí Minh muôn năm / Hồ Chí Minh muôn năm /Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần!” Câu bốn nhắc “cầu Công Lý” đã được đổi tên là cầu Nguyễn Văn Trỗi.Và cũng muốn nhắc câu thơ Tố Hữu: “Anh đã chết rồi / Anh còn sống mãi / Chết như sống, anh hùng, vĩ đại”

14

Quan văn không phạm hơi đồng
Một cây quốc trụ vàng ròng mười mươi!

» Xem/Đóng đáp án

Cố Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG
Câu đầu nhắc đôi câu đối lưu truyền trong dân gian: “Ba mươi năm kháng chiến cầm quân, mừng tướng Võ vẫn Nguyên áo Giáp / Cả một đời lo toan việc nước, phục quan Văn không Phạm hơi Đồng”. Câu hai nhắc một giai thoại : Hồi ở chiến khu Việt Bắc, Quanh bàn làm việc của Bác ở nhà sàn có bốn cột, ở đó treo bốn ống bương. Bác gửi công văn cho các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh (Quân, Dân, Chính, Đảng) và Bác nói vui: Đó là tứ trụ của Bác.

15

Chiến sĩ Việt Nam tiến về Hà Nội
Buồn tàn thu gửi lại Suối Mơ
Cứ ngỡ Thiên Thai mà làng tôi đó
Tiến quân ca tôi hát giữa ngày mùa

» Xem/Đóng đáp án

VĂN CAO
CHIẾN SĨ VIỆT NAM, TIẾN VỀ HÀ NỘI, BUỒN TÀN THU, SUỐI MƠ, THIÊN THAI, LÀNG TÔI, TIẾN QUÂN CA, NGÀY MÙA là các ca khúc tiêu biểu của Văn Cao được nhắc đến trong bài.
Văn Cao họ Nguyễn. Ông sinh năm 1923 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định, mất năm 1995 tại Hà Nội.

16

Tướng Võ có tên Văn
Từng tam khí Đờ lát
Lừng lẫy trận chín năm
Vẫn lành nguyên áo giáp.

» Xem/Đóng đáp án

VÕ NGUYÊN GIÁP
Câu đầu nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp có biệt danh là “Văn”. Câu hai nhắc bài thơ TAM KHÍ ĐỜLÁT- ĐỜTÁTXINHI của Tú Mỡ: “Tướng giặc tên Đờlát / Họ Đờtátxinhi / Vùa chết bệnh não gì? / Chẳng qua vì ức đó /…/ Chẳng hay trước khi chết / Tướng có kêu sầu bi / Trời sinh Tátxinhi /Sao sinh Võ Nguyên Giáp!” Câu ba nhắc cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy về quân sự, thơ Tố Hữu : “Chín năm làm một Điện Biên / Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Câu cuối là nhắc tên Đại tướng.

17

Du kích Sông Thao hát bài ca du kích
Hành quân xa vì chiến thắng Điện Biên
Vui mở đường, ta lại vào chiến dịch
Cho Việt Nam –Quê hương tôi thống nhất hai miền.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ NHUẬN
Trong bài nhắc tên các ca khúc của Đỗ Nhuận rất quen biết với nhiều người: Du kích sông Thao, Bài ca du kích, Hành quân xa, Chiến thắng Điện Biên, Vui mở đường và Việt Nam quê hương tôi. Đỗ Nhuận sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (đã mất).

18

Lên ngàn mát lá xanh che
Có anh chiến sỹ lắng nghe nhạc rừng
Giữa vui lòng bỗng rưng rưng
Nghe giông bão nổi giữa chừng bài ca

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG VIỆT
Hai câu đầu nhắc các nhạc phẩm: Lên ngàn, Lá xanh, Nhạc rừng. Hai câu thơ cuối nhắc nhạc phẩm:Tình ca (…Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu quê xa / Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba…). Câu này cũng muốn nói Hoàng Việt đã hy sinh đúng lúc tài năng đang độ chín gây nhiều thương tiếc cho người thân và người yêu nhạc. Hoàng Việt sinh năm 1928 tại Tiền Giang. Hy sinh ở chiến trường miền Nam năm 1967 (tên khai sinh là Lê Chí Trực)

19

Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Lên đàng hay xuống đường cũng vì giải phóng miền Nam
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch quân cướp nước
Phía chân trời bình minh reo vang

» Xem/Đóng đáp án

LƯU HỮU PHƯỚC
Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Xuống đường, Giải phóng miền Nam, Tiến về Sài Gòn, Bình minh reo vang là các nhạc phẩm nổi tiếng của Lưu Hữu Phước. Ông còn có các bút danh khác như Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Hồng Chí … Là một nhạc sỹ hàng đầu về thể loại hành khúc của Việt Nam. Sinh năm 1921 tại Cần Thơ (đã mất)

20

Huyền thoại mẹ hát bên đèn
Mưa rơi rơi, dáng mẹ hiền nghiêng che
Trái tim lớp lớp người nghe
Mãi còn một cõi đi về thong dong
Tay trong tay nối lớn vòng…

» Xem/Đóng đáp án

TRỊNH CÔNG SƠN
Hai câu thơ đầu nhắc một bài hát nổi tiếng của Trịnh Công Sơn là Huyền thoại mẹ và một vài chi tiết về lời ca. Hai câu tiếp được các bạn dự thi giải thích theo hai hướng :1. Những bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Một cõi đi về, sẽ mãi mãi còn sống trong trái tim những người yêu nhạc của ông. 2. Trịnh Công Sơn sẽ còn được bạn yêu nhạc nhớ mãi và trái tim họ chính là cõi đi về của ông. Câu cuối nhắc ca khúc Nối vòng tay lớn. Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Đaclak (quê ở Huế), mất năm 2001 tại TP. Hồ Chí Minh.

21

Xuân chiến khu đã đẹp rồi
Xuân thành phố đẹp gấp mười lần hơn
Chim ơi, đừng hót để… hôn!
Hoa xuân mãi mãi sẽ còn hồng tươi.

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN HỒNG
Câu 1 nhắc bài hát Xuân chiến khu, câu 2 nhắc bài hát Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh là mùa xuân đẹp nhất quê mình). Câu 3 nhắc bài hát Mùa xuân bên cửa sổ: Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau / … / Chim ơi đừng bay nhé, hoa ơi hãy tỏa hương / … / Cho đôi bạn trẻ đón xuân về…. Câu cuối muốn nhắc tên nhạc sĩ Xuân Hồng. Tên khai sinh là Nguyễn Xuân Hồng, sinh năm 1928 tại Tây Ninh (đã mất)

Chia sẻ bài này: