Chân dung nhà văn (bút danh vần A-B-C)

01

Anh ĐứcTrong hòn đất cất anh hùng
Làm nên sóng gió một vùng biển xanh
Chị Tư nhân hậu, hiền lành
Đứa con của đất đức tình vẹn hai
(Trẻ trung nhảy bổng bay dài
Nên nay ông lão mơ hoài bóng chim?)

» Xem/Đóng đáp án

ANH ĐỨC (nhà văn)
Anh ĐứcCâu 1 nhắc tác phẩm HÒN ĐẤT rất nổi tiếng của Anh Đức và tập truyện LÃO ANH HÙNG DƯỚI HẦM BÍ MẬT. Câu 2 nhắc các tập: BIỂN ĐỘNG, BIỂN XA, MIỀN SÓNG VỖ. Câu 3 nhắc tác phẩm MỘT TRUYỆN CHÉP Ở BỆNH VIỆN sau đổi là CHỊ TƯ HẬU khi dựng thành phim, có sự tham gia diễn xuất của nghệ sĩ Trà Giang. Câu 4 nhắc tiểu thuyết ĐỨA CON CỦA ĐẤT, đồng thời ĐứcTình ở câu này là muốn nhắc tên khai sinh của nhà văn là Bùi Đức Ái. Hai câu cuối nhắc tập truyện GIẤC MƠ CỦA ÔNG LÃO VƯỜN CHIM.

Nhà văn Anh Đức sinh năm 1935 tại Châu Thành, Kiên Giang. Hiện đang sống và viết tại Tp. Hồ Chí Minh.

02

Bằng ViệtThơ tình – Luật lý đâu hơn?
Bàng hoàng nhìn đất xanh rờn sau mưa
Trái tim mình trở lại chưa?
Nghe như sống mũi đến giờ còn cay!
Bốn mươi năm trước hăm hai…

» Xem/Đóng đáp án

BẰNG VIỆT (nhà thơ)
Bằng ViệtCâu đầu muốn nói nhà thơ Bằng Việt vốn tốt nghiệp Đại học Luật tại Liên Xô. Câu 2, nhắc tập thơ ĐẤT SAU MƯA. Chữ  bàng hoàng là lấy từ câu thơ Bằng Việt trong bài NGHE NHẠC BÊ -THÔ- VEN từng làm bàng hoàng nhiều bạn thơ và bạn yêu thơ : Tiếng trống thúc bàng hoàng hai thế kỷTrái tim lớn mang niềm đau khổ lớn / Trái tim trải những vòng sóng gợn / Lan truyền đi mãi mãi đến tương lai… Cả hai câu đầu có bạn dự thi nhắc một ý thơ của Goethe : Mọi lý luận đều  xám, nhưng cây đời thì mãi mãi xanh tươi. Câu 3 nhắc bài thơ TRỞ LẠI TRÁI TIM MÌNH của Bằng Việt, từng được giải nhất của Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Câu tiếp nhắc một câu trong bài thơ BẾP LỬA của Bằng Việt : Lên sáu tuổi cháu đã quen mùi khói /…/ Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !. Câu cuối là chúng tôi muốn cập nhật một thông tin về tác giả : ông vừa tục huyền với một cô gái rất trẻ. Chúng tôi muốn dùng câu thơ Nguyễn Công Trứ để chúc mừng ông.

Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê Hà Tây. Hiện sống và viết tại Hà Nội. Hiện ông là chủ tịch hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.

03

Bích KhêHỡi ơi đúng độ xuân hồng
Tỳ bà nhạc tắt, ngô đồng lá rơi
Tinh hoa gửi lại cho đời
(Xưa tinh huyết đã tặng “người khỏa thân”?)
Vừa khai mào cuộc duy-tân
Mà lời tuyệt mệnh mộ phần đã ghi!

» Xem/Đóng đáp án

BÍCH KHÊ (nhà thơ)
Bích KhêTrong bài nhắc hai tập thơ chính của Bích Khê là TINH HOA và TINH HUYẾT. “Tinh huyết” đã được in năm 1939 còn “Tinh hoa” là tập tác giả dồn hết tâm lực để sáng tác thì mãi năm1997 NXB Hội Nhà văn mới cho ra mắt bạn đọc. Nhiều bài thơ xuất sắc của tác giả được đề cập : XUÂN HỒNG, TỲ BÀ, NHẠC, TRANH LÕA THỂ, DUY TÂN, LỜI TUYỆT MỆNH… bài “tỳ bà”  có 7 khổ 4 câu 7 chữ gồm toàn những từ vần bằng: Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm / Trăng đan qua cành muôn tơ êm / Mây nhung pha màu thu trên trời / Sương lam phơi màu thu muôn nơi /…/ Cây đàn yêu đương làm bằng thơ / Dây đàn yêu đương run trong mơ / Hồn về trên môi kêu : em ơi / Thuyền hồn không đi lên chơi vơi… Hai câu cuối của bài này được Hoài Thanh  đánh giá là hay nhất trong nền thi ca Việt Nam: Ô hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi ! vàng rơi ! thu mênh mông “Tranh lõa thể” cũng là một tuyệt tác của tác giả: Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ / Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này? / Nàng ở mô xiêm áo bỏ đâu đây ? / Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm, / Nàng là tuyết: làn da nàng tuyết điểm / Nàng là hương: nhan sắc mộng lên hương / Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường; / Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc./ Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc / vài chút trăng say đọng ở làn môi / Ô run run mấy nét vú phong đồi / Chừng đây đó gót sen vàng xây động… “Lời tuyệt mệnh” còn đề ở bia mộ tác giả: Thân bệnh : ngô vàng mưa lá rụng / Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi / Sau nghìn thu nữa trên trần thế / Hồn vẫn về trong ánh nguyệt soi.

Bích Khê tên khai sinh là Lê Quang Lương sinh ngày 24/3/1916 ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, mất ngày 17/1/1946 trong khi bao dự định “duy-tân” thơ: đưa vào thơ các yếu tố tượng trưng, siêu thực, thơ cấu trúc, “thơ lõa thể”… vừa được nhen nhóm.

04

Bùi Chí VinhChàng trai ơi, nhớ lắm thay
Như rượu đế nhớ thịt cầy, nhớ ghê !
Như ca-ra nhớ ô-kê
Như sấm sét bỗng nhớ về thu lôi!
Em không bé bỏng, lớn rồi
Anh đang bắt rắn, hay ngồi điểm danh?

» Xem/Đóng đáp án

BÙI CHÍ VINH (nhà thơ)
Bùi Chí VinhBốn câu đầu nhại theo bài THIẾU NỮ (Cô gái ơi, anh nhớ em/ như con nít nhớ cà rem vậy mà/ như con dế trống đi xa/ Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi/ Con dế thì gáy một hơi/ Còn anh gáy suốt một thời con trai…). Câu 4 nhắc bài SỰ  TÍCH CỘT THU LÔI (tuyển thơ lục bát Việt Nam) (Không hề cháy thịt cháy da/ Vậy mà thân thể tan ra dễ dàng/ Lặng im hết hệ tuần hoàn/ Chỉ còn đứng giữa trần gian hai người/ Chỉ còn môi thật là môi/ Mắt thật là mắt, có lời bên trong/ Đáng gì cái lạnh mùa đông/ Gió càng mang rét, càng hồng má thêm/ Một người nhỏ nhẹ xưng em : / Mở đầu tiếng sét có tên “ái tình” / Bầu trời đột ngột bình minh/ Chôn chân anh đứng một mình… thu lôi). Câu 5 nhắc bài BÉ… BỎNG (Bé bỏng trong tim bé bỏng trong thơ / Em bé bỏng trong tay anh bé bỏng/ Viên sỏi lăn trên vỉa hè rất nóng/ Viên sỏi là em, còn anh hóa vỉa hè/ / Anh không cần chờ đợi một vòm me / Che sao được buổi trưa đang chết khát/ Cứ lồ lộ, anh không cần râm mát/ Bé bỏng chừng nào nướng chín thịt da anh). Câu 6 nhắc bài ÔNG GIÀ BẮT RẮN (Riêng ta đi kiếm dây thòng lọng/ Đợi nàng rắn cái lén đi qua…) và bài ĐIỂM DANH (Bích ơi, Dung ơi, Thảo ơi / Phượng ạ, Giang ạ, Kim ạ / Các em có mặt như những điếu thuốc lá / Để vành môi anh thở ra những sương mù…).

Bùi Chí Vinh sinh năm 1954 tại Sài Gòn (quê Nam Định). Hiện sống và viết tại Tp.Hồ Chí Minh.

05

Bùi GiángÔng giằng búi tóc. Ông khóc ông cười…
Còn hai con mắt khóc người một con
Ngàn thu rớt hột mưa nguồn
Đêm trăng ngắm lá hoa cồn hiện lên
Từ duy lý tới ngẫu nhiên
Câu thơ vớ-vẩn mà nên thần-sầu!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI GIÁNG (nhà thơ)
Bùi GiángGiằng búi bà Bùi Giáng (nói lái). Đây là phát hiện của chính Bùi Giáng. Rứt tóc, bứt tai, cười khóc vô cớ là đặc điểm của những người bị bệnh tâm thần : Người điên cái bóng cũng điên / Người khùng cái mộng oan khiên cũng khùng… Câu 2 là thơ Bùi Giáng (MẮT BUỒN). Câu 3 và 4 nhắc các tập thơ : NGÀN THU RỚT HỘT, MƯA NGUỒN, ĐÊM NGẮM TRĂNG, LÁ HOA CỒN. Câu 5: Bùi Giáng từng có những sách khảo luận về triết khá nổi tiếng, nhưng thơ ông như được sáng tác bằng máy tính điện tử nhờ phương pháp Monte – Carlo. Để rõ câu cuối, xin trích lời nhà văn Đặng Tiến trong bài Nhớ Bùi Giáng (Hồng Lĩnh xuân 1999) : “Nhà thơ Bùi Giáng ra đi, để lại cho đời những câu thơ vớ-vẩn-thần-sầu”. Xin trích một số câu : Xưa kia tôi đã có lần / Và bây giờ đã có phần tôi quên. Hay : Hỏi rằng người ở quê đâu? / Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà. Hoặc : Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu / Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa. Hay nữa : Nhớ em từ trước đến sau / Từ đầu ríu rít tới đau cuối cùng. Hoặc nữa : Em đi thể diện nhu mì / Mắt ngơ ngẩn ngó, tai tùy nghi nghe…

Bùi Giáng sinh năm 1925 tại quê Quảng Nam, mất năm 1998 tại Sài Gòn.

06

Bùi Hoàng TámĐã từng thịt chó lá mơ
Chống tình lệch nhịp, nuôi thơ, giữ hồn
Vội gì lo giải Quí Đôn
Hãy kiếm xị cồn lưng lửng chiều nay…

» Xem/Đóng đáp án

BÙI HOÀNG TÁM (nhà thơ)
Bùi Hoàng TámBùi Hoàng Tám đã từng mở quán bán thịt chó để ổn định kinh tế đặng có thể yên tâm theo đuổi nàng thơ. Dù ông tỏ ra dứt tình với thơ : Thà rằng thịt chó lá mơ / Còn hơn làm những câu thơ tầm thường, nhưng lúc nào cũng bần thần ngơ ngẩn làm ảnh hưởng đến công việc hàng họ. Vợ ông đã phải bực mình: “Thơ! Thơ với chả thẩn! Có mà dí l… vào thơ!”. Trong một bữa nhậu với bạn bè máu me thơ phú, Bùi Hoàng Tám đã thấm say, trầm ngâm đọc: Vợ tôi nửa dại nửa khôn / Một ngày mấy bận dí l… vào thơ. Một bạn thơ (Xuân Đam?) vừa thông cảm với bạn, vừa chạnh nghĩ cảnh mình liền đọc nối: Vợ tôi dở tỉnh dở mơ / Một ngày mấy bận dí thơ vào l… (Còn vài bạn thơ góp thêm nhiều câu khác, song không tiện chép ra đây). Giải thưởng Lê Quí Đôn là giải thưởng của Hội Văn Nghệ Thái Bình.
Trong bài thơ trên nhắc hai tác phẩm của Bùi Hoàng Tám từng trúng giải thơ Lục Bát báo Giáo Dục và Thời Đại: LỆCH NHỊP: … Éo le chắc lép là Trời / Bắt tôi lệch nhịp với người tôi yêu / Em là sáng, tôi là chiều / Ban trưa ở giữa với nhiều nhớ mong / Biết rồi em sẽ lấy chồng / Tôi về sống nốt cho xong một đời / Thương chồng em, thương vợ tôi / Thương bao đôi lứa trên đời lệch nhau – và bài ANH CÒN LƯNG LỬNG CHIỀU NAY : Nào em – em rót nữa đi / Uống vì còn sống / Uống vì còn say / Nếu không có buổi chiều nay / Thì anh biết buộc chuỗi ngày vào đâu? / Chén này đã đổ sang nhau / Cho kỳ mặt rượu nát nhàu thì thôi / Cho kỳ lẫn lộn buồn vui / Cho câu thấp thoáng – cho lời trăm năm / Cho kỳ bóng nắng sủi tăm / Cho xâm xẩm nhớ – Cho đằm đặm quên / Cho kỳ tốc áo em lên / Ném đời anh xuống cho quên ngọn ngày / Anh còn lưng lửng chiều nay / Và còn lưng lửng chén này / Nào em ! Bùi Hoàng Tám chưa cho in tập thơ riêng nào (dù ông đã cho in báo chí địa phương và trung ương khá nhiều). nhưng chỉ đọc đôi bài của ông ta đã thấy ông quả là thi sĩ.

Bùi Hoàng Tám sinh năm 1958 tại Thái Bình, mấy năm nay ông làm phóng viên “Nhà báo và công luận” ở Hà Nội.

07

Bùi Minh QuốcCầm chùm cúc gọi tên niềm hạnh phúc
Nhớ mắt em…
Nhớ góc vườn hầm mẹ cỏ lên xanh.
Máu thấm đất nuôi ta thành dũng sĩ
Đâu phải chỉ qua nhau đi lướt vô tình!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI MINH QUỐC (Dương Hương Ly – nhà thơ)
Bùi Minh QuốcCâu một nhắc BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC (tưởng nhớ Xuân Quý): …Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ Con sông Giằng gầm réo miên man/ Nước lũ về… Trang giấy nhỏ mưa chan/ Em vẫn viết, lòng dạt dào cảm xúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc/ …/ Trong một góc vườn cháy khét na-pan/ Em sửng sốt gặp một chùm hoa cúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc… Câu 2 nhắc Bài MẮT EM: Lạ kỳ đôi mắt của em / Ngước nhìn như thể mắt chim dịu dàng/ Mà sao trút lửa nồng nàn / Phút đầu tiên ấy bàng hoàng lòng anh/ Ôi em đôi mắt trong lành / Mở cho anh thấy cao xanh tâm hồn/ Như trời xanh nắng tươi non/ Thoáng nhìn nhau đã vẹn tròn tình yêu. Hai câu tiếp nhắc tập MẢNH ĐẤT NUÔI TA THÀNH DŨNG SĨ (Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam). Câu cuối nhắc bài CÓ KHI NÀO… được nhiều người thuộc: Có khi nào trên đường đời tấp nập/ Ta vô tình đã đi lướt qua nhau/ Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất/ Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu?…

Bùi Minh Quốc sinh năm 1940 tại Hà Tây, hiện sống ở Đà Lạt.

08

Bút NgữQuê ta nước úng, nước cường
Đêm về sáng, thức bên giường, lo mưa…
Thời loạn lạc đã qua chưa?
Vẫn còn đây: pháo đài xưa Đồng Bằng

» Xem/Đóng đáp án

BÚT NGỮ (nhà văn)
Bút NgữTrong bài nhắc các tác phẩm chính trong rất nhiều tác phẩm của Bút Ngữ: BÊN ĐỒNG NƯỚC ÚNG (tập truyện), ĐÊM VỀ SÁNG (tiểu thuyết), NHỮNG NGÀY NƯỚC CƯỜNG (tập truyện), NHỮNG THỜI LOẠN (tiểu thuyết lịch sử ) và PHÁO ĐÀI ĐỒNG BẰNG. Ngoài thành tựu sáng tạo văn học, Bút Ngữ còn đóng vai trò trụ cột cho việc tổ chức, chăm lo xây dựng nền văn học của tỉnh Thái Bình trong nhiều năm trước đây.

Bút Ngữ tên khai sinh là Phan Đình Khương, sinh năm 1931 tại Vũ Thư, Thái Bình. Hiện ông cư ngụ tại thị xã Thái Bình.

09

Bút TreQuê hương thi sĩ Phú Thò
Chè xanh, cọ biếc, mập to trái chuồi
Lòng còn nhớ mãi cái buôi
Đầu làm phân bắc, chăn nuồi đàn bo
Cu Ba lông mượt giống to
Cách màng văn hóa đất tô lại càng…

» Xem/Đóng đáp án

BÚT TRE (nhà thơ)
Bút TreTrong bài nhắc một số tập thơ của Bút Tre: RỪNG CỌ ĐỒI CHÈ, QUÊ HƯƠNG PHÚ THỌ, PHÚ THỌ LỚN LÊN, MỘT NGÀY CỦA PHÚ THỌ. Các từ trái chuồi, cái buôi, phân bắc, chăn nuôi, cách màng, văn hóa, lại càng… là muốn nhắc các câu thơ “Bút Tre” được lưu truyền trong dân gian: Liên hoan có một trái chuồi/ Ra về nhớ mãi cái buôi hôm này; Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh/ Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng; Chăn nuôi mấy cậu gầy nhom / Làm đàn heo nái xòn xòn đẻ sai; Chú đi công tác bảo tàng/ Cũng là công việc cách màng giao cho; Bây giờ đang đứng trưởng ty/ Bút Tre thơ phú tôi thì có sau/ Cuối cùng xin nhắc một câu/ Văn hóa quần chúng là đầu chúng ta!; Những con đường rộng thênh thang/ Thái Nguyên Yên Bái lại càng Lào Cai.

Trong tập Chân dung nhà văn (hý họa) này chúng tôi đưa Bút Tre vào vì cuốn sách ít nhiều có tính giải trí. Tuy nhiên cũng muốn qua đây, một lần nữa làm rõ “hiện tượng thơ Bút Tre” này.

Bút Tre tên khai sinh là Đặng Văn Đăng sinh 23/8/1911 tại Đồng Lương, Sông Thao, Vĩnh Phú, mất ngày 18/5/1987. Ông nguyên là trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú, một cán bộ có tâm huyết, có kiến thức rộng, sống thanh bạch, lạc quan. Ông sáng tác nhiều thơ ký là Bút Tre. Thơ ông là thơ trữ tình, thơ chính luận, thơ thời sự để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Hoàn toàn không có ý biếm hài. Nhưng khả năng làm thơ quá kém nên trở nên dớ dẩn và buồn cười. Cụm từ “Thơ Bút Tre” đã được dùng thay cho cụm từ “Thơ con cóc” để chỉ sự dở của thơ. Đọc thơ ai, thấy dở, trước kia người ta thốt lên: “Thơ con cóc!” thì bây giờ người ta kêu là “Thơ Bút Tre!”. Lúc đầu người ta tìm các câu thơ dở của ông, “nhuận sắc” cho dớ dẩn hơn, tục tĩu hơn và bảo là thơ của ông. Sau dần người ta tạo ra thơ mới, lấy cái dớ dẩn nực cười làm “mục tiêu sáng tạo” và gọi luôn đó là “Thơ Bút Tre”. “Nghệ thuật thơ Bút Tre” chủ yếu là ở 3 điểm: 1. đặt sai ngữ pháp; 2. do bí vần hay thanh bằng trắc mà đánh dấu “huyền”, “hỏi”, “sắc”, “nặng”, “ngã” tùy tiện; 3. do số từ trong câu đã quy định (chủ yếu là trên 6 dưới 8 của thể Lục-bát) mà ngắt xuống dòng vô lối, bẻ gẫy một từ thành nửa trên nửa dưới. Trong khi áp dụng 3 “thủ pháp” trên cố gắng tạo ra hoặc hướng người đọc nghĩ tới các từ tục tĩu để gây cười.

Bút Tre Đặng Văn Đăng hoàn toàn không có ý thức khơi nguồn một dòng thơ nào cả. Thơ Bút tre nói như Nguyễn Văn Toại là cái họa (chứ không phải cái phúc) của một đời cầm bút. Các câu như: Anh đi công tác Pờ lây/ cu dài dằng dặc biết ngày nào ra; Chị em phụ nữ đánh cầu / Lông bay vun vút trên đầu anh em; Không đi không biết Cửa Lò/ Đi về mới biết nó to hơn cửa mình… đều do “dân gian… lận” đặt ra. Có bài lần trước nghe: Không đi không biết Tam Đao/ Đi thì chẳng biết nơi nào mà ngu/ Một giường nhốt những hai cu/ Sướng khô đành chịu đến chu nhật về. Lần sau nghe đọc lại thì câu cuối đã đổi thành: Gối không đủ gối lấy mu gối đầu.

Hiện tượng Thơ Bút Tre là hiện tượng vô hại. Nó góp một tiếng cười vui mà cả từ người làm nghề văn chương nghệ thuật đến người xa lạ với nghề văn cũng thấy vui thú nên chắc chắn còn được duy trì và phát triển.

10

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Đù mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT (nhà thơ)
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH: Sáng lên Hoành Sơn trông/ Chiều xuống Bàn Thạch tắm/ Nhặt hòn đá hai nơi/ Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3, 4 nhắc thơ Cao Bá Quát: Thập tải giao luân cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” ( người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời.Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

11

Cao Xuân SơnHắn từng là chiếc ghế gẫy
Đặt chỗ nào nhìn cũng nghiêng
Từng tiễn Kinh Kha xuất ngọai
Không thích – khách đâu, thích tiền!Mới vừa qua đêm giã biệt
Cánh cửa hắn đã khép hờ
Hắn gióng hồi chuông… xỏ lá
Coi chừng! Các bé ngây thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Đùa với CAO XUÂN SƠN (nhà thơ)
Cao Xuân SơnHai câu đầu nhắc bài THƠ VUI GIỮA CHUỖI NGÀY BUỒN với khổ kết Chẳng bù cho những lúc/ Hét vợ con… như điên/ Giờ như chiếc ghế gẫy/ Đặt đâu nhìn cũng nghiêng!. Hai câu tiếp nhắc bài TIỄN EM TRAI ĐI HÀN QUỐC (…Con thơ, vợ dại thương suông, ích gì/ Áo cơm nặng lắm đi đi/ Cái ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời?/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha). Bốn câu cuối nhắc tên ba tập thơ của Cao Xuân Sơn: ĐÊM GIÃ BIỆT (Rụng xuống trái còn xanh/ là tại trời bão nổi/ Chiếc lá vàng lìa cành/ là mùa thu có lỗi / / Sông cạn dòng nước chảy / tại đất nhiều bể dâu/ Trăng khuyết vẹt đỉnh đầu/ tại trời đêm nguyệt thực/ / Tất cả đều hiểu được/ duy chỉ một điều này/ sao không là ai khác/ mà em – vừa chia tay?), CÁNH CỬA KHÉP HỜ (Anh khép hờ cánh cửa phòng anh/ có thể gió bất ngờ đưa hương tới…) và CHUÔNG LÁ (Không gió không mưa lá chiều cứ rụng/ Giọt giọt chuông/ buông/ sầm sậm mặt ngày…)

Cao Xuân Sơn sinh năm 1961 tại Hà Nam, hiện công tác tại chi nhánh NXB. Kim Đồng tại TP. Hồ Chí Minh.

12

Chế Lan ViênHỡi những ma Hời trong đêm sờ soạng
Giữa điêu tàn ta dựng nguy nga
Ta là tháp Bay-on bốn mặt
Ta làm ra ánh sáng phù saTừ rối cạn đổi đời làm… rối nước!
Trên đá trồng hoa, trên dây làm xiếc
Dẫu Châu – Thành là chuyện trời ơi
Ta cũng đã đẻ ra đàn tuấn mã cho đời!

» Xem/Đóng đáp án

CHẾ LAN VIÊN (nhà thơ)
Chế Lan ViênHai câu đầu nhắc tập thơ ĐIÊU TÀN vừa ra đời đã làm rạng tên tuổi tác giả. Cảnh ma sờ soạng, máu chảy xương rơi, sọ dừa lăn lóc… có tần suất xuất hiện rất cao trong tập thơ này. Câu 3 nhắc bài THÁP BAY-ON BỐN MẶT: Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình. Câu 4 nhắc tập ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA tập thơ từng làm chấn động văn đàn. Những câu thơ không có ý học mà thuộc thường là ở tập này như Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn hay Xa mẹ mười năm đi khắp nước/ Trăm quê chưa dễ thực quê nhà/ Sáng nay mới thực về quê nhỉ: Bóng mẹ già ai giống mẹ ta. Câu thứ 5 nhắc bài RỐI CẠN VÀ RỐI NƯỚC: Anh đẽo tâm hồn anh thành con rối để yêu em/ Anh hóa gỗ, hóa dây hóa dại khờ ngũ sắc/ Tuồng tích ấy chú rối mình đủ khóc/ Cần chi bàn tay nào đến giật dây thêm/ * / Anh rối nước muốn lên bờ thành rối cạn/ Em đi xa ao thương nhớ hóa đầy/ Anh đứng giữa lệ mình trơ không dám khóc/ Vui nỗi gì khán giả vỗ ran tay. Câu 6 nhắc tập HOA TRÊN ĐÁ và bài XIẾC (2): Anh lên cao chả có dây an toàn nào thắt ở sau lưng/ Trừ em ra – -đóa hồng trên mặt đất-/ Chỉ lơ đễnh buông tay là đi đứt/ Lên cao làm chi? Là để hái cành hồng. Ở đây cũng muốn nói tài thơ, tài sử dụng ngôn từ của Chế Lan Viên cũng giống như nhà ảo thuật làm xiếc vậy. Hai câu cuối nhắc bài ANH NHƯ NGƯỜI NGHE CÓ CHÂU THÀNH XA: Anh như người nghe có châu thành xa liền đẻ ra giống ngựa để đi tìm/ Đến nơi chả có châu thành nào cả/ Nhưng đã đẻ ra giống ngựa/ Toàn tuấn mã/ Mà nếu đem châu thành ra trả giá/ Có người yêu ngựa sẵn sàng đem.

Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Quảng Trị, mất năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

13

Chim TrắngTên anh dí dỏm vô cùng
Đồng bằng, miền núi khắp vùng yêu thương
Ngoại ơi, một góc quê hương
Tình yêu gọi, những ngả đường hướng theo!

» Xem/Đóng đáp án

CHIM TRẮNG (nhà thơ)
Chim TrắngCâu 1 nhắc tập thơ TÊN EM RỰC RỠ VÔ CÙNG. Chúng tôi sửa chữ em thành chữ anh vì “Chim Trắng” cũng rực rỡ lắm chứ! Nó là biểu tượng của Hòa Bình, ai chả yêu! Câu 2 nhắc tập thơ ĐỒNG BẰNG TÌNH YÊU. Câu 3 nhắc tập MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG (Bơi ngược dòng sông tìm lại một bến đò/ Tìm lại một cuộc đời có đời tôi trong đó/ Hơi bàn tay ấm đưa ra, đêm đen không nhìn thấy/ Gió chướng rong thơm giữa chiến trường…) và bài thơ HOA CAU QUÊ NGOẠI: Mẹ lấy chồng xa/ Lâu lâu mới dẫn con về quê ngoại/ Chưa bước vào nhà/ Đã thấy đầy sân hoa trắng rụng/ Hương cau thoang thoảng/ Thơm như là tuổi thơ/ …/ Thương ngoại nên thương luôn hàng cau/ Thương cả dây trầu mẹ tưới, mẹ vun/ Thương con nước lớn đầy sông/ Chở hoa cau trắng xuôi dòng. Về đâu?/ Thương sao câu hát ngọt ngào/ Giữa trưa bỏm bẻm nhai trầu mẹ ru… Câu cuối nhắc tên hai tập thơ KHI TÌNH YÊU LÊN TIẾNG và NHỮNG NGẢ ĐƯỜNG.

Tên khai sinh của nhà thơ là Hồ Văn Ba sinh năm 1938 tại Bến Tre. Hiện ông là Tổng biên tập báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

14

Chu VănTrâu bạc: ngòi bút tớ cầy!
Đã qua bão biển, đường lầy chẳng thua!
Vốn dân đất mặn đồng chua
Văn hay chữ tốt, từng “vua” xứ người!

» Xem/Đóng đáp án

CHU VĂN (nhà văn)
Chu VănTrong bài nhắc một số tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi Chu Văn: CON TRÂU BẠC, BÃO BIỂN, CON ĐƯỜNG LẦY, ĐẤT MẶN. Câu đầu lấy ý từ câu đố dân gian về ngòi bút: Không phải bò/ chẳng phải trâu/ Uống nước ao sâu/ Lên cày ruộng cạn. Hai câu cuối: Nhà văn Chu Văn vốn quê Thái Bình (xứ  đồng chua nước mặn) và ông đã từng là chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà-Nam-Ninh. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Chữ.

Chu Văn sinh năm 1922 tại Đông Hưng Thái Bình, mất năm 1994 tại Hà Nội.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần D-Đ)

15

Dư Thị HoànMười năm khóc
Tự hành hình
Thơ văng ra với máu mình văng ra!
Phải đâu mẫu giáo ê a
Rủi may lối nhỏ thoắt ra đường dài

(Em ơi anh chẳng như ai
Vui xong khuy áo – ngực cài rất nhanh!)

» Xem/Đóng đáp án

DƯ THỊ HOÀN (nhà thơ)
Dư Thị HoànCâu 1 nhắc bài thơ dài MƯỜI NĂM KHÓC THẦM. Câu 2 lấy ý từ bài TĨNH LẶNG: Nụ cười em lãnh đạm/ đôi mắt em lơ đãng/ Đâu phải cho anh mà để tự hành hình/ Chớ dừng chân/ Khi vô tình gặp em anh nhé/ Em mang bản án chung thân gái đã có chồng. Câu 3 nhắc bài thơ Thanh Tùng tặng Dư Thị Hoàn (khi chùm thơ đầu của chị xuất hiện trên báo Văn Nghệ): Việt Nam hay Trung Hoa/ Chị chỉ thấy lòng mình xanh ngắt/ chị ôm cả hai tổ quốc của mình/ Trong vòng tay mảnh dẻ// Những ngày vắng ánh mặt trời/ Bao bất hạnh như rễ cây ngang dọc/ Chị xông ra vấp vào chính trái tim mình / Máu văng ra và thơ văng ra. Câu 4 nhắc tập thơ BÀI MẪU GIÁO SÁNG THẾ ( Giáo đường cách xa con đường bụi đỏ/ Không tháp chuông/ Không tượng chúa/ Cô giáo sĩ truyền đạo đang nhảy múa/ Đám tín đồ hài nhi theo nhịp bi bô/…/ Em có đôi bàn tay trắng xinh…/ Cầu nguyện cho bàn tay đừng ám muội… ). Câu 5 nhắc tập thơ LỐI NHỎ: Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ/ Em thả bước chán chường Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá/ Gót chân em nện xuống dữ dằn/ Có lối nhỏ vương cây xấu hổ/ Em sợ nó khép cánh/ Biết làm sao bây giờ/ Chính lối này đưa em tới anh… Hai câu cuối nhắc bài TAN VỠ khá đặc trưng phong cách thơ Dư Thị Hoàn: Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ/ Bút viết xong không đậy nắp bao giờ/ Ôi anh yêu lơ đãng đến là/ Con nai rừng của em…/ / Tất cả rồi sẽ qua đi, qua đi/ Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng/ Nếu không có một lần…/ Một lần như đêm nay/ Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không cài lại khuy áo ngực cho em. Chúng tôi kết thúc bằng bài thơ này cũng muốn giảm nhẹ sự căng thẳng tinh thần khi nghĩ tới con đường đến với thơ của Dư Thị Hoàn.

Dư Thị Hoàn gây ấn tượng lạ lùng ngay từ những bài thơ xuất hiện đầu tiên. Điều đó dễ gây cảm giác tác giả đã gặp may trong văn nghiệp. Thực ra thơ của nữ sĩ là kết tinh của máu, của nước mắt, được thai nghén trong những năm bão tố của cuộc đời. Những năm tháng cam go cả về vật chất lẫn tinh thần tưởng không thể vượt qua, từng phải đương đầu với cả cái chết.

Dư Thị Hoàn tên khai sinh là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947. Quê gốc ở Quảng Tây, Trung Quốc, sống ở Hải Phòng, mới về Hà Nội vài năm nay.

16

Đàm Chu VănSóng Đồng Nai ấm phù sa
Ngỡ đâu Trà Lý quê nhà trong mơ
Một bông hoa dại đơn sơ
Và em chợt hiện thành thơ. Dịu dàng…
Dòng sông ngại chảy mơ màng
Đá chồng Định Quán luận đàm thi văn.

» Xem/Đóng đáp án

ĐÀM CHU VĂN (nhà thơ)
Đàm Chu VănCâu đầu nhắc tập thơ NẮNG ẤM PHÙ SA (tập thơ đầu tác giả in chung với Vũ Xuân Hương và Phan Từ Đăng) và cũng nhắc tập thơ THEO SÓNG ĐỒNG NAI do ông tuyển chọn của nhiều tác giả. Câu 2 nhắc quê ông ở Thái Bình. Câu 3 nhắc bài HOA DẠI: Chễm chệ trên bàn tiệc, hội hè/ Những-bông-hoa-giả/ em/ khuất mình dưới cỏ/ Lặng lẽ sắc màu/ lặng lẽ hương. Câu 4 nhắc tập thơ VÀ EM CHỢT HIỆN với bài EM: Em ngấm vào anh/ như dòng sông ngấm bài ca/ mặt đất ngấm nắng trời/ nét duyên dáng/ sự dịu hiền thùy mị/ giọt mồ hôi hóa ngọc giữa sen hồng… Câu 5 nhắc tập thơ DÒNG SÔNG NGẠI CHẢY. Câu cuối nhắc tên tác giả và cũng nhắc bài thơ khá “nặng ký” của tác giả là ĐÁ CHỒNG ĐỊNH QUÁN : Hỏi tuổi ư? / Đá cười/ Cổ thụ nghìn năm ne nép/ như trò chơi của thần Mặt Trời, Mặt Trăng/ rải ô ăn quan trên mặt đất/ như trẻ con cõng em trên lưng/ túm tụm chơi cùng chúng bạn/…/ Hỏi tuổi ư?/ đá cười/ chỉ về miền cao ngất/ ta là con của trời xanh/ anh em của suối khe/ hiền lành/ người tình của đá/ áp tai nghe ta thở/ nhịp trầm sau núi rừng/ ta khô ran trong nỗi nhớ rừng/ rắn đanh lời đá/ lắng tai nghe ta kể/ một thời rừng thần thoại vây che/ một thời yêu cuồng nhiệt đam mê/ đến giờ còn lăn lóc.

Đàm Chu Văn sinh năm 1958 tại Thái Bình. Hiện công tác tại Biên Hòa, Đồng Nai.

17

Đặng HấnVào làng qua cầu chữ Y
Nhẹ tình, nặng ý, thơ ỳ chữ câu
Thần tiên giả , trái chín sâu
Không gian – thương, lấy tiền đâu đi hoài?

» Xem/Đóng đáp án

ĐẶNG HẤN (nhà thơ – Chân dung tự họa)
Đặng HấnSau tập thơ  CẦU CHỮ Y ( Giải nhất cuộc thi do Hội Nhà văn, Báo Văn nghệ và NXB. Kim Đồng phối hợp tổ chức), Đặng Hấn đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (Cầu nào cũng chữ Y/ Nhưng chỉ là I ngắn/  Cầu quê em lạ lắm/ Làm hẳn chữ Y dài/ Xoáy nước tung bọt cười/ Xuồng ghe trôi như hội/ Đoàn người xe vồi vội/ Chẳng lạc lối khi nào/ Ô, người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao); NHỮNG CHUYỆN THẦN TIÊN, HOA THƠM TRÁI CHÍN là các tập thơ thiếu nhi. KHÔNG GIAN THƯƠNG là thuật ngữ trong toán học hiện đại được Đặng Hấn lấy làm tựa đề cho tập thơ tình, nhưng nếu tách hai chữ “gian – thương” ra lại có ý nghĩa khác. Đặng Hấn rất mê đi du lịch nên bạn bè hay đọc câu vè về Thái Bình quê hắn: Thái Bình là đất ăn chơi/ Tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành và Đặng Hấn thường đọc lại: Gậy ta đó đòn xoay chế độ/ Bị ta đây cờ đỏ truyền đơn. Đặng Hấn là tay nịnh vợ “bậc siêu”. Sự nghiệp thơ văn của hắn chủ yếu là để nịnh vợ con. Hãy đọc vài bài hắn viết về vợ con: EM THÈM CHUA: Sáng chòi me ở đầu hiên/ Chiều về ghé bạn em xin trái điều…/ Em ăn chua chát bao nhiêu/ Mà mang dịu ngọt, thương yêu đầy lòng; EM THÌ AI TRÔNG: Bạn bè rủ đi chơi xa/ Còn em trông nhà, có ngại ngần chi/ Nhưng rồi anh lại không đi/ Vì anh chợt nghĩ: em thì ai trông?; CON : Giống cha, giống mẹ như in/ Khuôn mắt của mẹ, cái nhìn của cha/ Giống mình xưa, khác mình xa/ Cái ta đã mất, mãi ta vẫn còn…

Đặng Hấn sinh năm 1942, hiện đang giảng dạy toán tại ĐH. Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

18

Đặng Nguyệt AnhVừa “ca” mẹ, đã ru ai…
Chiều bâng khuâng lắm nhành mai mới gầy
Thôi đừng trách gió heo may
Nếu anh biết được thì gầy… cành đa!

» Xem/Đóng đáp án

ĐẶNG NGUYỆT ANH (nhà thơ)
Đặng Nguyệt AnhCâu 1 nhắc các tập TRƯỜNG CA MẸ và RU LỜI NGÀN NĂM: Ru em sáng tỏ đêm rằm/ Tóc xanh gối đất, êm nằm rừng xa/ Thịt da con gái nõn nà /…/ Ôm em đất hát “ơi à…” ngàn năm! Câu 2 nhắc tập thơ BÂNG KHUÂNG CHIỀU, câu 4 nhắc tập thơ NẾU ANH BIẾT ĐƯỢC. Các câu 2, 3, 4 dựa trên bài tứ tuyệt có tứ… tuyệt lạ: Nếu anh biết được chiều nay/ Gió từ đâu đến thổi gày nhành mai/ Một đời gió có vì ai/ Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

Đặng Nguyệt Anh có nhiều câu thơ về mùa thu rất dễ nhớ. Ví như Vàng thêm chút nữa thu ơi/ Trong thêm chút nữa khoảng trời quê hương hay Gửi đi một chút heo may/ Để bên ấy biết bên này thu sang.

Ngoài 4 tập thơ kể trên, Đặng Nguyệt Anh còn có tập SÔNG NINH, dòng sông trên quê Trực Ninh của nhà thơ: Ngày đi xa/ Ta gửi lại nửa vừng trăng dưới đáy sông Ninh/ Gửi lại nửa đời con gái/ Gửi lại dấu chân ta thơ dại/ Trên bãi với phù sa/ Con cáy, con còng chui vào làm tổ…

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh năm 1948 tại Ninh Cường, Trực Ninh, Nam Định. Hiện ở tại 112 Nguyễn Thị Minh Khai Q3 Tp. Hồ Chí Minh. ĐT 9304329- Một địa chỉ khá quen thuộc với các văn nhân Trung, Nam, Bắc.

19

Đinh HùngĐường vào tình sử bao xa?
Bài ca man rợ, khúc ca mê hồn
Đời nhiều chớp bể mưa nguồn
Kỳ nữ đừng buồn, xin hãy yêu tôi.

» Xem/Đóng đáp án

ĐINH HÙNG (nhà thơ)
Đinh HùngCâu 1 nhắc tập thơ ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ (…Chúng ta đi vào lá hoa tình sử/ Hơi thở em hòa sương khói Đường thi…). Câu 2 nhắc tập MÊ HỒN CA và bài BÀI CA MAN RỢ trong tập đó (Tôi thèm ăn một chút hoa man dại). Câu 3 nhắc bài CHỚP BIỂN MƯA NGUỒN (Có kẻ nghe mưa, chạnh mối sầu/ Vắt tay chờ mộng suốt canh thâu/ Gió từ sông lại, mưa từ biển/ không biết người yêu nay ở đâu). Câu 4 nhắc bài KỲ NỮ (Ta từng có những buổi sầu ghê gớm/ Ở bên Em – ôi biển sắc, rừng hương!/ Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm/ Em đến đây như đến tự thiên đường…) và bài XIN HÃY YÊU TÔI được nhiều người nhớ: Xin hãy yêu tôi, những lòng thiếu nữ !/ Tôi chép thơ ca tụng miệng hoa cười/ Ôi những nàng như liễu, mắt xa xôi !/ Yêu tôi nhé, tôi vốn người mê đắm!/ Xin hãy yêu tôi, những lòng hoa thắm!/ Xuân đã hồng, thu biếc, tôi  làm thơ/ Cửa lòng tôi giăng lưới nhện mong chờ/ Buồn phơ phất mới trông chiều, ngóng gió /…/ Em có má hồng dạo lòng qua đó / Bởi vô tình không biết đấy mà thôi:/ Trời của tôi, mà thu cũng của tôi/ Để em tới, em làm người khách lạ/ Miệng kia xinh, sao tình lơ đãng quá!/ Tôi không yêu sao có má em hồng?/ Tôi không buồn, sao có mắt em trong?/ Tôi không mộng sao có lòng em đẹp?

Đinh Hùng sinh năm 1920 tại Hà Đông, mất ở Sài Gòn 1967.

20

Đinh Thị Thu VânThay cho lời hát ru anh
Áo người yêu vẫn để dành ấm êm
Nhờ anh bộ đội dán tem
Trái tim rao bán ngày thêm đắt hàng.

» Xem/Đóng đáp án

ĐINH THỊ THU VÂN (nhà thơ)
Đinh Thị Thu VânTHAY CHO LỜI HÁT RU ANH là tên một tập thơ của Đinh Thị Thu Vân. Câu 2 nhắc bài ÁO NGƯỜI YÊU: Sợi vải nào thương anh giữa đêm/ Sợi vải nào vương hơi thở mềm?/ Sợi vải nào nhớ vừng ngực ấm/ Có sợi nào tương tư áo em? Câu 3 nhắc bài thơ CON TEM QUÂN ĐỘI: Anh về từ chiến trường xa/ Con tem quân đội, làm quà trao em/ Tay em năm ngón dẫu mềm/ Vẫn e chưa đủ dịu êm khi cầm/ … / Dấu bưu điện sẽ in tròn/ Con tem chắp cánh tâm hồn nó bay/ Thư em quen viết không dài/ Xin anh nhớ hiểu những lời phía sau. Đinh Thị Thu Vân được giải thưởng thơ tạp chí VNQĐ với chùm thơ có bài CON TEM QUÂN ĐỘI và trở thành nhà thơ có tên tuổi từ đó. Câu cuối nhắc bài TRÁI TIM RAO BÁN (… Em sẽ đem trái tim mình bán đi /bán đi/ cho bất cứ người đàn ông nào bước vào số phận/ trừ một người duy nhất/ là anh.)

Đinh Thị Thu Vân sinh năm 1955, quê Long An. Hiện là tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Long An.

21

Định HảiBài ca trái đất mê say
Én vui, én hát – đu quay, quay tròn
Chồng hoa chồng nụ lạ hơn:
Tưởng nụ gì hóa nụ hôn học trò!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỊNH HẢI (nhà thơ)
Định HảiCâu đầu nhắc tên bài thơ BÀI CA VỀ TRÁI ĐẤT đã được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc khá nổi tiếng: Trái đất này là của chúng mình/ Quả bóng xanh bay giữa trời xanh/ Bồ câu ơi, tiếng chim gù thương mến/ Hải âu ơi, cánh chim vờn sóng biển/ Cùng bay nào cho trái đất quay! / Cùng bay nào cho trái đất quay!/ /Trái đất trẻ của bạn trẻ năm châu/ Vàng, trắng, đen… dù da khác màu/ Ta là nụ, là hoa của đất/ Gió đẫm hương thơm, nắng tô thắm sắc/ Màu hoa nào cũng quý cũng thơm/ Màu da nào cũng quý cũng thơm/ / Khói hình nấm là tai họa đấy/ Bom H bom A không phải là bạn ta/ Tiếng hát vui giữ bình yên trái đất/ Tiếng cười ran cho trái đất không già/ Hành tinh này là của chúng ta!/ Hành tinh này là của chúng ta!. Câu hai nhắc tập thơ ÉN HÁT VÀ ĐU QUAY, Câu thứ ba nhắc tập thơ CHỒNG NỤ CHỒNG HOA. Đây là các tập thơ khá nổi tiếng của Định Hải viết cho thiếu nhi. Câu thứ tư nhắc tác phẩm NỤ HÔN HỌC TRÒ gồm 2 tập thơ viết cho tuổi mới lớn của Định Hải (NXB Thanh niên). Chữ  “lạ” ở câu thứ 3 là nhắc tên tập thơ viết cho thiếu nhi của Định Hải: BAO NHIÊU ĐIỀU LẠ.

Định Hải (tên khai sinh là Nguyễn Biểu) sinh năm 1937, quê Thanh Hóa. Hiện ông sống và viết tại Hà Nội.

22

Đoàn Thị Lam LuyếnCánh cửa nhớ bà, phải cháu nhớ đâu
Lửa không châm, cháu đi châm khói
Trầu không têm, cháu têm bã trầu.
Xem ra cháu dại hơn Vân dại?
Cứ dại yêu hoài, nhấn mãi sâu!

» Xem/Đóng đáp án

Ghẹo ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN (nhà thơ)
Đoàn Thị Lam LuyếnCâu  thứ nhất nhắc bài thơ CÁNH CỬA NHỚ BÀ trong tập thơ cùng tên viết cho thiếu nhi: Ngày cháu còn thấp bé/ Cánh cửa có hai then/ Cháu chỉ cài then dưới/  Nhờ bà cài then trên/ Mỗi năm cháu lớn thêm/ Bà lưng còng cắm cúi/ Cháu cài được then trên/ Bà chỉ cài then dưới/  Nay cháu về nhà mới/ Bao cánh cửa ô trời/ Mỗi lần tay đẩy cửa/ Lại nhớ bà khôn nguôi. Câu thứ hai nhắc tập thơ CHÂM KHÓI (Giải thưởng hội nhà văn 1995) (Ngoài bốn chục chưa khỏi điều non nớt/ Cả tin nghe, cả tin nói, cả tin cười/ Que diêm mảnh cứ châm bờ rạ ướt/ Khói lửa nào đắng đót trái tim tôi). Câu thứ 3 nhắc tập thơ CHỒNG CHỊ CHỒNG EM (Chị thản nhiên mối tình đầu/ Thản nhiên em nhặt bã trầu về têm). Hai câu cuối nhắc tên bài thơ VÂN DẠI (Vân cứ dại thêm một nghìn năm nữa/ Cho mai ngày đôi lứa diụ dàng hơn) và tập thơ DẠI YÊU (Từ hôm cha nằm xuống/ lòng con không được yên/ Ngày nào con cũng nguyện/ Đêm nay cha về bên/ / Lại được nghe cha mắng/ Và trách con thật nhiều/ Như khi bé dại của/ Lớn rồi lại dại yêu/…/ Đàn bà lừa nẻo bạc/ Đàn ông dối nẻo tình/ Phận con như sấu đá/ Làm sao cất nổi mình…)

Đoàn Thị Lam Luyến sinh năm 1953, quê Hưng Yên. Hiện ở Hà Nội, công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam.

23

Đoàn Vị ThượngYêu tha thiết cánh phượng hồng
Cũng là yêu trẻ hết lòng đấy thôi
Linh hồn như bụi phấn rơi
Trộn tôi lẫn với mọi người. Và em…

» Xem/Đóng đáp án

ĐOÀN VỊ THƯỢNG (nhà thơ)
Đoàn Vị ThượngCâu 1 nhắc bài thơ NGÔI TRƯỜNG HOA PHƯỢNG: Tôi thương cây phượng nhu mì/ Nở đâu kịp với học kì đã qua/ Năm nào cũng chịu cách xa/ Năm nào cũng đứng đơm hoa một mình. Câu 2 nhắc tạp chí Yêu trẻ, nơi Đoàn Vị Thượng gắn bó với văn học thiếu nhi nhiều năm nay. Câu 3 nhắc bài thơ BỤI PHẤN, bài thơ tâm đắc nhất của tác giả từng đoạt giải văn học của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh và có lẽ còn sống mãi trong lòng tác giả và nhiều bạn đọc dù tác giả từ lâu đã rời khỏi môi trường sư phạm: Viên phấn ơi, sao chỉ nhỏvà gầy/ Như ngón tay nằm trong bàn tay tôi đấy/ Nào ai nỡ đánh rơi nữa chừng, hay toan bẻ gẫy/ Sợ năm ngón tay kia thôi sẽ hết hồng. Câu cuối nhắc bài thơ MỌI NGƯỜI rút từ tập THƠ ĐOÀN VỊ THƯỢNG : Tôi lẫn vào mọi người đến không còn rứt ra được nữa/ Hai cổ tay cũng buộc vào điệu múa/ Của cha ông, vốn vậy, tự bao giờ/ Ngay em đã lánh mặt tôi nghìn bữa/ Cũng cứ về, như thật, ở trong mơ// Tôi lẫn vào mọi người như thể mất tự do/ Như thể thiếu mọi người thì tôi không sống được/ Tôi nô lệ tiếng cười chào quen thuộc/ Đi đâu xa mặt mũi thẩn thờ rồi/…/ Mọi người ơi, xin hãy chớ tin tôi/ Nếu tôi chẳng thật lòng tin tất cả/…/ Này, có thật em từng đã lẫn vào tôi / Sao em vội rứt ra nhẹ nhàng như rứt cỏ?/ Em rứt cả một mảng đời tôi đó/ Cái chỗ tôi khuyết em bỗng có mọi người đầy…

Đoàn Vị Thượng tên khai sinh là Trần Quang Đoàn, sinh năm 1959, quê Thừa Thiên Huế. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

24

Đỗ Lai ThúyBằng cái nhìn văn hóa
Mắt thơ chẳng hề ngây
Hương xuân tình phồn thực
Chân trời người vút bay!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ LAI THÚY (nhà lý luận phê bình)
Đỗ Lai ThúyTrong bài thơ nhắc 4 tác phẩm chính của Đỗ lai Thúy: TỪ CÁI NHÌN VĂN HÓA, MẮT THƠ  (bàn về thi pháp thơ mới, đã được tái bản khá nhiều lần), HỒ XUÂN HƯƠNG-SỰ HOÀI NIỆM PHỒN THỰC và CHÂN TRỜI CÓ NGƯỜI BAY (viết về sáu nhà lý luận phê bình, sáu giáo sư  thầy học của tác giả). Đỗ lai Thúy đóng góp vào nền lý luận phê bình Việt Nam một giọng điệu sắc sảo, có chiều sâu, cung cấp nhiều kiến thức mà không bị rơi vào hiện tượng khoe chữ, khoe kiến thức, một giọng nói lịch lãm tài hoa. Về Hồ Xuân Hương, trước ông người ta hay né tránh cái tục hoặc giải thích theo quan điểm xã hội, đấu tranh giai cấp… khá khiên cưỡng. Đỗ Lai Thúy tiếp cận bằng nhiều quan điểm đặc biệt là dựa trên văn-hóa-phồn-thực, đi thẳng vào cái tục để tìm ra chân giá trị thơ Hồ Xuân Hương.

Đỗ Lai Thúy sinh năm 1948, quê Quốc Oai, Hà Tây. Hiện là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật.

25

Đỗ Trọng KhơiThấm buồn, cúc trổ đoá vàng
Hệt như đốm nắng gọi làng thu ơi!
Chim thiêng không đỗ yên nơi
Vẫn bay, đẩy khoảng xa khơi sang mùa!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ TRỌNG KHƠI (nhà thơ)
Đỗ Trọng KhơiTrong bài nhắc hai tập thơ của Đỗ Trọng Khơi: CON CHIM THIÊNG VẪN BAY (tập thơ đầu) và GỌI LÀNG (tập thơ thứ ba). Đỗ Trọng Khơi bị liệt hai chân từ khi học lớp bốn. Tuy vậy, với đôi cánh thi ca, anh đã bay tới văn đàn và thơ anh cùng với tên tuổi anh đã đến với trái tim nhiều bạn yêu thơ trong cả nước. Thơ Khơi như từ nỗi buồn khơi dậy. Hình như không khí mùa thu ở miền Bắc dễ hòa hợp với tâm hồn anh nên anh có nhiều câu thơ về mùa thu rất sâu xa, tinh tế và có sức gợi cảm mạnh: Xòe tay tính đốt thời gian/ Kịp không hay đã muộn màng thu ơi ?/ Đêm trong như một làn hơi/ Như không gì cả mà bời bời thu… hoặc Đã tràn ngân nỗi mong manh/ tiếng chim đẩy khoảng trời xanh sang mùa/ Vàng như tự nắng tự mưa/ Tự lòng đất, tự trời xưa nhuốm về/ Xanh lên đã kiệt sức hè/ Nắng nồng theo lối hồn ve lìa ngàn/ Vườn chiều rộn lá thu sang/ Heo may ngậm mảnh trăng vàng rong chơi. Anh cũng vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ CẦM THU. Hai câu cuối cũng muốn nhắc tên tác giả.

Đỗ Trọng Khơi sinh ngày 17 tháng 7 năm 1960, quê Trần Xá, Văn Cẩm, Hưng Hà, Thái Bình

26

Đỗ Trung QuânNgỏ tình đầu, phượng đơm hoa
Đa tài: nhạc họa, thơ ca đều sành
Sóng xô vào mạnh, ra nhanh
Quê hương nên nhạc, người thành thi nhân.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ TRUNG QUÂN (nhà thơ)
Đỗ Trung QuânCâu 1 nhắc bài thơ CHÚT TÌNH ĐẦU hay PHƯỢNG HỒNG gì đó đã được phổ nhạc khá nổi tiếng : Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/ Em chở mùa hè của tôi đi đâu/ Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18/ Thuở ai hay thầm lặng mối tình đầu. Câu 2: Đỗ Trung Quân thuộc loại đa tài: Viết báo, làm thơ, vẽ bìa, minh họa sách báo… Câu 3 nhắc bài thơ BIỂN, NÚI, EM VÀ SÓNG:Anh làm núi đứng một đời ngóng biển/ Một tình yêu chạm đến đỉnh trời/ Em là sóng, nhưng xin đừng như sóng/ Đã xô vào, xin chớ ngược ra khơi. Tình yêu của ông với nghệ thuật vẫn còn là đơn phương. Chỉ khi bài thơ QUÊ HƯƠNG được Giáp Văn Thạch phổ nhạc rất thành công, làm rung động  trái tim bao người Việt Nam ở trong và ngoài nước, bạn đọc mới xem ông như một nhà thơ. Bài thơ đậm đà chất cải lương với nhiều chi tiết hơi… sáo: Quê hương là con diều biếc/ … / Mẹ về nón lá nghiêng che… Nhưng có những câu hay vì thật giản dị tự nhiên mà khẳng định được chân lý, làm điểm tựa, điểm phát sáng cho toàn bài: Quê hương mỗi người chỉ một  Như là chỉ một mẹ thôi!

Đỗ Trung Quân sinh 1945 tại Sài Gòn. Hiện ở Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.

27

Đỗ Vĩnh BảoGió miền châu thổ tái tê
Bông hoa lửa trắng nắng hè chói chang

Thị trường tiền tệ sang trang
Giữa chiều muộn lại rỡ ràng ngày vui
Hồng Kông, Băngkok… đủ mùi
Quẳng dao, nắm bạc, thôi đòi quyền yêu!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ VĨNH BẢO (nhà văn)
Đỗ Vĩnh BảoTrong bài thơ trên nhắc đến 7 tác phẩm của Đỗ Vĩnh Bảo : GIÓ MIỀN CHÂU THỔ (tập truyện), BÔNG HOA LỬA TRẮNG (tập truyện), CON DAO NẮM BẠC (truyện dài), CHIỀU MUỘN (tập truyện), QUYỀN ĐƯỢC YÊU (tiểu thuyết) và hai tác phẩm mới nhất là ĐÊM HỒNG KÔNG(ký sự) và NGỠ NGÀNG BĂNGKOK (ký sự). Câu thứ 3 cho biết tác giả đã chuyển sang công tác tại báo “Thị trường-Tài chính-Tiền tệ” ở Hà Nội nhiều năm nay.

Đỗ Vĩnh Bảo sinh năm 1943 tại Vũ Thư, Thái Bình, từng là Tổng biên tập báo Thái Bình, Tổng biên tập tập san Văn nghệ Thái Bình, phó chủ tịch Hội Văn nghệ Thái Bình.

28

Đức HậuCúc biển, hay “cúc trời” rồi cũng úa
Vùng đất mới hôm qua nay cũng cũ rồi
Hạnh đã lớn, chẳng còn mê truyện kể
Bạn bè sau chiến tranh rơi rớt lại mấy người?
May mắn gặp người-đàn-bà-ám-ảnh
Mới nên cơ nên nghiệp của nhà ngươi!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỨC HẬU (nhà văn)
Đức HậuTrong bài có nhắc năm tác phẩm chính của Đức Hậu: BÔNG CÚC BIỂN, VÙNG ĐẤT MỚI, CHUYỆN KỂ CỦA BÉ HẠNH, BẠN BÈ SAU CHIẾN TRANH và NGƯỜI ĐÀN BÀ ÁM ẢNH. Đức Hậu đã nhận nhiều giải thưởng văn học với các tập truyện: BẠN BÈ SAU CHIẾN TRANH, CHUYỆN KỂ CỦA BÉ HẠNH, LẠC BƯỚC. Nhưng phải đến NGƯỜI ĐÀN BÀ ÁM ẢNH ông mới chứng tỏ mình là một cây bút truyện ngắn thực thụ, không phụ lòng mong mỏi của bạn đọc yêu văn ông.

Đức Hậu liên tiếp nhiều năm nay là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Thái Bình. Nhà văn họ Vũ, sinh năm 1947, quê Thái Thụy, Thái Bình.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần G-H)

29

Giang NamKể từ tháng Tám ngày nào
Người giồng tre dựng chiến hào quê ta
Giữa tiền tuyến lửa xông pha
Một vầng sáng hiện dần ra chân trời…
Quê hương có khế ngọt rồi
Máu xương đã khuất, đòn roi quên dần.

» Xem/Đóng đáp án

GIANG NAM (nhà thơ)
Giang NamTrong bài thơ nhắc một số tác phẩm của Giang Nam : THÁNG TÁM NGÀY MAI (thơ), NGƯỜI GIỒNG TRE (truyện ký), QUÊ HƯƠNG (thơ), TIỀN TUYẾN LỬA (truyện ký), VẦNG SÁNG PHÍA CHÂN TRỜI (thơ). Bài thơ QUÊ HƯƠNG từng “vang bóng một thời”, làm nên tên tuổi của nhà thơ : Thuở còn thơ ngày hai buổi tới trường / Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ / “Ai bảo chăn trâu là khổ” / Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao  / Những ngày trốn học / Đuổi bướm cầu ao / Mẹ bắt được… / Chưa đánh roi nào đã khóc ! / Có cô bé nhà bên / Nhìn tôi cười khúc khích…/…/ Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm / Có những ngày trốn học bị đòn, roi / Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi. (1960)
Giang Nam (tên khai sinh là Nguyễn Sung) sinh năm 1929 tại Khánh Hòa. Hiện công tác tại Khánh Hòa.

30

Hà Khánh LinhTrăng đâu cứu rỗi được người
Chân mây, bọt bóng, nụ cười… xa ra!
Ước lần “góa phụ” cùng ta
Giữa hai người chỉ còn là… số không !

» Xem/Đóng đáp án

HÀ KHÁNH LINH (nhà văn)
Hà Khánh LinhCâu 1 nhắc tập thơ TRĂNG CỨU RỖI. Câu 2 nhắc 3 tác phẩm : VŨNG CHÂN MÂY (tập truyện), NHỮNG BỌT BÓNG MÀU (thơ) và NỤ CƯỜI ÁP-XA-RA (truyện). Câu 3 nhắc tác phẩm GÓA PHỤ PARIS. Câu cuối nhắc một chi tiết chủ đạo trong truyện ngắn CON SỐ 1 TÀI HOA : Tác giả suy ngẫm, xoay đi lật lại lời của một người thủ trưởng cũ : “chúng ta cùng làm việc, cùng chia sẻ khó khăn nặng nhọc và vinh quang, rất thương yêu quí trọng nhau nhưng luôn giữ con số O ở giữa…”. Theo ý chúng tôi giữa nam và nữ đạt tới số O thì quả là “siêu thoát” vậy!
Hà Khánh Linh tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, sinh năm 1945 ở Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Hiện là thư ký tòa soạn tạp chí Sông Hương.

31

Hà Văn ThùyDiệt mối bằng thuốc trừ sâu
Mối chết. Sợ độc ngấm lâu, đành chào!
Dùng văn diệt mọt xem sao
Mọt không chết, chỉ lao đao thân gầy
Lúa nổi giận! Nghiệt ngã thay!
Thời gian gom nhặt, đợi ngày buông neo.

» Xem/Đóng đáp án

HÀ VĂN THÙY (nhà văn)
Hà Văn ThùyHai câu đầu nhắc Hà Văn Thùy vốn tốt nghiệp Đại học Tổng hợp nghành sinh học và về Ty lương thực Thái Bình lo việc diệt mối mọt trong nhiều năm, sau chuyển hẳn sang viết văn. Trong bài nhắc tên các tác phẩm của ông : BÔNG LÚA NỔI GIẬN, SỰ NGHIỆT NGÃ CỦA NGHỀ NGHIỆP và tập thơ THỜI GIAN GOM NHẶT với bài CHIẾC NEO được in trong tuyển thơ Việt Nam 1975 – 2000 : Nhỏ bé – lớn lao / yếu mềm – mạnh mẽ / Con / chiếc neo / Đỡ cha giữa đời bão gió !…
Hà Văn Thùy vừa cho in tập TRẤN HÀ TIÊN VÀ THI ĐÀN CHIÊU ANH CÁC.
Hà Văn Thùy sinh năm 1944 tại Thái Bình. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

32

Hải NhưTừng đứng lặng thầm canh Bác ngủ
Tin trái đất mai này còn lại tình yêu
Tim cháy rực cùng màu phượng đỏ
Lại bâng khuâng theo sim tím biển chiều
Man mác trước nỗi buồn hoa bất tử
Với người xưa trò chuyện ước thêm nhiều.

» Xem/Đóng đáp án

HẢI NHƯ (nhà thơ)
Hải NhưCâu đầu nhắc bài thơ: CHÚNG CHÁU CANH GIẤC BÁC NGỦ, BÁC HỒ ƠI một trong những bài thơ hay nhất viết trong những ngày tiễn Bác đi xa (… Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa / Trăng ơi trăng hãy yên lặng cúi đầu / Trọn cuộc đời, Bác có ngủ yên đâu / Nay Bác ngủ, chúng cháu canh giấc ngủ / Hỡi ai đó, cắn chặt môi, hãy cố / Đừng để cho tiếng nấc động tai người / Bác Hồ vừa chợp mắt ngủ đó thôi… ). Câu 2 nhắc tên tập thơ Hải Như dành viết riêng về Bác: TRÁI ĐẤT MAI NÀY CÒN LẠI TÌNH YÊU (Viết về Người tôi không viết về một con nguời siêu phàm / Với những câu thơ chải chuốt / Người không cần. Và đó không phải công việc thơ tôi / Thân thế sự nghiệp Người. Những chặng đường đất nước / Đúng? Sai?Người dắt dìu / Đánh giá từng bước đi xin nhường sau đây người làm sử / Tôi viết về một con người như mỗi chúng ta nhưng lại khác chúng ta...VIẾT VỀ NGƯỜI). Câu thứ 3 nhắc bài thơ THÀNH PHỐ HOA PHƯỢNG ĐỎ viết về Hải Phòng đã được phổ nhạc khá nổi tiếng. Câu thứ 4 nhắc bài TÌNH CA MÀU TÍM  đã được phổ nhạc : …Không có hoa hồng, mỏ toàn hoa sim tím / Màu tím thủy chung, màu tím đợi chờ / Khi chưa yêu, chưa biết nhìn màu tím / có biết nhìn màu tím mới nên thơ… Câu thứ 5 nhắc tên tập thơ NỖI BUỒN HOA BẤT TỬ  (Khao khát vĩnh hằng con người đặt tên cho ta / Hoa bất tử / Ta không muốn tự huyễn hoặc mình / … / Buồn sao con người không nhìn thẳng kiếp phù sinh). Câu cuối nhắc tác phẩm TRÒ CHUYỆN VỚI NGƯỜI XƯA. Trong tập này tác giả chọn dịch một số thơ chữ Hán của ba thi hào : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát.
Như Hải tên khai sinh là Vũ Như Hải. Nhà thơ sinh năm 1923, quê Nam Định, hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

33

Hải TriềuNghệ thuật vì cuộc sống
Nghệ thuật vì tình yêu
Duy tâm hay duy vật …
Hạt giống đầu người gieo
Thân dù nhập đại hải
Văn vẫn dâng thủy triều

» Xem/Đóng đáp án

HẢI TRIỀU (nhà lý luận phê bình)
Hải Triều4 câu đầu nhắc những bài bút chiến của Hải Triều và những tác phẩm DUY TÂM HAY DUY VẬT, CHỦ NGHĨA MÁC … Viết một cách nhạy cảm và tâm huyết  về những vấn đề cốt lõi của văn học nghệ thuật ở nước ta vào những năm 30 thế kỷ XX là những “viên đá” xây dựng nền móng cho tư duy lý luận văn học hiện đại Việt Nam. Hai câu cuối nói nhà văn đã mất cách đây gần 50 năm (1954). Nhưng ông như vẫn luôn có mặt trong công cuộc xây dựng nền văn học nghệ thuật tiến bộ vì nhân dân, luôn sống trong lòng các nhà văn và bạn đọc văn nghệ. Đồng thời cũng muốn nhắc bút danh Hải Triều và tên thật nhà văn Nguyễn Khoa Văn.
Nhà văn Hải Triều sinh năm 1908 tại thành Huế, mất năm 1954 tại Thanh Hóa.

34

Hàn Mặc TửThân cùi, mật đắng, thơ điên
Trúc che ngang mặt chữ điền vẫn xanh
Mùa xuân chín ngọt trên cành
Gái quê bẽn lẽn… rợn mình thi nhân!

» Xem/Đóng đáp án

HÀN MẶC TỬ (nhà thơ)
Hàn Mặc TửTrong bài nhắc ba tập thơ của Hàn Mặc Tử : MẬT ĐẮNG, THƠ ĐIÊN và GÁI QUÊ. Câu thứ hai nhắc bài ĐÂY THÔN VĨ DẠ : Sao anh không về chơi thôn Vĩ? / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên / Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chữ điền // Gió theo lối gió, mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay / Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay // Mơ khách đường xa, khách đường xa / Áo em trắng quá nhìn không ra / Ở đây sương khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thứ ba nhắc bài MÙA XUÂN CHÍN : Trong làn nắng ửng, khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trên tà áo biếc / Trên giàn thiên lý bóng xuân sang // Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời / Bao cô thôn nữ hát bên đồi / Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi // Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây / thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc / Nghe ra ý vị và thơ ngây.// Khách xa gặp lúc mùa xuân chín / lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng / Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.
Bài BẼN LẼN : Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông vể để lả lơi / Hoa lá ngây tình không muốn động / Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi / / Trong khóm vi vu rào rạt mãi / Tíếng lòng ai nói? Sao im đi / Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm / Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.// Vô tình để gió hôn lên má / Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm / Em sợ lang quân em biết được / Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
Chữ rợn mình là từ bài NỤ CƯỜI : … Một người con gái trông xinh xinh / ống quần vo xắn lên đầu gối / Da thịt, Trời ơi ! trắng rợn mình.
Hàn Mặc Tử tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 tại Đồng Hới và mất năm 1940 (11-11) tại Qui Hòa (mộ ở Đèo Son). Bệnh phong đã cướp đi thi thể nhà thơ, cướp đi một tài thơ đang sung mãn.

35

Hoài AnhTừ hương đến mật thì nhanh
Mua một bao thuốc phải dành chín năm
Chúa chổm 36 tàn vàng
Chín mươi chín ngọn, ta sang hơn nhiều!

» Xem/Đóng đáp án

HOÀI ANH (nhà thơ)
Hoài AnhCâu đầu nhắc tên tập thơ TỪ HƯƠNG ĐẾN MẬT. Câu 2 nhắc bài thơ NHỚ NGÀY HÀ NỘI KHÁNG CHIẾN khá nổi tiếng của Hoài Anh với những câu thơ được nhiều người nhớ : Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy / Ra phố mua một bao thuốc lá / Chín năm sau anh mới trở về nhà / Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến / Chín năm rừng, lòng vẫn thủ đô. Câu thứ 3 là tên một tiểu thuyết lịch sử của Hoài Anh : CHÚA CHỔM 36 TÀN VÀNG. Câu cuối nhắc tập thơ 99 NGỌN với nhiều câu, nhiều bài thơ viết khá lạ và trẻ trung, ví như Mỗi thằng một nỗi trớ trêu / Mỗi thằng có một người yêu phụ tình (GẶP BẠN Ở HÀ NỘI ). Hoặc bài HOANG (Giao hoan tỉnh mơ / Đẻ hoang câu thơ / Quẳng ra bụi bờ / Đọc báo thơ người/ Thấy câu thơ tốt / Anh rước về nuôi / Đến khi về già / Muốn làm chúc thư / Đi tìm con đẻ/ Con ơi / Thơ ơi /Con người,con ta/Thơ ma, thơ người). Câu cuối cũng muốn nói: Các lĩnh vực sáng tạo văn học của Hoài Anh thật phong phú: Kịch, thơ, dịch, biên soạn, tiểu thuyết, lý luận phê bình, sách danh nhân… Có lẽ cũng đến 99 ngọn thật ! Riêng năm 2001 vừa qua ông đã cho ra đời một loạt sách : CHÂN DUNG THƠ, CHÂN DUNG NHÀ VĂN (1500 trang), TÌM HOA QUÁ BƯỚC (hơn 500 trang), THƠ TÌNH HOÀI ANH, TẦNG NGÀY (thơ), THƠ ĐƯỜNG CHỌN LỌC, BẢY THẾ KỶ THƠ PHÁP (song ngữ), CHÂN DUNG CÁC NHÀ VIẾT KỊCH…
Hoài Anh tên khai sinh là Trần Trung Phương sinh năm 1938 tại Bình Lục, Hà Nam. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

36

Hoài ThanhChẳng phê ai, chỉ bình văn
Mắt xanh tìm kiếm thi nhân cho đời
Cũng vì quyền sống con người
Chuyện thơ kháng chiến nói lời tri âm

» Xem/Đóng đáp án

HOÀI THANH (nhà lý luận phê bình)
Hoài ThanhCâu thứ 2 nhắc tác phẩm THI NHÂN VIỆT NAM , được xem như tác phẩm sáng giá nhất, làm nên tên tuổi Hoài Thanh, được nhiều người yêu thích. Nhiều nhà thơ nhờ ông đưa vào sách cùng với đôi lời phẩm bình như được công nhận là thi sĩ của đất nước. Câu thứ nhất nói đặc điểm của cuốn sách chủ yếu là tìm ra cái hay của các nhà thơ. Hoài Thanh viết : Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá ! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì còn được. Nhưng phê ? Sao lại phê ?  Câu 3 nhắc tập tiểu luận QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN KIỀU. Câu 4 nhắc tập tiểu luận NÓI CHUYỆN THƠ KHÁNG CHIẾN (1951)  được phát qua sóng đài tiếng nói Việt Nam nhiều kì trong và sau những năm chống Pháp.
Tên khai sinh của nhà văn Hoài Thanh là Nguyễn Đức Nguyên. Ông sinh năm 1909, quê gốc Nghệ An, mất năm 1982 tại Hà Nội.

37

Hoàng CầmBắt sông Đuống chảy thành thơ
Về kinh Bắc, nhớ ngẩn ngơ trong lòng
Còn mơ tìm lá diêu – bông
Lá đa chả phải, lá vông không vừa

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG CẦM (nhà thơ)
Hoàng CầmTrong bài nhắc mấy tác phẩm khá tiêu biểu của Hoàng Cầm: BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG dòng sông đã được tạc vào văn học  Việt Nam, được đưa vào sách giáo khoa, là một trong những bài thơ thuộc loại hay nhất của văn thơ cách mạng thời chống Pháp (Em ơi buồn làm chi / Mai anh đưa em về bên kia sông Đuống / Ngày xưa cát trắng phẳng lì / Sông Đuống trôi đi / Một dòng lấp lánh / Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ / Xanh xanh bãi mía bờ dâu / Ngô khoai biêng biếc / Đứng bên này trông sao nhớ tiếc / Sao xót xa như rụng bàn tay / Bên kia sông Đuống / Quê hương ta lúa nếp thơm nồng / Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…); tập thơ VỀ KINH BẮC và tập LÁ DIÊU BÔNG (Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng / Chị thẩn thơ tìm / Đồng chiều / Cuống rạ… / Chị bảo / – đứa nào tìm được lá diêu bông / từ nay ta gọi là chồng / / Hai ngày / Em tìm thấy lá / Chị chau mày / – đâu phải lá diêu bông // Mùa đông sau / Em tìm thấy lá / Chị lắc đầu / trông vãn nắng bên sông / Ngày cưới chị / Em tìm thấy lá / Xòe tay phủ mặt / Chị không nhìn / */ Từ thuở ấy / Em cầm chiếc lá / đi đầu non cuối bể / Gió quê vi vút gọi / – Diêu bông hời… / … ơi Diêu bông…!
Hoàng Cầm sinh năm 1922, quê Bắc Ninh, hiện ở Hà Nội.

38

Hoàng LộcXông pha vào cuộc trường chinh
Trong hoàng hôn ánh bình minh đã ngời
Còn sống mãi búp vàng tươi
Xưa anh viếng bạn, nay người viếng anh.

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG LỘC (nhà thơ)
Hoàng LộcCâu 1 nhắc tờ báo XÔNG PHA, nơi Hoàng Lộc công tác trong những ngày đầu tham gia cách mạng. Câu 2 nhắc tập thơ TỪ HOÀNG HÔN TỚI BÌNH MINH Hoàng Lộc sáng tác ngay từ khi còn đi học. Câu 3 nhắc tên nhà thơ Hoàng Lộc (Búp vàng tươi), Còn sống mãi là muốn nhắc lời văn hào Lỗ Tấn : “Người ta chỉ thật chết khi không còn sống trong lòng người sống nữa” được nhà giáo Phạm Thúy (bạn cùng công tác với Hoàng Lộc ở báo Xông Pha) dẫn ra để nói về Hoàng Lộc trong bài viết về anh (đã in “Kiến thức ngày nay”). Câu cuối nhắc bài VIẾNG BẠN của Hoàng Lộc : Hôm qua còn theo anh / Đi ra đường quốc lộ / Hôm nay đã chặt cành / Đắp cho anh dưới mộ /…/ Khóc anh không nước mắt / Mà lòng đau như cắt / Gọi anh chẳng thành hơi / Mà hàm răng dính chặt / Ở đây không gỗ ván / Gói anh bằng mảnh chăn / Của đồng bào Cửa Ngăn / Tặng tôi ngày phân tán…/ Súng nào bắn anh đó? / Đứa nào nhắm trúng anh? / Khôn thiêng xin chỉ mặt / Gọi tên nó ra anh / Nó là thằng thổ phỉ? / Hay là đứa Việt gian? / Đó là quân đế quốc / Lũ phát xít bạo tàn…/ Mai mốt bên cửa rừng / Anh có nghe súng nổ / Là chúng tôi đang cố / Tiêu diệt kẻ thù chung…
Hoàng Lộc sinh năm 1920 tại Hải Dương, hy sinh năm 1949 trên trận địa biên giới.

39

Hoàng Phủ Ngọc TườngSông Hương, Cửa Việt dẫn đầu
Ngôi sao đỉnh Phu Văn Lâu tỏa hồng
Đêm nằm lo đặt tên sông
Sớm ra lo hái phù dung… Tội tình!
Rất nhiều ánh lửa lung linh
Tới miền gái đẹp ngỡ mình còn trai!
(So bề học vấn thua ai:
Mỗi dòng văn Việt chêm vài chữ Tây!)

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (nhà văn)
Hoàng Phủ Ngọc TườngHoàng Phủ Ngọc Tường từng làm tổng biên tập Sông Hương, Cửa Việt. Câu  2 nhắc tập ký NGÔI SAO TRÊN ĐỈNH PHU VĂN LÂU. Câu 3 nhắc tập bút ký AI ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG. Câu 4 nhắc tập thơ NGƯỜI HÁI PHÙ DUNG (Anh hái cành phù dung trắng / Cho em niềm vui cầm tay / Màu hoa như màu ánh nắng / Buổi chiều chợt tím không hay / Nhìn hoa bâng khuâng anh nói : / -Mới thôi, mà đã một ngày./.). Câu 5 nhắc tập bút ký RẤT NHIỀU ÁNH LỬA. Nhà văn Nguyễn Tuân, chủ soái của thể bút ký Việt Nam đã dùng tựa đề này để nhận xét về bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ý nói : “nối được ta sau này, may chỉ có Tường thôi!”. Câu 6 nhắc tập bút ký TỚI MIỀN GÁI ĐẸP (Miền Tuyên Quang : chè Bắc Thái – gái Tuyên Quang). Hai câu cuối nói một nét đặc điểm nhỏ nhưng thấy rõ ở văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Nhà văn sinh năm 1937 tại Huế, hiện mấy năm nay bị bệnh, phải đi bằng xe lăn nhưng vẫn sáng tác đều.

40

Hoàng Thị Minh KhanhBâng khuâng quá, tháng giêng hai…
Một mùa hoa thắm vội phai sao đành?
Quyết lòng không tiếc ngày xanh
Để vườn thơ mãi không thành bờ hoang!

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG THỊ MINH KHANH (nhà thơ)
Hoàng Thị Minh KhanhCâu 1 nhắc tập thơ BÂNG KHUÂNG và tập THÁNG GIÊNG HAI. Câu 2 nhắc tập thơ MỘT MÙA HOA. Câu 3 nhắc bài thơ KHÔNG TIẾC NGÀY XANH được nhiều người thuộc, nó phản ánh lý tưởng sống đẹp của lứa thanh niên thời tác giả : Tay tôi rồi yếu đường gân / Trán tôi sẽ gợn nếp hằn già nua / Mắt tôi ngày mỗi thêm mờ / Chân tôi cũng sẽ thẩn thờ chậm hơn / Nhưng tôi không tiếc tuổi buồn / Những ngày xanh đẹp trong vườn hoa tươi / Vì tôi đã sống cho đời / Hơn là đã sống cho tôi rất nhiều / Tôi không buồn những buổi chiều / Vì tôi đã sống rất nhiều ban mai…
Bài thơ tuyệt vời nhất là ở 2 câu cuối. Nghe nói đã có bạn thơ của chị chữa lại : Tôi không buồn những buổi chiều / Vì tôi đã sướng rất nhiều ban đêm. Nếu xét về mặt nhại thơ thì quả là “tuyệt chiêu” vì sửa rất ít : chỉ có chữ sống thành sướng âm điệu lại cũng từa tựa mà đối lại chỉnh hơn (buồn đối với sống là ép), chữ mai thành đêm lại cũng là “ban” cả, không hề gượng ép, nghĩa thì cũng… sướng lắm ! hợp lý lắm vậy ! Câu 4 nhắc cặp lục bát tác giả dùng để tỏ lòng yêu thơ của mình : Trăm năm thề chẳng bao giờ / Để vườn thơ trở thành bờ cỏ hoang. Kể ra tác giả cũng hơi lo xa chứ “vườn” rộng sao có thể thành “bờ” hẹp được. Hay nhà thơ lo vườn thơ của mình ở mặt tiền bị rơi vào vùng qui hoạch mở rộng lộ giới?
Nhà thơ Hoàng Thị Minh Khanh sinh năm 1941, hiện đang sống và sáng tác tại quê Hà Nội.

41

Hoàng Trung ThôngĐường ta đi như trong mơ
Ngả nghiêng đầu sóng, lắc lư cánh buồm
Cần gì sỏi đá thành cơm
Chai còn rượu, thơ còn thơm hương mùa.

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG TRUNG THÔNG (nhà thơ)
Hoàng Trung ThôngTrong bài nhắc tên năm tập thơ chính của Hoàng Trung Thông là : 1. ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI (Trong tập này tôi còn thuộc bài ĐỌC THƠ BÁC : Con đọc trăm bài trăm ý đẹp / Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh / Vần thơ của Bác vần thơ thép / Mà vẫn mênh mang bát ngát tình hay bài BỘ ĐỘI VỀ LÀNG : …Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ / Nồi cơm nấu dở / bát nuớc chè xanh…); 2. NHƯ ĐI TRONG MƠ; 3. ĐẦU SÓNG; 4. NHỮNG CÁNH BUỒM; 5. HƯƠNG MÙA THƠ. Cách sắp xếp các tập thơ trong bài này cũng muốn tạo ra hình dáng cử chỉ của người say. Hoàng Trung Thông nghiền rượu loại nặng. Trong bài “Gửi ông Trạng Thông họ Hoàng”, Chế Lan Viên cũng nói nhiều về ý đó : Ông thì hay say,/ Tôi thì quá tỉnh / Mà ông đằm tính, / Tôi thì hay gây…Ở đây cũng nhắc BÀI CA VỠ ĐẤT nổi tiếng của Hoàng Trung Thông : … Đường xa ta tới đây / rên đồi cây khát nắng / Giữa hai dòng suối vắng / Đoàn ta vui cấy cày / Bàn tay lao động / Ta gieo sự sống / Trên từng đất khô / Bàn tay cần cù / Mặc dù nắng cháy / Khoai trồng thắm rẫy / Lúa cấy xanh rừng; / Hết khoai ta lại gieo vừng / Không cho đất nghỉ không ngừng tay ta./…/ Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm…
Hoàng Trung Thông sinh năm 1925 tại Nghệ An, mất năm 1993 tại Hà Nội.

42

Hồ DzếnhTrời không mưa, không nắng
Ngập ngừng gió heo may
Quê ngoại xa thăm thẳm
Chân trời cũ mây bay…
Đứa con nuôi nước Việt
Trên đường về, nhớ đầy…

» Xem/Đóng đáp án

HỒ DZẾNH (nhà thơ)
Hồ DzếnhCâu 1 nhắc cặp lục bát được nhiều người nhớ trong bài MÀU THU NĂM NGOÁI : Trời không nắng cũng không mưa / Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung. Câu 2 nhắc bài thơ NGẬP NGỪNG, một tuyên ngôn về tình yêu của Hồ Dzếnh. Có nhiều ý kiến ngợi ca và phê phán trái ngược có lẽ chỉ bởi vì nó… đúng quá. Nó là một trong những bài thơ được nhiều thế hệ thanh niên thuộc : … Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé / Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu / Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu / Buổi ân ái mong manh như nắng lụa / Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa / Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi / Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi /…/ Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé / Tôi sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ / Nếu trót đi em hãy gắng quay về / Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở / Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ / Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa. Hai câu tiếp nhắc hai tập truyện : QUÊ NGOẠI và CHÂN TRỜI CŨ. Câu 5 nhắc một giai thoại : Cha Hồ Dzếnh là người Hoa sang Thanh Hóa gặp cô lái đò, vào ngủ nhờ rồi sau nấn ná yêu cô lái đò… Vợ Hồ Dzếnh mất sớm để lại đứa con mới 4 tháng. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhật có chồng là thi sĩ Trần Trung Phương cũng mất sớm để lại cho vợ đứa con 5 tháng. Hồ Dzếnh và bà Hồng Nhật đã cảm thông và tiến tới hôn nhân. Trong buổi họp mặt cùng thân thích có người ra vế đối : Vợ góa nhà thơ lấy nhà thơ góa vợ và có người khác đối lại : Con nuôi nước Việt nhờ nước Việt nuôi con. Câu cuối là một câu trong bài CHIỀU đã được phổ nhạc : Trên đường về nhớ đầy / Chiều chậm đưa chân ngày / Tiếng buồn vang trong mây /…/ Nhớ nhà châm điếu thuốc / Khói huyền bay lên cây.
Hồ Dzếnh sinh 1916 tại Quảng Xương Thanh Hóa, mất năm 1991 tại Hà Nội.

43

Hồ Xuân HươngChuông sầu, mõ thảm, miếng trầu hôi
Thân trắng, lòng son, phận bánh trôi!
Quân tử mân mê mu múi mít
Hiền nhân ngó ngoáy lỗ trôn tôi
Tục tằn vạch thói thanh tao dỏm
Cười cợt che buồn duyên hẩm ôi
Muốn đổi làm trai lòng chẳng nỡ
Quen che mát mặt trượng phu rồi!

» Xem/Đóng đáp án

HỒ XUÂN HƯƠNG (nhà thơ)
Các bài thơ của Hồ Xuân Hương được nhắc đến là : TỰ TÌNH (Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom / Oán hận trông ra khắp mọi chòm / Mõ thảm không khuơ mà cũng cốc / Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om / Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ / Sau giận vì duyên để mõm mòm / Tài tử văn nhân ai đó tá / Thân này đâu đã chịu già tom); MỜI TRẦU (Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi / Này của Xuân Hương đã quệt rồi / Có phải duyên nhau thời thắm lại / Đừng xanh như lá, bạc như vôi ); BÁNH TRÔI NƯỚC (Thân em thì trắng, phận em tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non / Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn / Mà em vẫn giữ tấm lòng son); VỊNH QUẢ MÍT (Da nó sù sì, múi nó dầy / Quân tử có thương thì đóng cọc / Xin đừng măn mó nhựa ra tay); VỊNH ỐC NHỒI (Quân tử có thương thì bóc yếm / Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi); LẤY CHỒNG CHUNG (Năm thì mười họa hay chăng chớ / một tháng đôi lần có cũng không / Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm…); ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG (Ví đây đổi phận làm trai được / Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu); VỊNH CÁI QUẠT (Vành ra ba góc da còn thiếu / Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa / Mát mặt anh hùng khi tắt gió / Che đầu quân tử lúc sa mưa…)
Hồ Xuân Hương quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, chưa rõ năm sinh và mất.

44

Hồng NguyênRụng lâu rồi vẫn hồng nguyên
Bởi thơ bảo nhớ lòng quên không đành!

» Xem/Đóng đáp án

HỒNG NGUYÊN (nhà thơ)
Hồng NguyênHồng Nguyên mất cách nay đã hơn nửa thế kỷ mà tên tuổi nhà thơ vẫn không hề bị lãng quên. Tác giả gần như chỉ để lại một bài thơ NHỚ. Bài thơ mang đậm những nét tiêu biểu về dáng dấp, cách nói năng sinh hoạt và tâm hồn của anh bộ đội thời chống Pháp : Lũ chúng tôi / Bọn người tứ xứ / Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ / Quen nhau từ buổi “một hai” / Súng bắn chưa quen / Quân sự mươi bài / Lòng vẫn cười vui kháng chiến / Lột sắt đường tàu / Rèn thêm dao kiếm / Áo vải chân không / Đi lùng giặc đánh / Ba năm rồi gửi lai quê hương / Mái lều gianh / Tiếng mõ đêm trường / Luống cày đất đỏ/ Ít nhiều người vợ trẻ / Mòn chân bên cối gạo canh khuya / Chúng tôi đi / Nắng mưa sờn mép ba lô / Tháng năm bạn cùng thôn xóm / Nghỉ lại lưng đèo / Nằm trên dốc nắng / Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng / Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa / -Đằng nớ có vợ chưa ? / – Đằng nớ? / – Tớ còn chờ độc lập / Cả lũ cười vang bên ruộng bắp / Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu…
Hồng Nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng sinh năm 1924 tại Thanh Hóa và mất năm 1951 do trọng bệnh; khi đó là Trưởng ty Thông tin tuyên truyền Thanh Hóa.

45

Huy CậnTrời mỗi ngày lại sáng tỏ
Lửa thiêng sẵn đó thắp đèn!
Hạt lại gieo, hoa đất nở…
Nhờ có hai bàn tay em.

» Xem/Đóng đáp án

HUY CẬN (nhà thơ)
Huy CậnTrong bài nhắc các tác phẩm chính của Huy Cận : TRỜI MỖI NGÀY LẠI SÁNG, LỬA THIÊNG, HẠT LẠI GIEO, ĐẤT NỞ HOA và HAI BÀN TAY EM. Huy Cận có nhiều tập thơ với một số bài thơ hay ví như : CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG, ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ, ANH VIẾT BÀI THƠ… Với nhiều câu thơ hay nổi tiếng đặc biệt là những câu mang hồn vũ trụ. Ví như : Biển lặng em nằm trong gió êm / Anh là bóng thức của hồn em / Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng / Từng cặp nhân vàng trong trái đêm; hay : Ta ngồi mảng sáng giữa đêm khuya / Vở hết trang rồi, viết đến bìa / Nhìn thẳm ra đêm trang vũ trụ / Chữ vàng sao rụng ném lia thia. Hay nữa : Đậu cành vũ trụ sao đêm / Chùm sao vũ trụ có thêm bồi hồi. Hoặc là : Dậy sớm tưởng trời vừa tạo lập / Gió hây hây thổi tựa chùm sao / Cây chưa có bóng, ngày chưa ấp / Sông ẵm thuyền êm chửa động sào; hoặc như : Trời xanh ran lá biếc / Biển chóa ngợp buồm vàng / gió thổi miền bất diệt / Mây tạnh đất hồng hoang.
Tuy nhiên, nếu lấy đơn vị là tập thì hoàn chỉnh nhất là LỬA THIÊNG và HAI BÀN TAY EM. Xin dẫn từ mỗi tập một bài. BUỒN ĐÊM MƯA : Đêm mưa làm nhớ không gian / Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la… / Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn / Nghe đi rời rạc trong hồn / Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi… / Rơi rơi… dìu dịu rơi rơi… / Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ… / Tương tư hướng lạc phương mờ…/ Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe / Gió về, lòng rộng không che / Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư… CON CHIM CHIỀN CHIỆN : Con chim chiền chiện / Bay vút, bay cao / Lòng đầy yêu mến / Khúc hát ngọt ngào /…/ Tiếng ngọc trong veo / Chim gieo từng chuỗi / Lòng chim vui nhiều / Hát không biết mỏi / / Chim bay, chim sà / Lúa tròn bọng sữa / Đồng quê chan chứa / Nhũng lời chim ca / / Bay cao bay vút / Chim biến mất rồi / Chỉ còn tiếng hót / làm xanh da trời…
Huy Cận họ Cù, sinh năm 1919 quê Hương Sơn Hà Tĩnh. Hiện sống ở Hà Nội.

46

Hữu LoanĐẹp như nơi hò hẹn
Những làng đi qua ơi
Hoa lúa trắng lên tóc
Hoa sim tím lịm… đời!

» Xem/Đóng đáp án

HỮU LOAN (nhà thơ)
Hữu LoanHai câu đầu nhắc bài thơ NHỮNG LÀNG ĐI QUA (… Một làng xa nho nhỏ / Đẹp như nơi hẹn hò / Có đôi lòng gắn bó / Nhưng lời chưa nói ra). Câu 3 nhắc bài thơ HOA LÚA đã được phổ nhạc, một trong những bài thơ nổi tiếng hay trong thời chống Pháp (Em là em gái đồng xanh / Tóc dài vương hoa lúa / Đôi mắt em mang chân trời quê cũ / Giếng ngọt / Cây đa…). Câu này cũng muốn nói nhà thơ Hữu Loan về già có mái tóc dài và trắng rất đẹp. Câu 4 nhắc bài thơ MÀU TÍM HOA SIM (Nàng có ba người anh đi bộ đội / Những em nàng có em chưa biết nói / Tôi người vệ quốc quân / Yêu nàng như tình yêu em gái / … / Tôi về, không gặp nàng / … / Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương / … / Chiều hành quân qua những đồi hoa sim / Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết / Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt)
Hữu Loan sinh năm 1916 tại quê Nga Sơn, Thanh Hóa. Hiện ở Thanh Hóa.

47

Hữu ThỉnhĐường tới thành phố còn kia
Năm anh em, một chiếc xe, một lòng
Thơ ở biển, thư mùa đông
Hỏi: -Người sống có đẹp không với người?

» Xem/Đóng đáp án

HỮU THỈNH (nhà thơ)
Hữu ThỉnhĐƯỜNG TỚI THÀNH PHỐ là trường ca của Hữu Thỉnh nhận giải thưởng Hội Nhà văn 1980. NĂM ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC XE TĂNG là bài thơ của Hữu Thỉnh được phổ nhạc rất nổi tiếng. THƠ VIẾT Ở  BIỂN là bài thơ tình được rất nhiều bạn yêu thơ thuộc, nhiều nhà phê bình tán tụng và được phổ nhạc với những câu: Anh xa em / Trăng cũng lẻ / Mặt trời cũng lẻ / Biển vẫn cậy mình dài rộng thế / Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn / Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím…THƯ MÙA ĐÔNG là tập thơ được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1995 và sau đoạt giải thưởng văn học Đông Nam Á. Câu cuối cùng nhắc bài thơ HỎI rất nổi tiếng của Hữu Thỉnh. Xin chép để các bạn tham khảo: Tôi hỏi đất: /-Đất sống với đất như thế nào ? / Chúng tôi tôn cao nhau /– Tôi hỏi nước: /-Nước sống với nước như thế nào? / -Chúng tôi làm đầy nhau / Tôi hỏi cỏ: /-cỏ sống với cỏ như thế nào? / Chúng tôi đan vào nhau / Làm nên những chân trời / Tôi hỏi người: /- Người sống với người như thế nào?/. Tôi hỏi người: /- Người sống với người như thế nào?/Tôi hỏi người:/-Người sống với người như thế nào?
Nhà thơ Hữu Thỉnh họ Nguyễn, sinh năm 1942 tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Hiện sống ở Hà Nội, là Chủ tịch hội Nhà văn, Tổng biên tập báo Văn Nghệ.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần K-L) 2/5 (1)

48

Kim ChuôngKể từ tình gặt mùa yêu
Nửa đời nhìn lại: cũng nhiều trăng hoa
Anh – em, thoắt đã ông – bà
Lời trong, giọng bổng, đúng là kim chuông

» Xem/Đóng đáp án

KIM CHUÔNG (nhà thơ)
Kim ChuôngCâu 1 nhắc tập thơ đầu của Kim Chuông là TÌNH YÊU MÙA GẶT : …Chẳng hiểu tự lúc nào tôi yêu nước da nâu / Một vệt bùn đen vương trên mái tóc / Lời em nói chân tình như hạt thóc / Tôi cầm trên tay hương thấm đến tận lòng… Câu 2 nhắc tên các tập thơ HOA NỞ NGÀY EM ĐẾN, MẶT TRĂNG EM, TRĂNG CỦA RỪNG… Câu 3 nhắc ý thơ trong các bài CẢM NHẬN và NGÀN NĂM : Nhưng mà thoáng đấy đã em / Đã tôi, ngoảnh lại đã lên ông bà hoặc Em là em, bây giờ thì là mẹ / Mới đó thôi, mấy nữa sẽ lên bà… Câu cuối : thơ Kim Chuông khi buồn khi vui, nhưng lúc nào cũng trong sáng, ngay cả khi đăm chiêu trước cuộc đời. Đặc biệt là thơ lục bát rất mượt mà thanh thoát, đọc lên như tiếng chuông ngân : Nón thì anh có đội đâu / Sao anh đi, bóng trên đầu cứ che (EM NGỒI DỆT NÓN) hoặc Vẫn còn em đấy, anh đây / Ngàn năm trăng khuyết, trăng đầy tìm nhau (NGÀN NĂM). Hay như bài MƯA (Mưa bay trắng xóa một màu / Hạt mưa nói hộ lòng nhau đêm dài / Tay nâng khuy cửa em cài / Đêm nay có trận mưa ngoài cơn mưa). Bài này thuộc loại “vừa đố vừa giảng” trong dân gian rất hay dùng.
Kim Chuông họ Nguyễn, sinh 1947 tại Hải Phòng. Hiện là phó chủ tịch hội Văn Nghệ Thái Bình, tổng biên tập Văn Nghệ Thái Bình.

49

Lâm Thị Mỹ DạKhen em, đâu phải khen điêu
Nhưng hôn như lá? Cũng nhiều hơi hơi
Trái tim yêu chẳng phút ngơi
Hố bom đã lấp , khoảng trời vẹn nguyên!
Thủ – đô nhớ buổi đầu tiên
Đường bằng em ngã… thẳng lên… văn đàn!

» Xem/Đóng đáp án

LÂM THỊ MỸ DẠ (nhà thơ)
Lâm Thị Mỹ DạCâu 1 nhắc bài ANH ĐỪNG KHEN EM (Hãy chỉ cho em cái kém / Để em nên người tốt lành / Hãy chỉ cho em cái xấu / Để em chăm chút đời anh…). Chữ điêu lấy của Nguyễn Bính (Nàng đẹp như em, chẳng nói điêu). Câu 2 nhắc bài thơ LÁ với hai câu kết: Nếu vẽ được chiếc hôn ở dưới ánh trời / Tôi sẽ vẽ chiếc hôn như lá. Câu thứ 3 nhắc tên tập thơ TRÁI TIM SINH NỞ – Tập thơ đầu tay của tác giả (Dẫu khi tắt nghỉ cuộc đời / Trái tim mẹ giữa đất trời còn yêu). Câu 4 nhắc bài thơ KHOẢNG TRỜI HỐ BOM – một trong những bài thơ hay nhất của Mỹ Dạ và của nền văn học thời đánh Mỹ (Em nằm dưới đất sâu / Như khoảng trời nằm yên trong đất / Đêm đêm tâm hồn em tỏa sáng / Những vì sao ngời sáng lung linh / … / Cái chết em xanh khoảng trời con gái / Tôi soi mình trong cuộc sống của em / Gương mặt em bạn bè tôi không biết / Nên mỗi người có gương mặt em riêng. Câu 5, 6 nhắc bài thơ ĐƯỜNG Ở THỦ ĐÔ lần đầu Mỹ Dạ xuất hiện trên văn đàn đã gây ấn tượng cho độc giả và chị chính thức thành nhà thơ có tên tuổi từ đó (Đường bằng mà ngã lạ chưa / Đường chênh vênh lại chẳng lừa được chân).
Lâm Thị Mỹ Dạ sinh 1949 tại Lệ Thủy, Quảng Bình. Hiện công tác tại tạp chí Sông Hương (Huế)

50

Lê Anh XuânBồn chồn nghe sấm, nhớ mưa
Nghe gà gáy, nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ đất, hiến thân
Tên anh – dáng đứng mùa xuân, con đường.

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ANH XUÂN (nhà thơ)
Lê Anh XuânCâu đầu nhắc bài thơ NHỚ MƯA QUÊ HƯƠNG – Giải thưởng báo Văn Nghệ 1961, trong đó có câu Ôi, tiếng sấm từ xa đang rền vang rộn rã cũng là tiếng súng, tiếng trống trận ở Miền Nam thôi thúc nhà thơ. Từ “bồn chồn” cũng muốn nhắc câu thơ Lê Xuân Anh viết về Sài Gòn thời chiến tranh : Cái  quầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về !. TIẾNG GÀ GÁY báo hiệu bình minh cách mạng giải phóng và HOA DỪA là tên các tập thơ của Lê Anh Xuân. GIỮ ĐẤT  là tên tập văn xuôi của Lê Anh Xuân viết ở chiến trường Miền Nam. Tên thật của tác giả là Ca Lê Hiến (quê ông ở Bến Tre) khi về chiến đấu ở Miền Nam, anh lấy bút danh Lê Anh Xuân và đã hy sinh. Ở TPHCM, hiện có đường Lê Anh Xuân, một con dường nhỏ nhưng đẹp, ngay trung tâm quận I. Chữ “dáng đứng” cũng muốn  nhắc bài thơ DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM của Lê Anh Xuân : Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng anh gượng đứng lên, tỳ súng trên xác trực thăng / và anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng / Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng / Có thằng sụp xuống chân anh lánh đạn / Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm / Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công /…/ Vẫn đứng lên im như bức thành đồng / Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.
Lê Xuân Anh sinh năm 1940 tại Bến Tre. Hy sinh năm 1968 tại Long An ven Sài Gòn.

51

Lê ĐạtĐại nhân, con trẻ khác gì
Cổ lai hy lại chi chi chành chành
Mặc ai yêu giữ cha mình
Chạy theo bóng chữ để giành phiếu thơ!

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ĐẠT (nhà thơ)
Lê ĐạtCâu đầu lấy ý từ thành ngữ Một già một trẻ bằng nhau và cũng muốn nhắc tên tập truyện ngắn HÈN ĐẠI NHÂN. Chúng tôi bỏ bớt chữ hèn sợ có kẻ xuyên tạc nhằm xúc phạm nhà thơ cao tuổi từng có thành tựu trong văn học. Câu 2 nói nhà thơ đã sang tuổi 70 mấy năm nay, và muốn nhắc bài thơ CHI… CHÀNH một trong những thành tựu đẹp nhất của nhà thơ Lê Đạt sau nhiều năm thử nghiệm với tinh thần “một nắng hai sương, lầm lũi lực điền trên cánh đồng giấy, đổ bát mồ hôi lấy từng hạt chữ” : chi chi chành chành / Chữ đanh thổi lửa / Cấp kế đi tìm / Ta vẫn đi tìm / Ta đi mỏi chân / Em ơi cho anh / Mượn con ngựa gỗ. “Con ngựa gỗ” là “Con ngựa thành Roa” đấy mà. Bài thơ nếu đem làm câu đố thì tuyệt, chỉ có điều là chả bạn dự thi nào đoạt giải cả ! Câu 3 nhắc bài thơ CHA TÔI của Lê Đạt, một trong những bài thơ hay của ông và của nền thơ Việt Nam trong những năm qua, với những câu thơ như khắc vào đá, khắc vào trí nhớ bao người : … Hai vai nhô lên / Đầu lún xuống / Như không mang nổi cuộc đời / Bóng in tường vôi / im lặng / Ngọn đèn leo leo ánh sáng / Bóng với người / Như nhau / Mùi ẩm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt / Ở chân bàn / hay ở cha tôi… Câu 4 nhắc tập thơ BÓNG CHỮ. Xin chép đôi câu từ tập cho các bạn tham khảo : Ai xui em đẹp em xinh / Ba lần con thiến gáy; yếm trúc mẩy màng đôi núm sừng bò; Đùi bãi ngó non, ngo ngó sông đầy / Mình lưỡng hà / Thoai thoải vú Đông Sơn; Cô trẻ thư người yêu tối qua / Sớm khăng khăng ngựa chim hát / Hỏi ông già đâu / Chừng như ông cũng đường chim hát; lũ vật lớn bốc / Một đàn lốc nhốc / Guốc khua cốc cốc / Sớm bốn chân thợ mộc / Lộc ngộc / Ngựa quần cộc… Cũng ở câu cuối còn nhắc danh ngôn của nhà thơ : Chữ bầu lên nhà thơ.
Nhà thơ Lê Đạt sinh năm 1929 tại Yên Bái, quê quán ở Hà Bắc. Hiện ông đang sống và lao động… chữ tại Hà Nội.

52

Lê Đình CánhLên thang chẳng dám bước dài
Ổi Bo đã chín, tình đời còn xanh
Trời thì dịu, đất thì lành
Người đôn hậu cũng đa tình thế thôi:
Nghiêng nơm … Nhìn váy ai ngồi
Đã mơ “tan chảy vàng mười trong nhau”

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ĐÌNH CÁNH (nhà thơ)
Lê Đình CánhCâu 1 nhắc bài thơ MẸ RA THÀNH PHỐ với những câu được nhiều người nhớ: Lên thang chẳng dám bước dài / Vào khu tập thể gặp ai cũng chào. Câu 2 nhắc bài thơ MỘT MÌNH ANH ĐI từng đoạt giải báo Văn Nghệ (Cầu Bo anh đã qua rồi / Gặp trong hương ổi tình đời chín cây. Hoặc: Thầy em tóc vẫn còn xanh / Lỡ mồm anh đã gọi anh mấy lần / Mặc quần phăng, lại cởi trần / Vê vê mồi thuốc, ba lần quẹt diêm). Hai câu tiếp kể tên ba tập thơ: ĐẤT LÀNH, TRỜI DỊU, NGƯỜI ĐÔN HẬU. Câu 5 nhắc bài thơ HỒ TÂY (Làng hoa mở phố cầy tơ / Hồ Tây thui chó lam mờ khói rơm / Váy ngồi như để nghiêng nơm / Nắng mầu nhựa mận, ngậy thơm vị riềng). Câu cuối nhắc bài thơ: TRĂNG NỞ NỤ CƯỜI viết về Thị Nở và Chí Phèo ( ngớ ngẩn, gã khùng điên / Khi tình yêu đến hốt nhiên thành người / Vườn xuông trăng nở nụ cười / Phút giây tan chảy vàng mười trong nhau)
Lê Đình Cánh lâu nay đi theo người tiền bối đồng hương là Nguyễn Duy làm thơ lục bát và đã thành một “lục bát gia” khá chững chạc. Chúng ta hãy thưởng thức thêm một bài lục bát khá hoàn chỉnh của ông : QUÁN SỨ BÊN NÀY : Chùa Quán Sứ. Bệnh viện K / Nằm kề hai phía nhà pha Hỏa Lò / Nơi vô lo. Chốn đang lo. / Nơi thì thiện ác giằng co một người ! // Cả ba nơi vắng tiếng cười / Đàng sau nước mắt là lời thở than / Nào đâu túc trái tiền oan / Nào đâu kiếp trước đa đoan những ngày ! // Còn tôi Quán Sứ bên này / Nhìn sao thấu bức tường dày bên kia!
Lê Đình Cánh nhiều năm làm việc ở Đài phát thanh Quán Sứ. Ông sinh năm 1941 tại Thanh Hóa. Hiện ở Hà Nội.

53

Lê LựuNgười cầm súng rất cù lần
Mấy kỳ đi Mỹ, mấy tuần sang Nga
Về làng Cuội gặp hai nhà
Vụng đùa xuýt nữa thì… xa vắng đời!

» Xem/Đóng đáp án

LÊ LỰU (nhà văn)
Lê LựuTrong bài thơ nhắc một số tác phẩm tiêu biểu của Lê Lựu : NGƯỜI CẦM SÚNG, BÚT KÝ ĐI THĂM MỸ, LÀNG CUỘI, HAI NHÀ, ĐẠI TÁ KHÔNG BIẾT ĐÙA và tác phẩm nổi tiếng nhất là THỜI XA VẮNG. Hai câu cuối cũng muốn nói tác phẩm HAI NHÀ viết hơi… đúng quá nên bị ít nhiều chị em la lối và truyện LÀNG CUỘI thì : Lê Lựu vốn xuất thân từ nông dân nên anh vẫn ví việc sáng tác của mình như việc cày cấy. Về tiểu thuyết LÀNG CUỘI anh nói : “Lạng quạng thế nào cuốc bố nó phải chân mình. Cú này bị tai nạn lao động”. Từ “cù lần” trong câu 1 nhắc đến chân dung Lê Lựu trong CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI của Trần Đăng Khoa.
Lê Lựu sinh năm 1942 tại Châu Giang Hưng Yên, hiện công tác tại tạp chí VNQĐ.

54

Lê Quốc HánLấy lời-khấn-nguyện làm lòng
Bến-vô-cùng mấy đục trong, lở bồi?
Ngẫm đời – hạt bụi đấy thôi!
Tình đầu chớ dỗi, luân hồi đừng mơ…

» Xem/Đóng đáp án

LÊ QUỐC HÁN (nhà thơ)
Lê Quốc HánTrong bài nhắc tên hai tập thơ của Lê Quốc Hán : LỜI KHẤN NGUYỆN (NXB. Hội Nhà văn) và BẾN VÔ CÙNG (NXB. Văn học). Và tên các bài thơ: NGẪM (Trẻ – ngỡ mình nặng nhất / Già – biết mình nhẹ tênh / Thời gian như rìu sắc / Đẽo bạc cả đầu xanh); VÒNG ĐỜI (Hoa tàn, lá rụng, sao rơi / Tử sinh đưa đẩy, vòng đời vần xoay / Bấm nhầm một đốt ngón tay / Trăm năm rút lại một ngày. Hư không); HẠT BỤI (Phải ngày xưa chúng mình hai hạt bụi, ở hai vì tinh tú xa xôi. Một ngày kia qua hơi thở Chúa trời, quằn quại hóa hai linh hồn bất diệt…); TÌNH ĐẦU (Tình yêu đôi ta / Như cuốn vở mới / vừa lật trang đầu / đã sang trang cuối /…/ Em đừng khóc nữa / bão rồi sẽ yên…) ; DỖI (Thôi em cứ việc đi tìm / Cho môi khỏi héo, cho tim khỏi tàn / Biết đâu cuối bến trần gian / Người xưa vẫn đợi em sang một bờ…) ; LUÂN HỒI (…Tình duyên – Chiếc lá giữa trời / Hôm nay rụng xuống, mai chồi biếc lên) ; GIẤC MƠ (Vừa chớp mắt đã mơ / Gặp mình nghìn năm trước / … / Sẩy chân sa xuống vực / Gặp mình nghìn năm sau…)
Lê Quốc Hán sinh năm 1949 tại Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Hiện giảng dạy toán tại Đại học Sư phạm Vinh.

55

Lê Thái SơnTên như núi Thái vời cao
Giải thơ từng nhận hôm nào thủ đô
Bán kem rồi đạp xích lô
Giờ ngồi chủ xị hội thơ tỉnh nhà

» Xem/Đóng đáp án

LÊ THÁI SƠN (nhà thơ)
Lê Thái SơnCâu 1 muốn nhắc đến tên nhà thơ. Câu 2 : chúng tôi gặp Lê Thái Sơn lần đầu khi cùng ra nhận giải thơ lục bát báo Giáo Dục và Thời Đại (1998). Câu 3 nhắc các bài thơ : THẰNG KEM (Nào ai kem, nào ai kem / Bạn bè có đứa quên tên nó rồi / Khi cần, chỉ gọi “kem ơi” / Vài tờ bạc lẻ thay lời hỏi han) và bài THƠ VUI TẶNG BẠN ĐẠP XÍCH LÔ (… Ngủ mà như vểnh tai nghe / Tiếng còi những chuyến tàu về ngoài ga // Lên xe nào cậu nào bà / Vali trẻ, thúng mủng già, như nhau / Áo đủ mốt, mũ đủ màu / Nuớc hoa, nước mắm, xăng dầu đều quen / Ra đường thẳng cánh đua chen / Vòng vo luồn lách mà lên với người / Nặng nhẹ cũng một dặm ngồi / Nhìn mặt đặt giá nửa lời là xong // Khi thì chẳng miếng lót lòng / Bạn bè nhậu nhẹt chúng không thèm mời / Khi thì xả láng cuộc chơi / Giá ai có bán gan trời cũng mua // Trăm lần sắm lễ lên chùa / Thật tâm mà khấn như đùa cả trăm / Cúi xin Đức Phật từ tâm / Kiếp sau lại bắt con cầm càng xe. Câu cuối : Lê Thái Sơn hiện là chủ tịch Hội Văn Nghệ Nghệ An.

56

Lê Thị KimBiết làm quì tím hóa xanh
Khi tình yêu đến hát thành thi ca
Thương Trường Sơn, nhớ Truờng Sa
Chuồn kim cánh mỏng, đất nhà lãi cao

» Xem/Đóng đáp án

LÊ THỊ KIM (nhà thơ)
Lê Thị KimCâu đầu nói Lê Thị Kim vốn là kỹ sư ngành hoá (quì và phê-nôn là các chất chỉ thị màu rất hay dùng trong các thí nghiệm hóa học). Câu 2 nhắc tập thơ KHI TÌNH YÊU ĐẾN (… Em có một tình yêu / Mỏng manh như nhánh lá / Em có một tình yêu / Như sóng ngầm biển cả /…/ Đang ăn cơm bỗng hát / Giữa giấc ngủ mỉm cười / Em bất thường lạ thật / Bắt đền anh, anh ơi!). Câu 3 nhắc 2 bài thơ : SAO ANH KHÔNG KỂ (Em hỏi về kỷ niệm / Ở Trường Sơn, rừng sâu / Anh mỉm cười mắt nói / Có gì dâu gì đâu!/…/ Bao hy sinh vất vả / Anh chẳng kể lần nào / Còn em chưa qua đó / Lại nói về gian lao) và bài GẦN LẮM TRƯỜNG SA (Anh ngồi kề rất bình yên / Mà sao sóng gió lại truyền sang tôi ? / Mà sao chùm đảo xa khơi / Nở tung tóe tựa sao trời vút lên). Câu 4 nhắc bài VIẾT CHO CHUỒN CHUỒN KIM (Đôi cánh mày bé bỏng / Sao mang nổi màu trời / Nhỡ mà kỳ giông bão / Núp đâu chuồn kim ơi ! /…/ Tôi đi mà như đậu / Tôi bay mà như đi / Con chuồn kim bờ dậu / Trong tình tôi thầm thì…). Thơ Lê Thị Kim như con chuồn kim thần tiên mơ mộng, thủ thỉ may những đường thêu vào trí nhớ người đọc. Vào những năm thịnh hành “ thơ thanh niên xung phong”, tôi còn nhớ đến tận giờ cặp lục bát Lê Thị Kim viết về làm thủy lợi : Dòng kênh từ độ sơ sinh / Biết đi đã cuộn theo mình niềm vui !. Đất nhà giá cao là viết theo thông tin vừa cập nhật : Nữ sĩ hiện đang làm giám đốc một công ty kinh doanh nhà đất làm ăn khá hiệu quả.
Lê Thị Kim, tên thật là Lê Thị Ngà, sinh năm 1950 tại thị xã Thanh Hóa. Hiện là cán bộ nghiên cứu thuộc Phân viện Khoa học Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh, ủy viên Ban chấp hành hội nhà văn Tp.HCM và rất thành đạt trong việc kinh doanh nhà đất!

57

Lê Văn ThảoNgôi nhà có hàng rào bằng sắt
Cửa sổ màu xanh gọi mời như con mắt
Đêm Tháp Mười gió mát
Con đuờng nhỏ xuyên rừng sâu
Từ buổi chiều đến sáng hôm sau họ thuờng vẫn đi về…

Chuyện nhỏ tình yêu tôi nghe anh kể
Văn khoai lúa thật là, tình thơm thảo đào lê!

» Xem/Đóng đáp án

LÊ VĂN THẢO (nhà văn)
Lê Văn ThảoTrong bài liệt kê một loạt tác phẩm của Lê Văn Thảo : NGÔI NHÀ CÓ HÀNG RÀO BẰNG SẮT (tiểu thuyết), CỬA SỔ MÀU XANH (tập truyện), ĐÊM THÁP MƯỜI (tập truyện), CON ĐƯỜNG XUYÊN RỪNG (tiểu thuyết), BUỔI CHIỀU VÀ SÁNG HÔM SAU (tập truyện), CHUYỆN NHỎ TÌNH YÊU (tập truyện). Câu cuối nhắc bút danh Lê Văn Thảo và đôi điều về văn phong nặng tình cảm, chân chất thật thà dễ mến – phong cách Nam Bộ nói chung.
Lê Văn Thảo tên khai sinh là Dương Ngọc Huy sinh năm 1939 tại Long An. Quê gốc An Giang. Hiện là chủ tịch Hội Nhà văn TPHCM.

58

Lưu Trọng LưĐẻ cho đời con nai vàng ngơ ngác
Đất nước bốn mùa thơ mộng nhất – mùa thu
Ừ nhỉ, đàn bà phải đâu quỉ ác
Con gái sông Gianh giết giặc bởi căm thù.

» Xem/Đóng đáp án

LƯU TRỌNG LƯ (nhà thơ)
Lưu Trọng LưCâu 1, 2 nhắc bài thơ TIẾNG THU : Em không nghe mùa thu / Dưới trăng mờ thổn thức ? / Em không nghe rạo rực / Hình ảnh kẻ chinh phu / Trong lòng người cô phụ / Em không nghe rừng thu / Lá thu rơi xào xạc / Con nai vàng ngơ ngác / Đạp trên lá vàng khô… Nhà thơ Trần Đăng Khoa đánh giá đây là bài thơ hay nhất trong đời thơ Lưu Trọng Lư và thơ nhất trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Cùng với bài TIẾNG THU của Lưu Trọng Lư, THU ẨM, THU ĐIẾU, THU VỊNH của Nguyễn Khuyến v.v…, mùa thu thành mùa mơ mộng nhất ở nước ta. Câu 3 nhắc một vài ý trong bài luận về thi ca của Lưu Trọng Lư trong tập TIẾNG THU (in năm 1941) (Tôi chỉ nhận thấy những tác phẩm của tôi, chỉ có một sự cộng tác rất tầm thường, rất dung dị, rất lương thiện, ấy là sự cộng tác của những nguời đàn bà. Những con vật rất xinh ấy nhiều khi cũng độc ác, tàn nhẫn một chút, nhưng vẫn là đàn bà. Họ không phải là Quỷ. Họ không thể là Quỷ. Họ, đôi mắt vẫn trong trẻo, hiền lành như một bến thu. Tiếng nói của họ vẫn là nhạc điệu của những nhạc điệu… Những con vật xinh xinh ấy biết tỉa lông mày, đánh móng tay, nhưng cũng biết nuôi tằm, quay tơ và dêt những tấm áo cho thể chất và tinh thần của nhân loại). Câu cuối nhắc tập NGƯỜI CON GÁI SÔNG GIANH tác giả viết trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều bài thơ của Lưu Trọng Lư tôi không đọc từ sách, mà không biết đã nhập vào trí nhớ tôi từ nguồn nào, vào lúc nào. Ví như : Vừng trăng lên mái tóc mây / Một hồn thu tạnh mơ say hương nồng / Mắt em là một dòng sông / Thuyền anh bơi lặng trong giòng mắt em. Hay như :Những điệu huyền bay lạc khắp thôn / Tùng nhà đây đó hẹn nhau buồn / Có cô dâu mới nhìn sông nuớc / Sực nhớ quê nhà giọt lệ tuôn. Thơ Lưu Trọng Lư cho ta một cái buồn nhẹ và loãng như khinh khí nén vào hồn ta làm cho ta bay lơ lửng lên. Tiếc rằng trong thời buổi kinh tế thị trường tất bật suốt ngày (chẳng biết vì cái gì ?) ta chả còn phút nào rảnh rang để mà buồn. Mà nếu có gặp buồn thì lại là cái buồn nặng trịch cứ đè cổ, ấn hồn ta xuống.
Lưu Trọng Lư sinh năm 1912 tại Quảng Bình, mất năm 1991 tại Hà Nội.

59

Lương HữuMùa mây có lẽ không ai nhớ?
Sông chảy dòng đôi chửa tới cầu!
Về với thầy văn mà uống rượu
Sức bút chỉ vừa viết bốn câu!

» Xem/Đóng đáp án

LƯƠNG HỮU (nhà thơ)
Lương HữuHai câu đầu nhắc hai tập thơ của Lương Hữu là MÙA MÂY AI NHỚ và SÔNG CHẢY DÒNG ĐÔI (Bọt bèo sông chảy dòng đôi / Bên em nổi loạn, bên tôi mê cuồng /…/ Biết mình không thể dửng dưng / Chia ra thì giận, nhập chung thì hờn…). Chửa tới cầu là nhắc bài SẮP QUA CẦU (Sắp rồi đây, sắp qua cầu / Sông Bo chảy giữa hai đầu ước mơ…). Câu thứ ba nhắc bài UỐNG RƯỢU VỚI THẦY GIÁO VĂN : Nào tôi có uống được đâu / Rượu này thầy rót từ bầu tâm tư / Rằng ta thực quá hóa mơ / Ép nhau say chút hư vô cuối cùng / / Thôi thì ta cạn chén chung / Chén cay ai nhận, chén mừng phần ai / Thầy bước trúng, tôi bước sai / Mà men say đổ cả hai chúng mình / / Thầy ưa mộc mạc chân tình / Tôi nhiều mơ mộng vẫn thành tri âm. / Dạy người rồi mới dạy văn / Lòng trong sáng trước câu thần giáng sau / / tâm niệm ấy rót cho nhau / Uống chưa bạc nốt mái đầu chưa thôi / Luận văn chưong luận nhiều rồi / Giờ hai ta nói bốc trời cho vui / / Tôi yêu tôi uống với người / Chén thơ trộn với chén đời đắng cay / Rượu vơi tâm sự lại đầy / Biết còn men đủ cho ngày mai không ? Bài thơ phảng phất phong vị Tản Đà – Trần Huyền Trân. Dẫu sao ít nhiều cũng cập nhật được những nét nhân tình thế thái của thời đại mới.
Câu cuối: do Lương Hữu hai lần liền nhận giải cao ở Tài Hoa Trẻ về thơ tứ tuyệt nên chợt nhớ người bạn thân là Hà Huy Khoái (hiện là Viện trưởng Viện Toán học Hà Nội) có lần đã nói với tôi : “ Việt Nam mình chỉ có thơ tứ tuyệt là hay và người Việt cũng chỉ nên làm thơ tứ tuyệt!”. Tôi hỏi “Sao vậy?” – Ông nói : “Cái sức của người mình nó chỉ đến thế. Viết bốn câu còn hay chứ đến câu thứ năm là dớ dẩn rồi. Kinh nghiệm như Xuân Quỳnh, Xuân Diệu… cũng vậy. “Biển” hay “Sóng” của Xuân Quỳnh thì cũng chỉ được 4 câu là hay sau đó thì lảm nhảm, đứa dở hơi nào cũng viết được!”. Tôi muốn nhân chuyện đó để trêu Lương Hữu cho vui chứ “bút lực” của người này còn mạnh lắm, viết câu thứ năm vẫn có thể hay như thường!
Lương Hữu quê Thái Bình, giảng viên Cao đẳng Sư phạm, đã nghỉ hưu vài năm nay.

60

Lý LanLý, lan hương dịu, thơm xa
Văn thơ chả hội, chả “nhà” vẫn hay
Việt, Anh, Hoa ngữ gồm tài
Sài-Gòn Chợ-lớn tháng ngày nhởn nhơ
Chiêm bao thấy núi tỏ mờ
Về sáng tay quờ : viên sỏi cầm chơi!

» Xem/Đóng đáp án

LÝ LAN (nhà văn)
Lý LanCâu 1 muốn gợi ý bạn dự thi tên tác giả là Lý Lan. Câu 3: Lý Lan là người Việt, gốc Hoa, lại là giáo viên Anh văn nên thành thạo nhiều ngoại ngữ. Các câu sau nhắc 4 tập truyện: SÀI-GÒN CHỢ-LỚN RONG CHƠI ; CHIÊM BAO THẤY NÚI, SÀI GÒN VỀ SÁNG VÀ NHỮNG VIÊN SỎI CẦM CHƠI. Lý Lan không chỉ viết văn xuôi, mà còn làm thơ. Ở thơ, ta lại gặp một phong cách hoàn toàn khác. Thí dụ bài BIA ÔM: Anh nâng ly, kề môi em, bảo uống / Uống đi – không say làm sao em hiểu anh? / Làm sao hiểu làm đàn ông/ nhục như thế nào. / Em nâng ly kề môi anh bảo uống / Uống đi – không say làm sao anh tin em? / Làm sao tin làm đàn bà / nhục như thế nào!. Thì ra cái vinh hay cái nhục đôi khi chỉ là hiệu quả của việc sử dụng vốn tự có!
Lý Lan hiện đang đi làm thạc sĩ văn chương tại Mỹ.

61

Lý Văn SâmKiểm lâm – nghề của ông cha
Chuyện đường rừng – chuyện trong nhà đấy thôi
Kòn Trô đích thực “con trời”
“Đào hoa – lãng tử” một đời lang thang
Trái tim đốt một lò than
Sương tan, mưa tạnh, bên làng nắng lên.

» Xem/Đóng đáp án

LÝ VĂN SÂM (nhà văn)
Lý Văn SâmTrong bài nhắc truyện ngắn đầu tay KÒN TRÔ (nghĩa là “con trời”). Chính tác giả coi đó là truyện gây ấn tượng nhất vì Kòn Trô chính là hình bóng của tác giả, cốt truyện chính là tiếng sét ái tình với một nhân vật nữ của truyện. NẮNG BÊN LÀNG cũng là truyện ngắn tâm đắc nhất của tác giả. Các tác phẩm SƯƠNG GIÓ BIÊN THÙY, NGOÀI MƯA LẠNH là các tập truyện tiêu biểu của tác giả. Lý Văn Sâm là con của một nhà kiểm lâm, ông cũng làm nghề đốt than ở vùng đồng bào thiểu số nên rất thành đạt trong các truyện về đường rừng. Ông đặc biệt đa tình và có số đào hoa, tới đâu cũng yêu và được yêu. Với một người đàn ông lại là một nhà văn, hỏi còn gì hạnh phúc hơn nữa!
Lý Văn Sâm sinh năm 1921, quê Đồng Nai. Hiện đang sống ở Tp. Hồ Chí Minh.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần M-N)

62

Ma Văn KhángTừng làm vệ sĩ Quan Châu
Khắp vùng biên ải lạnh màu trăng non
Vườn thu lá rụng, trái… ngon
Vòng quay cổ điển sẽ còn đi xa
Cưới không giá thú thật à ?
Rõ là ma mãnh. Vậy mà người kinh!

» Xem/Đóng đáp án

MA VĂN KHÁNG (nhà văn)
Ma Văn KhángCâu 1 nhắc tên truyện VỆ SĨ CỦA QUAN CHÂU. Câu 2 nhắc 2 tiểu thuyết : VÙNG BIÊN ẢI và TRĂNG NON. Câu 3 nhắc tiểu thuyết MÙA LÁ RỤNG TRONG VƯỜN (giải thưởng Hội Nhà văn) và tập truyện TRÁI CHÍN MÙA THU. Câu 4 nhắc tập truyện VÒNG QUAY CỔ ĐIỂN. Câu 5 nhắc tiểu thuyết ĐÁM CƯỚI KHÔNG CÓ GIẤY GIÁ THÚ. Câu cuối nói Ma Văn Kháng là nguời Kinh, tên thật là Đinh Trọng Đoàn, trong những năm công tác ở Lào Cai, anh lấy bút danh họ Ma của người dân tộc để tỏ lòng yêu mến vùng này.
Ma Văn Kháng sinh năm 1936 tại Hà Nội, hiện làm phó giám đốc nhà xuất bản Lao động và tổng biên tập tạp chí Văn học nước ngoài.

63

Nam CaoBỏ kiếp sống mòn, nửa đêm vào rừng kháng chiến
Những cánh hoa tàn nở thắm lại theo
Đôi mắt ngạo cười Lý Cường, Bá Kiến
Bát cháo hành thơm tình Thị Nở-Chí Phèo

» Xem/Đóng đáp án

NAM CAO (nhà văn)
Nam CaoCâu 1 nhắc 3  tác phẩm : SỐNG MÒN (tiểu thuyết); NỬA ĐÊM (tập truyện), Ở RỪNG (nhật ký). Câu 2 nhắc tập truyện NHỮNG CÁNH HOA TÀN; Câu 3 nhắc tập truyện ĐÔI MẮT và tập truyện CƯỜI. Hai câu cuối cùng nhắc tác phẩm CHÍ PHÈO và một số chi tiết của truyện.
Nam Cao có tên khai sinh là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 ở làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân Nam Hà; hy sinh năm 1951 tại Ninh Bình.

64

Ngô Tất Tố Sáng danh từ lúc tắt đèn
Bõ công lều chõng, bút nghiên một thời
Việc làng nên khóc hay cười:
Chiếc phao câu chặt đủ mười quan viên!

» Xem/Đóng đáp án

NGÔ TẤT TỐ (nhà văn)
Ngô Tất TốTẮT ĐÈN, LỀU CHÕNG, VIỆC LÀNG là các tác phẩm nổi tiếng của Ngô Tất Tố, trong đó TẮT ĐÈN là sáng giá nhất và làm cho nhà văn nổi tiếng. Câu thứ 4 nhắc một chi tiết sống động trong VIỆC LÀNG.
Ngô Tất Tố sinh năm 1894, quê gốc Đông Anh, Hà Nội, mất năm 1954 tại Yên Thế, Bắc Giang.

65

Ngô Văn PhúĐúng quê Vĩnh Phúc đó mà
Cớ sao đồi cọ ngang qua không vào
Trở trời sẹo đất còn đau
Vậy mà bông trắng một màu như mây

» Xem/Đóng đáp án

NGÔ VĂN PHÚ (nhà thơ)
Ngô Văn PhúCâu 1 cho biết nhà thơ Ngô Văn Phú quê Mê Linh, Vĩnh Phúc. Câu 2 nhắc tập thơ ĐI NGANG ĐỒI CỌ. Câu 3 nhắc bài thơ SẸO ĐẤT : Trong những năm giặc Mỹ bắn phá miền Bắc, trên cánh đồng, những hố bom đã lấp, nhưng đất bị mất màu nên lúa vẫn bị vàng vọt. Đó là những vết sẹo trên thân mình đất nước, tác giả liên hệ đến những vết sẹo trên cơ thể con người : Những ngày trở trời / Những vết thương trên người tôi nhức buốt / Những ngày trở trời có làm đất nhức buốt không đất ơi ? Câu cuối nhắc bài ca dao nổi tiếng của tác giả : MÂY VÀ BÔNG : Trên trời mây trắng như bông / Ở dưới cánh đồng bông trắng như mây / Mấy cô má đỏ hây hây / Đội bông như thể đội mây về làng.
Ngô Văn Phú sinh năm 1937. Hiện cư ngụ tại Hà Nội.

66

Nguyên HồngNăm Sài Gòn, Tư Lập Lơ…
Những ngày thơ ấu chả thơ chút nào!
Sóng gầm gan ruột cồn cào
Trái tim lò lửa sắc đào vẫn nguyên.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYÊN HỒNG (nhà văn)
Nguyên HồngCâu đầu nhắc tên vài nhân vật trong tiểu thuyết BỈ VỎ Nguyên Hồng viết khi mới 16 tuổi đoạt giải Tự lực Văn Đoàn. Câu 2 nhắc tác phẩm THỜI THƠ ẤU. Câu 3 nhắc tác phẩm SÓNG GẦM. Câu 4 muốn nói đến tác phẩm LÒ LỬA và tên tác giả : Nguyên Hồng – Nhà văn luôn gắn trái tim mình với tầng lớp cần lao.
Nguyên Hồng họ Nguyễn, sinh năm 1918, quê gốc TP. Nam Định, mất năm 1982 tại Yên Thế, Bắc Giang.

67

Nguyên NgọcTrung thành – Ngọc báu trời trao
Xà Nu, Đất Quảng, Rẻo Cao… tiếp liền
Theo cùng đất nước đứng lên
Đứng chưa cao. Bởi vội quên mạch ngầm?

» Xem/Đóng đáp án

NGUYÊN NGỌC (nhà văn)
Nguyên NgọcTrong bài nhắc tác phẩm ĐẤT NƯỚC ĐỨNG LÊN, viết về anh hùng Núp rất nổi tiếng đã được đưa vào sách giáo khoa, được dựng thành phim và một số tiểu thuyết khác của Nguyên Ngọc : RỪNG XÀ NU, ĐẤT QUẢNG, RẺO CAO, MẠCH NƯỚC NGẦM. Câu đầu nhắc tên của nhà văn Nguyên Ngọc là Nguyễn Ngọc Báu và bút danh khác là Nguyễn Trung Thành.
Ông sinh 1932 tại Đà Nẵng, quê gốc Quảng Nam, hiện đang sống tại Hà Nội.

68

Nguyên Sa Áo nàng đen anh về mơ… gấu mẹ!
Áo nàng đỏ tươi anh mơ ớt cay nồng
Nàng như cá ươn, nàng như chó ốm
Ngón tay thử Cooc-sê, ngón tay bốc… hơi đồng
Nắng Sài Gòn anh đi mà ớn lạnh
Bởi vì nàng là… sư tử Hà Đông.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYÊN SA (nhà thơ)
Nguyên SaHai câu đầu nhại một số câu trong bài TUỔI MUỜI BA : Áo nàng vàng tôi về yêu hoa cúc / Áo nàng xanh tôi mến lá sân trường / Sợ thư tình không đủ nghĩa yêu đương / Tôi thay mực cho vừa màu áo tím Câu 3 nhắc bài NGA : Hôm nay Nga buồn như một con chó ốm / Như con mèo ngái ngủ trên tay anh / Đôi mắt cá ươn như sắp sửa se mình… Câu 4 nhắc bài NĂM NGÓN TAY : …Có ngón tay đeo nhẫn / Có ngón tay tô môi / Ngón tay đánh phấn / Ngón tay chải đầu / Ngón tay đếm tiền / Ngón tay lái xe / Ngón tay thử Coóc-sê / Ngón tay cài khuy áo /…/ Em còn ngón tay nào / Để giữ lấy tay anh. Hai câu cuối là hai câu nhại từ bài ÁO LỤA HÀ ĐÔNG tôi đã được nghe nhiều bạn trẻ đọc cho nhau khi tôi mới vào Sài Gòn công tác : Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát / Bời vì em mặc áo lụa Hà Đông / Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng / Thơ của anh vẫn còn nguyên lụa trắng /…/ Anh vẫn nhớ em ngồi đây tóc ngắn / Mà mùa thu dài lắm ở chung quanh / Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung / Bày vội vã vào trong hồn mở cửa /…/ Em chợt đến chợt đi anh vẫn biết / Trời chợt mưa chợt nắng chẳng vì đâu / Nhưng sao đi mà không bảo gì nhau / Để anh gọi, tiếng thơ buồn vọng lại…
Nguyên Sa tên khai sinh là Trần Bích Lan, sinh năm 1930 tại Hà Nội, cử nhân triết học, mất năm 1998 tại Paris.

69

Nguyễn Bao Khiêm nhường mà vẫn cao sang
Hoa chanh trong trắng, dịu dàng hương thanh
Gió thơm len nhẹ trong cành
Như em, hoa chiếm lòng anh khi nào

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BAO (nhà thơ)
Nguyễn BaoNếu Hoàng Cầm có BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG, Hữu Loan có MÀU TÍM HOA SIM, Vũ Cao có NÚI ĐÔI… thì Nguyễn Bao có HOA CHANH, một trong những bài thơ tình yêu hay viết về thời chống Pháp (Nhà em có một giàn trầu / Lá tốt xanh trùm bể nước / Vườn bên anh lối vào ngõ trước / Hoa trắng ngần thơm một gốc chanh /… / Hoa chanh bao lần thay nụ / Tay em giờ cấy lúa đã nhanh / Tóc dài ngan ngát mầu xanh / Em như lúa đang con gái /… / Tháng giêng gặp ngày nắng mới / Anh đưa qua rào một nắm lá chanh / Em gội tóc thơm bên hè hong nắng /  Cây chanh đang mùa hoa trắng / Gió đưa ngào ngạt lòng anh /… / Có một xóm vui đám cưới mùa xuân / Trầu hái giàn nhà thắm môi hai họ / Có anh thương binh đêm ngồi bên vợ / Tóc ai dài thơm nước lá chanh). “Hương thanh” ở cuối câu 2 là muốn nói tác giả quê Thanh Hóa. Câu 3, 4 nhắc bài thơ SANG THU (Gió len rất nhẹ trong cành / Như em thu chiếm lòng anh khi nào).
Nguyễn Bao sinh năm 1932, nguyên là giám đốc NXB. Văn Học. Hiện cư ngụ ở Hà Nội.

70

Nguyễn Bính Mát trong là nước giếng thơi
Chân quê là dậu mồng tơi trước nhà
Ghen đâu chỉ việc đàn bà
Tương tư đâu chỉ việc ta yêu nàng
Nàng buồn lỡ bước sang ngang
Ta buồn nhớ vợ miền Nam đêm này.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BÍNH (nhà thơ)
Nguyễn BínhNƯỚC GIẾNG THƠI là tên một tập thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính. Một bài thơ nổi tiếng nữa của Nguyễn Bính là CHÂN QUÊ. Giậu mồng tơi là nhắc câu thơ trong bài NGƯỜI HÀNG XÓM: Nhà nàng ở cạnh nhà tôi / Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn, GHEN là tên bài thơ của Nguyễn Bính, trong đó người ghen lại là một chàng trai. LỠ BƯỚC SANG NGANG là tên bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Bính với hai câu kết Chị giờ sống cũng bằng không / Coi như chị đã sang sông, đắm đò. Câu cuối nhắc bài thơ GỬI NGƯỜI VỢ MIỀN NAM và “đêm này” là nhắc ĐÊM SAO SÁNG, với hai câu kết rất hay: Trời còn có bữa sao quên mọc / Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em.
Nguyễn Bính tên khai sinh là Nguyễn Bính Thuyết, sinh năm 1918, quê Vụ Bản, Nam Định, mất năm 1966 tại quê.

71

Nguyễn Bỉnh KhiêmNăm trăm năm. Hỏi đã là lâu ?
Mây trắng. Kìa ai tóc trắng đầu
Thơ phú tiên tri – lời sấm trạng
Văn chương giáo huấn lẽ nông sâu
Sáng ăn phở quán, trưa cơm vợ
Xuân “Mat-xa” hơi, hạ Vũng Tàu…
Khôn – dại. Mấy ai như thế được:
Một mai, một cuốc, một cần câu…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BỈNH KHIÊM (nhà thơ)
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên hiệu là BẠCH VÂN cư sĩ. Ông sinh năm 1491, quê Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên (1535). Ông được vua Mạc Phúc Hải phong tước Trình Truyền Hầu (1544) (ý so sánh với anh em Trình Di, Trình Hạo ở Trung Quốc giỏi lý số) rồi sau lại phong Trình Quốc Công nên người ta gọi ông là Trạng Trình. Ông có nhiều câu thơ tiên đoán được sự biến động của các triều đại nên sau người đời hay gọi các câu thơ đó là “sấm Trạng Trình”. Ông có để lại cuốn BẠCH VÂN THI TẬP gồm khoảng 100 bài thơ Nôm và khoảng 100 bài thơ chữ Hán. Thơ ông nặng tính giáo huấn nói về nhân tình thế thái (Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến, / Gang không mật mỡ kiến bò chi…), đọc xong ta có thể bắt chước cụ Yên Đổ mà thốt lên : “Lạ nhỉ, người xưa cũng thế ư !”. Sau đây xin chép ba bài thơ “không đề” của ông để làm rõ “xuất xứ” các câu thơ của bài “thơ chân dung” này.
Bài 1 : Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dù ai vui thú nào / Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao / Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao / Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao. Hai câu 5, 6 trong bài thơ của chúng tôi là muốn đối chiếu với hai câu 5, 6 ở bài thơ này để nói : sau năm trăm năm, thú ăn uống, tắm lội xem ra đã thay đổi khá nhiều (!)
Bài 2 : Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt cay chua lẫn ngọt bùi / Còn bạc còn tiền còn đệ tử / Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi / Xưa nay đều trọng người chân thực / Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi / Ở thế mới hay nguời bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui. Bài 3 : Làm nguời có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn / Khôn được ích mình, đừng rẻ dại / Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn / Khôn mà hiểm độc là khôn dại / Dại vốn hiền lành ấy dại khôn / Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại / Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.
Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585.

72

Nguyễn Bùi Vợi Thầy – trò một môn học
Nên chồng -vợ trọn đời
Còn lâu mới già được
Vẫn thậm thình đấy thôi!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BÙI VỢI (nhà thơ)
Nguyễn Bùi VợiHai câu đầu nhắc bài thơ GỬI EM trong Tập Thơ Tình Yêu (NXB Thanh Niên 1963) với khổ kết : Cảm ơn cô vợ trẻ / Cô học trò ngày xưa / Đã dậy anh biết sống / Để viết đẹp bài thơ. Câu thứ 3 nhắc bài thơ CÁI GIÀ (… Vợ trêu: “Anh ngoại” còn duyên lắm mà/ Đi làm quên kính ở nhà/ Vào ra thơ thẩn, thế là ngồi chơi/… / Nói dai mà lại lắm lời / Khi nào cũng nhắc cái thời đã qua /… / Ấy là bàn chuyện… người ta / Ngẫm mình xem thử đã già được chưa?). Câu cuối nhắc bài thơ QUA THẬM THÌNH đã được đưa vào “Tuyển thơ lục bát Việt Nam” và nhiều thế hệ học sinh đã thuộc khi học môn ngữ văn vì bài thơ đã được đưa vào sách giáo khoa văn học : Đi qua xóm núi Thậm Thình / Bâng khuâng nhớ nước non mình ngàn năm / Vua Hùng một sáng đi săn / Trưa tròn bóng nắng nghỉ chân chốn này / Dân dâng mộ quả xôi đầy / Bánh chưng mấy cặp, bánh dày mấy đôi / Đẹp lòng Vua phán bầy tôi / Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà / Trăm cô gái tựa tiên sa / Múa chày đôi với chày ba rập rình / Đêm đêm tiếng thậm… tiếng thình… / Cối thơm thơm cả nghĩa tình nước non / Không còn dấu cũ lầu son / Phía sau thành phố khói vờn trong mây / Trời cao nắng tỏa đường cây / Nhịp chày xưa thoảng đâu đây thậm thình!
Nguyễn Bùi Vợi sinh năm 1934, quê Nghệ An. Hiện ông ở Hà Nội.

73

Nguyễn Công Hoan Dẫu là lá ngọc cành vàng
Tới bước đường cùng cũng khổ
Huống chi người ngựa, ngựa người
Phận kép Tư Bền xấu số…

Bác cười thời tranh sáng tối
Cho mặt trời mọc, mây tan
Rồi cười dẹp rác cũ mới
Đời thêm công bằng, hân hoan…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN CÔNG HOAN (nhà văn)
Nguyễn Công HoanCác tác phẩm của Nguyễn Công Hoan được đề cập trong bài là : LÁ NGỌC CÀNH VÀNG (tiểu thuyết), BƯỚC ĐƯỜNG CÙNG (tiểu thuyết), TRANH TỐI TRANH SÁNG (tiểu thuyết), ĐỐNG RÁC CŨ (tiểu thuyết) va những truyện ngắn nổi tiếng như : NGƯỜI NGỰA NGỰA NGƯỜI, KÉP TƯ BỀN… Tổng số sách của Nguyễn Công Hoan đã xuất bản chừng 33 cuốn, trong đó có những cuốn tới 4 tập.
Nguyễn Công Hoan sinh năm 1903, quê Bắc Ninh nay thuộc Hưng Yên. Ông mất năm 1977 tại Hà Nội.

74

Nguyễn Công Trứ Danh thơm để mãi cho đời
Danh – công cũng nổi, danh – chơi cũng lừng
Lên quan xuống lính đã từng
Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ ra?
Không đeo kính, chỉ sợ gà
Năm mươi năm trước hăm ba, đương thì
Làm cây thông hát mà chi
Cần che miệng thế thiếu gì mo nang !

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN CÔNG TRỨ (nhà thơ)
Nguyễn Công TrứCâu đầu nhắc bài ĐI THI TỰ VỊNH : Đi không há dễ lại về không / Cái nợ cầm thư phải trả xong / Rắp mượn điền viên vui tuế nguyệt / Dở đem thân thế hẹn tang bồng / Đã mang tiếng ở trong trời đất / Phải có danh gì với núi sông / Trong lúc trần ai, ai dễ biết / Rồi ra mới tỏ mặt anh hùng. Nguyễn Công Ttứ từng lập nhiều công trạng (khai khẩn đất đai ở Tiền Hải Thái Binh…) nhưng cũng nổi tiếng về ăn chơi. Ông từng tuyên ngôn : Cuộc hành lạc cứ chơi là lãi đấy / Nếu không chơi thiệt ấy ai bù ! thậm chí ông còn tỏ vẻ khinh bỉ những kẻ không biết ăn chơi coi bọn họ có sống vạn năm cũng như chưa sống ! Câu thứ ba nhắc một giai thoại được ghi lại qua cặp lục bát : Giang sơn một gánh giữa đồng / Thuyền quyên ứ hự, anh hùng nhớ chăng ? Câu thứ 5 và 6 ghi lại sự kiện : 73 tuổi Nguyễn Công Trứ còn cưới vợ bé 17 tuổi nên ông có những câu tự trào : Tân nhân vấn ngã niên đa thiểu / Ngũ thập niên tiền nhị thập tam Bảy mươi ba tuổi chưa đeo kính / Thức suốt năm canh chỉ sợ gà. Câu 7 nhắc bài : Ngồi buồn mà trách ông xanh / Khi vui thì khóc, buồn tanh lại cười / Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reoCâu cuối nhắc giai thoại không rõ thực hư thế nào : Nguyễn Công Trứ lúc làm quan thường không cưỡi ngựa mà cưỡi một con bò cái, ở đít có đeo một chiếc mo nang và bảo là “để che miệng thế gian”!
Nguyễn Công Trứ  quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm1778, mất năm 1858.

76

Nguyễn DuThương đều thập loại chúng sinh
Đầm đìa dòng lệ chảy quanh thân Kiều
Chữ TÂM vằng vặc gương treo
Sầu tuôn đứt nối còn nhiều trăm năm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DU (nhà thơ)
Câu đầu nhắc VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du. Câu hai nhắc câu thơ của Tố Hữu : Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều có thể xem là câu thơ thuộc loại hay nhất viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Câu thứ ba nhắc câu Kiều : Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài đồng thời cũng muốn nói chính Nguyễn Du là tấm gương sáng về chữ TÂM. Câu cuối muốn nhắc câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Xuân Diệu dịch : Ba trăm năm nữa mơ màng / Thế gian ai đó khóc chàng Tố Như ). Có lẽ còn nhiều (chứ không phải chỉ ba) trăm năm nữa vẫn còn nhiều người thương khóc Nguyễn Du. Sầu tuôn đứt nối là chữ của Nguyễn Du tả Thúy Kiều thương khóc Đạm Tiên : Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.
Nguyễn Du (tên hiệu là Tố Như ) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm 1765 mất năm 1820. Sự nghiệp văn chương chủ yếu dành cho thơ chữ Hán, Truyện Kiều không phải là phần tinh túy nhất của thiên tài Nguyễn Du nhưng vì viết bằng chữ Nôm nên được phổ biến rộng sâu hơn.

77

Nguyễn Duy Bụi tre dần đến bụi… đời!
Trời hơi bị méo trăng hơi bị tà
Mẹ và em ở lại nhà
Thơ đi Mỹ tưởng đường xa, cũng gần!
Ối trời ơi trắng ! Trắng ngần
Ối trời ơi ấm ! Chả cần ổ rơm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DUY (nhà thơ)
nguyen-duy-2Trong bài nhắc các bài thơ nổi tiếng của Nguyễn Duy: TRE VIỆT NAM, BẦU TRỜI VUÔNG, HƠI ẤM Ổ RƠM (Rơm vàng bọc tôi như kén bọc tằm / tôi thao thức trong hương mật ong của ruộng / trong hơi ấm hơn nhiều chăn đệm / của những cọng rơm xơ xác gầy gò / Hạt gạo nuôi hết thảy chúng ta no / riêng cái ấm nồng nàn như lửa / cái mộc mạc lên hương của lúa / đâu dễ chia cho tất cả mọi người), ÁNH TRĂNG và các tập thơ BỤI, ÁNH TRĂNG, MẸ VÀ EM, ĐƯỜNG XA. Chữ “bị” ở câu 2 Nguyễn Duy rất hay dùng trong tập BỤI : Người hơi bị ngợm, ta hơi bị người hoặc Em hơi bị đẹp, anh hơi bị nhàu. Ối trời ơi trắng trắng ngần là câu thơ tả tuyết của Nguyễn Duy. Nguyễn Duy là nhà thơ duy nhất của Việt Nam (và có lẽ của thế giới) phát minh ra hình thức triển lãm để quảng bá cho thơ. Nhà thơ đã triển lãm thơ tại Sài Gòn, Hà Nội và nhiều nơi trên đất Mỹ.
Thơ Nguyễn Duy đã quá quen biết với mọi người, nên chúng tôi hạn chế dẫn ra đây. Chỉ muốn nhắc một điều là mấy năm nay ông tuyên bố bỏ thơ. Có thể vẫn làm nhưng không công bố. Lý do không đăng thơ có lẽ vì sợ không vượt hơn những gì mình đã có mà độc giả thì lại đòi hỏi quá cao. Chúng tôi nghĩ rằng nếu tiếp tục đăng thì ở trang báo có tên ông xuất hiện, thơ ông vẫn cứ vào loại bậc trên. Nhà thơ vẫn có nhiều độc giả. Và người ủng hộ đầu tiên là bà vợ vì thang nhuận bút không thể thấp được. Nghĩ như vậy chúng tôi rất cảm phục trước bản lĩnh có một không hai củaNguyễn Duy.
Nguyễn Duy (tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ) sinh năm 1948, quê Thanh Hóa. Hiện công tác ở báo Văn nghệ (chi nhánh TP. Hồ Chí Minh)

78

Nguyễn Đình Chiểu Mắt lòa, lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU (nhà thơ)
Nguyễn Đình ChiểuCâu 1 nói Nguyễn Đình Chiểu là người anh minh sáng suốt, tuy bị mù lòa, nhưng ông luôn nhìn rõ mọi lẽ phải trái; phân biệt kẻ xấu người tốt, không vì một lợi ích cá nhân nào làm lu mờ được đức trung thực, lòng yêu nước thương dân của ông. Câu 2 và 3 nhắc hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, tuyên ngôn về quan niệm sáng tác văn học của ông : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu cuối là nguyên văn câu thơ nổi tiếng của ông nói về lẽ ghét thương : Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.
Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre, sinh năm 1822, mất năm 1888.

79

Nguyễn Đình Chính Văn sâu kín tựa giếng chìm
Đủ đầy : tiểu thuyết, kịch phim, diễn đàn…
Ghi thành tích một đời văn:
“Đã có một lần được tặng thưởng thơ!”
Đêm Thánh nhân đến bất ngờ
Phù du đổi kiếp không nhờ “áp phe”

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH (nhà văn)
Nguyễn Đình ChínhCâu 1 nhắc tiểu thuyết GIẾNG CHÌM. Câu 2 : Nguyễn Đình Chính từng làm giám đốc hãng phim, tổng biên tập tạp chí Diễn đàn văn nghệ Việt Nam. Ông viết nhiều tiểu thuyết : CON PHÙ DU, VỤ ÁP PHE ĐÔNG DƯƠNG…, kịch bản sân khấu và phim : RỪNG XANH, BÃI BIỂN ĐỜI NGƯỜI, HỒI CHUÔNG MÀU DA CAM… Các câu 5, 6 nhắc tiểu thuyết mới nhất : ĐÊM THÁNH NHÂN. Các câu 3, 4 : đọc Nhà văn Việt Nam hiện đại, chúng tôi thấy chi tiết ngồ ngộ nên ghi vào đây cho vui. Thực ra giải thưởng cũng chỉ phản ánh phần nào thành tụu của nhà văn. Ví như nhà thơ Thạch Quỳ là người cũng rất ít nhận giải thưởng. Nhưng thơ ông cũng “đáng gờm” lắm đấy. Ông từng viết : Những hạnh phúc niềm vui được thưởng / Tôi một mình dạo mát ở ngoài sân.
Nguyễn Đình Chính sinh năm 1946 tại Việt Bắc. Hiện công tác tại Hà Nội.

80

Nguyễn Đình Thi Diệt phát xít với tư thế người Hà Nội
Lá đỏ ào ào gieo nhạc, kịch, truyện, thơ…
Mặt trận trên cao vẫn cùng đồng đội
Dáng nai hồn nhiên thời xung kích vỡ bờ

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH THI (nhà thơ)
Nguyễn Đình ThiCâu đầu nhắc hai nhạc phẩm: DIỆT PHÁT XÍT và NGƯỜI HÀ NỘI. Câu 2 nhắc bài thơ LÁ ĐỎ đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc rất nổi tiếng. Đồng thời cũng nói Nguyễn Đình Thi là người đa tài “đúng là trai đất Việt” như ý Bác Hồ nói. Câu 3 nhắc tác phẩm MẶT TRẬN TRÊN CAO của Nguyễn Đình Thi, đồng thời cũng nhắc ông hiện là chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam. Câu cuối nhắc các tác phẩm : XUNG KÍCH, VỠ BỜ, CON NAI ĐEN.
Nhiều người nói thơ Nguyễn Đình Thi rất khó hiểu ? Nghe đâu hồi ở Việt Bắc đã có cuộc hội thảo : Có nên phổ biến loại thơ khó hiểu của ông không ? Ta hãy đọc bài thơ CÁCH MẠNG ông viết năm 1982 : Những gì kia cuộn nhau / Trong bao đời bóng đêm // Cái ác của kẻ mạnh / Cái hèn của kẻ yếu / Cái tham của kẻ thừa / Cái thèm của kẻ thiếu / Dân tộc thù dân tộc / Con người sợ con người / / Không sao chịu nổi / Lật hết đi / Thử xoay ngược lại / Xem thành cái gì / / Cái hèn của kẻ mạnh / Cái ác của kẻ yếu / Cái thèm của kẻ thừa / Cái tham của kẻ thiếu / Dân tộc sợ dân tộc / Con người thù con người / / Đã bao đời / Bóng dêm xoay ngược / Vẫn là bóng đêm / / Nhưng nước mắt người mẹ / Làm đứng dậy người con / Giọt máu người ngã xuống / Thành ngôi sao dẫn đường / Và lặng im cũng thành tiếng gọi / / Ra khỏi bóng đêm / Đi tới buổi sáng / Không có bóc lột ăn hiếp / Mỗi dân tộc cần đến mỗi dân tộc / Mỗi con người cần đến mỗi con nguời / / Thưa bạn / Tôi nghĩ cách mạng là như vậy / Mở ra buổi sáng / Mới vỡ nghìn hang ổ / Của những gì cuộn nhau trong bóng đêm / Nhưng đó không phải là chuyện một lúc.
Làm phức tạp sâu xa những gì đơn giản và làm trong sáng, đơn giản những gì lớn lao phức tạp. Đó là thiên tài.
Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924 tại Lào. Quê Hà Nội.

81

Nguyễn Đức Mậu Thơ đi ra trận theo người
Cây xanh đang độ, hoa tươi vừa tầm
Thôi ngủ rừng, lại nằm hầm
Thơ đằm sâu tựa hương trần thơm lâu
Diệu kỳ : đom đóm rừng sâu
Bỗng thành sao sáng Á châu chẳng ngờ !

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐỨC MẬU (nhà thơ)
Nguyễn Đức MậuCâu 1 nhắc tập thơ đầu của Nguyễn Đức Mậu (in chung với Vương Trọng) là THƠ NGƯỜI RA TRẬN. Câu 2 nhắc hai tập thơ : CÂY XANH ĐẤT LỬA và HOA ĐỎ NGUỒN SÔNG. Câu 3 nhắc bài thơ NGỦ RỪNG THEO ĐỘI HÌNH ĐÁNH GIẶC và NẰM HẦM : Chung hầm dẫu một đêm thôi / Xa xôi mấy cũng nên người cùng quê / Huống chi đồng chí, bạn bè / Mấy mùa chiến dịch đi về có nhau… Câu 4 nhắc bài thơ NẤM MỘ VÀ CÂY TRẦM từng đoạt giải nhất báo Văn Nghệ: Thơm rất xa theo gió thoảng hương trầm / Cây trầm đẹp như cuộc đời chiến sĩ / Sống tươi tốt bao niềm tin bình dị / Thân hy sinh thơm đất, thơm trời… Hai câu cuối nhắc tập thơ CÁNH RỪNG NHIỀU ĐOM ĐÓM BAY đoạt giải Hội Nhà văn Việt Nam năm 1999 và sau đó là giải thưởng Đông Nam Á. Nhân đây, cũng nhắc Nguyễn Đức Mậu có BÀI CA ĐOM ĐÓM viết cho thiếu nhi rất ngộ: Đỉnh đèo đá đã đêm đen / Đom đóm đủng đỉnh đeo đèn đi đâu / Đung đưa đèn đỏ đội đầu / Đêm đêm đom đóm đi đâu đỏ đèn? Chúng tôi băn khoăn về câu thứ 3 nên có viết: Đầu đuôi, đen đỏ, đảo điên / Đừng đùa, đom đóm đeo đèn đằng… đít!
Nguyễn Đức Mậu sinh năm 1948 tại Nam Ninh, Nam Định. Hiện công tác tại Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội Hà Nội.

82

Nguyễn Hoa

Làm gì có sơn ca
Toàn gà nhà ốm đói!
Hoa hồng tất có gai
Nỗi đau còn tươi rói!
Oan ức đến nực cười
Cái tên nên cái tội
Sao-số-phận định rồi
Sấm-lành cũng đã nói:
Người chất phác hiền lành
Cho làm tổ chức hội!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN HOA (nhà thơ)
Nguyễn HoaCâu  1 nhắc tập thơ CHIM SƠN CA (Bình minh / Chim sơn ca mải mê cất cao tiếng hót / Chùm lá biếc rung rinh / Người đi săn giương súng lên rình ! / Mà không hay biết / Chim sơn ca vẫn hót / Cả cho số phận mình !). Câu 3 nhắc bài VỚI BÔNG HỒNG : Ngoài cửa sổ phòng tôi / Bông hồng nở / Tôi muốn hái / Tặng em / Nhưng không nỡ /Làm trống đi / Một chấm đỏ của trời xanh. Câu 4 nhắc bài MUỐI trong tập TỪ 1 ĐẾN 8 : Em là muối / Ướp nỗi đau / Tươi mãi. Hai câu tiếp : Nguyễn Hoa tên thật là Nguyễn Hoa Kỳ. Chắc là cha mẹ đã đặt tên con theo “cây đèn Hoa Kỳ” với ngọn đèn hạt đỗ trong căn nhà hạnh phúc của mình, nhưng có thời gian do quá căm thù bọn giặc Mỹ tàn phá quê hương mà Nguyễn Hoa Kỳ cũng bị ghét oan. Hai câu tiếp nhắc 2 tập thơ : NGÔI SAO SỐ PHẬN TÔI và SẤM LÀNH.
Nguyễn Hoa sinh năm 1947 tại Kim Bảng, Hà Nam. Hiện phụ trách phòng tổ chức Hội Nhà văn Việt Nam.

83

Nguyễn Hoàng Sơn Mới dắt mùa thu vào phố
Mèo con đã để râu rồi
Quên béng lời chào đi trước
Gặp ai cũng cười bằng… đuôi!

» Xem/Đóng đáp án

Dỡn NGUYỄN HOÀNG SƠN (nhà thơ)
Nguyễn Hoàng SơnChúng tôi có cảm tưởng Nguyễn Hoàng Sơn cũng thuộc lớp người “thuận tay trái”. Ông làm thơ, viết phê bình, làm thơ cho thiếu nhi. Và thơ thiếu nhi hình như có duyên với ông hơn. Ông đã hai lần nhận giải thưởng thơ thiếu nhi của Hội Nhà văn với tập SỰ TÍCH RƯỚC ĐÈN TRUNG THU và DẮT MÙA THU VÀO PHỐ. Năm 2001 lẽ ra ông lại nhận giải thưởng Hội Nhà văn với tập truyện thơ thiếu nhi BỨC TRANH CỦA BÉ HẰNG. Nhưng vì muốn đổi mới giải thưởng cho ngang với Trần Mạnh Hảo nên ông mới nhận giải thưởng Hội Nhà văn với tập TRANH LUẬN VĂN HỌC và thôi không nhận giải thơ thiếu nhi nữa. Trong bài nhắc một số tập thơ : DẮT MÙA THU VÀO PHỐ, MÈO CON ĐỂ RÂU, LỜI CHÀO ĐI TRƯỚC. Câu cuối nhắc bài CON VỆN với những chi tiết được nhiều người nhớ: Mỗi khi nó chạy / Cái đuôi cong lên / Đuôi như bánh lái / Định hướng con thuyền. / Rời nhà ra ngõ / Đuôi quắp dọc đường / Đuôi buông ủ rũ / Là khi nó buồn / Nhưng mà lạ nhất / Là lúc nó vui / Chẳng hề nhếch mép / Nó cười bằng… đuôi!
Nguyễn Hoàng Sơn sinh năm 1949, quê Sóc Sơn, Hà Nội. Hiện là phóng viên báo Tiền Phong Hà Nội.

84

Nguyễn Huy Thiệp Ra quân bằng tướng về hưu
Binh pháp sửng sốt bao nhiêu tướng tài
Con gái Thủy Thần là ai ?
Tiếp viên quán nhậu Hoàng Mai đấy mà !

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN HUY THIỆP (nhà văn)
Nguyễn Huy ThiệpCâu 1, 2 nhắc truyện ngắn TƯỚNG VỀ HƯU khi xuất hiện trên báo Văn Nghệ đã làm sửng sốt không chỉ bạn đọc mà cả các nhà văn về cách viết và nội dung rất mới lạ. Câu 3 nhắc tập truyện được nhiều ý kiến khen chê rất trái ngược : CON GÁI THỦY THẦN. Câu cuối muốn đưa một thông tin : Nhà văn hiện có mở một quán nhậu ở Gia Lâm có tên hiệu Hoàng Mai.
Nguyễn Huy Thiệp sinh năm 1950, quê Thanh Trì, Hà Nội.

85

Nguyễn Khải Xung đột mạnh, dựng xây hăng
Sống và chiến đấu ai bằng chúng tôi ?
Tuổi càng cao lạc càng bùi
Mắt nhìn Hà Nội, miệng cười với… sư

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN KHẢI (nhà văn)
Nguyễn KhảiTrong bài nhắc một số tác phẩm của Nguyễn Khải : XUNG ĐỘT, XÂY DỰNG, HỌ SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU, MÙA LẠC, ÔNG ĐẠI TÁ VÀ VỊ SƯ GIÀ. Và tác phẩm mới nhất là HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI. Nguyễn Khải thuộc lớp các nhà văn quý hiếm là cứ tác phẩm ra sau lại hay hơn tác phẩm ra trước dù đã ở tuổi “cổ lai hy”. Đọc HÀ NỘI TRONG MẮT TÔI (tựa đề có vẻ hơi Đỗ Lai Thúy) mới thấy hết đẳng cấp nhà văn của tác giả này. Đúng là “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu” cứ mở miệng là thành văn hay. Từ câu nói đùa đến lời nghiêm túc đều mặn mà đằm thắm, tràn đầy tình cảm và chiêm nghiệm cuộc đời.
Nguyễn Khải tên khai sinh Nguyễn Mạnh Khải, sinh 1930 tại Hà Nội, cùng quê với Tú Xương (phố Hàng Nâu). Hiện sống tại TP.Hồ Chí Minh)

86

Nguyễn Khoa Điềm Nguyễn Khoa ĐiềmĐồng lúa chín cài hoa vào quá khứ
Bị cáo hồ Uyên Ương, tình yêu một thuở…
Trò hề!
Bài hát đâu chỉ là nốt nhạc
Nghiệt ngã cuộc tình! Trăm nỗi éo le!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN KHOA ĐĂNG (nhà văn)
Tuyệt nhiên không có một từ nào của chúng tôi xen vào bài thơ trên dù là thực từ hay hư từ. Bài thơ chăm chú liệt kể các tác phẩm của Nguyễn Khoa Đăng. Câu đầu nhắc bài thơ ĐỒNG LÚA CHÍN được in trong nhiều tuyển tập thơ cho thiếu nhi, được Bùi Đình Thảo phổ nhạc, là 1 trong 50 bài hát hay trong 50 năm qua : Vây quanh làng / Một biển vàng / Như tơ kén…/ Hương lúa chín / Thoang thoảng bay / Làm say say / Đàn ri đá /…/ Như đeo nặng / Giọt mồ hôi / Của bao người / Nuôi lớn lúa /…/ Em đi giữa / Biển vàng / Nghe mênh mang / Đồng lúa hát. Tiếp theo là các tác phẩm : CÀI HOA VÀO QUÁ KHỨ (Câu Chuyện Sư Phạm), NGƯỜI BỊ CÁO HỒ UYÊN ƯƠNG (tiểu thuyết), TÌNH YÊU MỘT THUỞ (tập truyện), TRÒ HỀ (tiểu thuyết), BÀI HÁT ĐÂU CHỈ LÀ NỐT NHẠC (kịch bản phim.Phim được dự liên hoan phim ở Bình Nhưỡng), CUỘC TÌNH NGHIỆT NGÃ (tiểu thuyết), TRĂM NỖI ÉO LE (tập hợp các truyện tác giả in trong nhiều kỳ trên Tài Hoa Trẻ)
Tên khai sinh là Nguyễn Đăng Khoa, sinh năm 1941 tại Vũ Thư, Thái Bình, hiện là phóng viên báo Thế Giới Mới và Tài Hoa Trẻ Tp. Hồ Chí Minh.

87

Nguyễn Khoa Điềm Đất ngoại ô gặp ngày nào
Nghe nhà lửa ấm muốn vào thăm chơi
Dọc đường khát vọng tới nơi
Thoáng nhìn cửa thép, chân hơi ngập ngừng…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN KHOA ĐIỀM (nhà thơ)
Nguyễn Khoa ĐiềmTrong bài thơ nhắc 4 tác phẩm của Nguyễn Khoa Điềm : ĐẤT NGOẠI Ô (tập thơ đầu), NGÔI NHÀ CÓ NGỌN LỬA ẤM (tập thơ), MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG (trường ca) và CỬA THÉP (tập ký). Trong tập ĐẤT NGOẠI Ô có bài KHÚC HÁT RU NHỮNG EM BÉ LỚN LÊN TRÊN LƯNG MẸ được phổ nhạc khá nổi tiếng : Em cu Tai ngủ trên lưng mẹ ơi / Em ngủ cho ngoan đừng rời lưng mẹ / Mẹ giã gạo mẹ nuôi bộ đội / Nhịp chày nghiêng giấc ngủ em nghiêng / Mồ hôi mẹ rơi má em nóng hổi / Vai mẹ gầy nhấp nhô làm gối / Lưng đưa nôi và tim hát thành lời /…/ – Ngủ ngoan a kay  ơi, ngủ ngoan a kay hỡi / Mẹ thương a kay, mẹ thương đất nước / Con mơ cho mẹ được thấy Bác Hồ / Mai sau khôn lớm làm người tự do… Bài NHỮNG ĐỒNG TIỀN NGOẠI Ô cũng khá quen biết với bạn yêu thơ : Những đồng tiền ngoại ô / Đẫm mùi mồ hôi, dầu mỡ / Mùi nước mắm cá khô / Cái nhàu trong bàn tay em nhỏ / Cái vo tròn trong cạp quần cụ già /…/ Ngoại ô mua nước mắm chai là ngày lĩnh lương / Ngoại ô mua kẹo nuga là ngày lĩnh lương / ngoại ô ăn ruốc từng đồng là ngày cuối tháng / Ngoại ô uống rượu chưởi con là ngày cuối tháng…
Tập NGÔI NHÀ CÓ NGỌN LỬA ẤM từng nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (Mẹ ơi, con trở lại nhà / Sau lưng con cánh cửa chiều khép nhẹ / Mẹ lại ngồi trước bếp lửa chiều lặng lẽ / Nấu cơm cho chúng con ăn / ôi những hạt gạo nổi chìm ba mươi năm / Đời mẹ tảo tần cay đắng / Từng nuôi chúng con làm nên chiến thắng / Bây giờ chưa đủ chúng con no / Nhưng căn nhà mình lộng gió tự do / Lộng ánh sáng trước tháng ngày sắp đến.// Mẹ thân yêu, với tấm lòng trọn vẹn / Mẹ vẫn khơi bếp lửa hồng như cổ tích ca dao / Và những gì nồng thắm của mai sau… – NGÀY VUI). Truờng ca MẶT ĐƯỜNG KHÁT VỌNG nổi trội nhất với chương ĐẤT NƯỚC : … Đất là nơi anh đến trường / Nước là nơi em tắm / Đất nước là nơi ta hò hẹn / Đất nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm…
Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943 tại Thừa Thiên Huế hiện công tác lại Hà Nội.

88

Nguyễn Khuyến Từ quan về với thú điền viên
Thương nước lòng đâu đã dễ yên
Rượu thiếu bạn hiền không thiết uống
Thu loe trăng sáng chẳng màng xem
Vỉa hè trẻ dỡn ông nghè giấy
Lỗ lội Cuội nhòm Mẹ Mốc điên
Ba lượt cưỡi đầu thiên hạ cả
Cớ sao còn thẹn với ông Tiềm?

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN KHUYẾN (nhà thơ)
Nguyễn KhuyếnCâu đầu nhắc lời Nguyễn Khuyến dặn con (nếu ông mất) : Đề vào mấy chữ trong bia / Rằng quan nhà Nguyễn cáo về đã lâu. Câu thứ 3 nhắc bài KHÓC DƯƠNG KHUÊ : …Rượu ngon chẳng có bạn hiền / Không mua không phải không tiền không mua / Câu thơ viết đắn đo không viết / Viết đưa ai, ai biết mà đưa… Nói là nói vậy, Nguyễn Khuyến chẳng thể nào CHỪA RƯỢU : Những lúc say sưa cũng muốn chừa / Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa / Hay ưa nên nỗi không chừa được / Chừa được nhưng mà cũng chẳng chừa ! Câu thứ tư nhắc bài THU ẨM, một trong bộ ba thơ thu của Nguyễn Khuyến (…Lưng giậu phất phơ màu khói nhạt / Làn ao lóng lánh ánh trăng loe). Câu  5 nhắc bài TIẾN SĨ GIẤY (Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh chọe / Nghĩ rằng đồ thật hóa đồ chơi!). Câu 6 nhắc bài MẸ MỐC (So danh giá ai bằng mẹ Mốc / Ngoài hình hài gấm vóc chẳng thêm ra… ) và bài MIẾU ÔNG CUỘI : Đầu làng Ngang có cái lỗ lội / Có miếu ông Cuội cao vòi vọi / Đàn bà đến đó xắn quần lên / Chỗ thì đến háng, chỗ đến gối / Cuội ta trông thấy nhoẻn miệng cười / Cái gì trăng trắng như con cúi / / Từ đó làng Ngang được giống người / Sinh ra toàn những phường nói dối. ). Câu 7 là câu của nhà thơ : Cưỡi đầu người kể đã ba phen (Tam Nguyên Yên Đỗ là thế). Câu cuối nhắc ý trong bài THU VỊNH : Nhân hứng cũng vừa toan cất bút / Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào tác giả viết khi chưa làm được như Đào Tiềm là từ quan về ở ẩn.
Nguyễn Khuyến quê Nam Định, sinh năm 1835, mất năm 1909.

89

Nguyễn Mỹ Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Chẳng chia ly cùng bạn đọc bao giờ
Con đuờng ấy nắng ngân vang ngàn chuông nhỏ
Xanh mơ màng đẹp mãi giấc anh mơ.

» Xem/Đóng đáp án

Nhớ NGUYỄN MỸ (nhà thơ)
Nguyễn MỹCâu 1, 2 nhắc bài thơ CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ (chép ở sau). Bài thơ ấy cũng như tên tuổi của tác giả không bao giờ “chia ly” với bạn yêu thơ. Câu 3 nhắc bài CON ĐƯỜNG ẤY : Con đường nhỏ / Đi giữa hai hàng cây / Cái con đường ấy mình đầy bóng râm / Con hươu sao đã ruỗi nằm / Để nghe những tiếng thì thầm ở trên / Đôi bên là nắng / Thu đã đượm vàng / Nắng bay từng giọt / Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông Câu cuối nhắc bài GIẤC MƠ XANH : … Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi / Là Ô Loan, đầm Mẹ sáng ngời / Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi / Nâng dải mơ lên tới đỉnh trời.
Bây giờ xin chép bài CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ : Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng / Trưa một ngày sắp ngả sang Đông / Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ / Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ / Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa / Chồng của cô sắp sửa đi xa / Cùng đi với nhiều đồng chí nữa / Chiếc áo đỏ rực như than lửa / Cháy không nguôi trước cảnh chia ly / Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia / Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy / Không che được nước mắt cô đã chảy / Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời / Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi / Và rạng đông đã bừng trên nét mặt / Một rạng đông với màu hồng ngọc / Cây si xanh gọi họ đến ngồi / Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai / Ngày mai sẽ là ngày xum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi / Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế / Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ / Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào / “Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” / Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy / Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi / Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người / Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp / Một làng xa giữa đêm giá rét…/ Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi / Như không hề có cuộc chia ly.
Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 ở Tuy An, Phú Yên, hy sinh năm 1971 ở Trà My, Quảng Nam.

90

Nguyễn Ngọc Oánh Nghề là tiền, nghiệp là thơ
Đời mà được vậy, cõi mơ khó bằng
Nợ trời, chức trả sao… băng
Vốn đời chẳng lở, nhân văn mãi bồi
Đá vàng thương nhớ chân trời
Ngọc châu mỗi lời, mỗi hạt kim cương!
Nghĩa tình mặn muối, cay gừng…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN NGỌC OÁNH (nhà thơ)
Nguyễn Ngọc OánhHai câu đầu lấy ý từ lời TỰ BẠCH của tác giả : Việc công không láng cháng / Tản mạn chút mộng mơ / Bạc tiền như gió thoảng / Còn lại một túi thơ và tác giả chú thích thêm : Đối với tôi Ngân hàng là nghề, thơ là nghiệp. Câu 3 nhắc tập thơ THỨC CÙNG SAO. Câu 4 nhắc tập thơ BÊN LỞ BÊN BỒI. Câu 5 nhắc tập thơ CHÂN TRỜI THƯƠNG NHỚ. Câu 6 nhắc tập LỜI CỦA HẠT. Nếu nhà thơ là kỹ sư nông nghiệp chẳng hạn thì đây hẳn là hạt thóc. Nhưng tác giả lại là Phó Thống Đốc Ngân hàng, nên chúng tôi mới đoán là hạt kim cương vì chỉ hạt này là nói được nhiều lời nhất ! Câu 7 : ở trên chúng tôi hơi sa đà dẫn ra quá nhiều thuật ngữ trong Ngân hàng. Trong câu này chúng tôi trích dẫn bài thơ MẶN MUỐI CAY GỪNG để các bạn không do sự tếu táo của chúng tôi mà hiểu sai lệch về tác giả : … Em là thực, em là mơ / Em là giọt nắng cho thơ nảy mầm / Vô tình mà chẳng vô tâm / Duyên thầm đến với lặng thầm tình yêu / Vết nhăn trên trán rạn nhiều / Là bao vất vả sáng chiều trên nương / Chân chim đuôi mắt mờ sương / Là khi con ốm chiếu giường rỗng tênh / Vết hằn khóe miệng nổi nênh / Là khi gạo củi một mình kiếm mua / hay hờn, hay giận, hay đùa / Là ngần ấy vị ngọt chua đã từng / Đã rằng mặn muối cay gừng / Tiệc nghèo chỉ có lạc vừng cũng mong / Lấy chồng ở với mẹ chồng / Mái tranh thì mỏng, bão dông thì dày…
Nguyễn Ngọc Oánh sinh năm 1937 tại Quỳnh Lưu, Nghệ An. Hiện ở tại Ba Đình, Hà Nội.

91

Nguyễn Nhật Ánh Qua hoa cúc, lại hoa vàng
Tặng thơ tứ tuyệt cho nàng hôm qua…
Văn chương như kính vạn hoa
Xanh xanh đỏ đỏ, ối chàvui tươi!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN NHẬT ÁNH (nhà văn)
Nguyễn Nhật ÁnhTrong bài nhắc một số tác phẩm của Nguyễn Nhật Ánh : tập thơ TỨ TUYỆT CHO NÀNG và các tập truyện dài: ĐI QUA HOA CÚC, TRẠI HOA VÀNG, CÔ GÁI ĐẾN TỪ HÔM QUA, KÍNH VẠN HOA (nhiều tập), ÁO ĐỎ ÁO XANH (tập truyện). Văn thơ Nguyễn Nhật Ánh được các bạn mới lớn đặc biệt yêu thích.Văn Nguyễn Nhật Ánh đã tạo thành một hiện tượng trong sinh hoạt văn học của tuổi trẻ toàn quốc. Nhiều người gọi ông là “nhà phù thủy” đã mê hoặc các em mới lớn bằng những chuyện vô cùng …trong sáng!
Nhân nhắc tập thơ TỨ TUYỆT CHO NÀNG (tập hợp các bài đăng trên Mực Tím của Nguyễn Nhật Ánh), cũng xin dẫn ra đôi bài : Đừng như hoa lá, đừng như cỏ / Phủ xuống hồn anh một tối đầy / Mà như hoa lá, mà như cỏ / Thức dậy tình anh những sớm mai. Hay : Gặp em từ độ quê nhà / Chạnh lòng một buổi rồi xa nghìn ngày / Sài Gòn sáng sớm mưa bay / Ngồi lo Đà Nẵng mùa này bão giông.
Nguyễn Nhật Ánh sinh 1955 quê gốc Thăng Bình, Quảng Nam. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

92

Nguyễn Phan Hách Quà tặng của thiên nhiên : cây vĩ cầm cảm lạnh
Hoa sữa thơm hương vị… hoàng lan!
Tình ngỡ đùa thế mà môi đắng chát
Lạc mê cung mong gì phút mây tan

Tưởng đâu cụ nghị thời dông tố
Hoá ra ông chủ “Hội  Nhà văn”

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN PHAN HÁCH (nhà văn)
Nguyễn Phan HáchCâu 1 nhắc 2 tập truyện QUÀ TẶNG CỦA THIÊN NHIÊN và CÂY VĨ CẦM CẢM LẠNH. Câu 2 nhắc HOA SỮA (tập thơ) : Tuổi mười lăm em lớn từng ngày / Một buổi sớm bỗng thành thiếu nữ / Hôm ấy mùa thu, anh vẫn nhớ / Hoa sữa thơm ngây ngất quanh hồ /…/ Tình yêu đầu tưởng không gì chia cắt / Vậy mà tan trong sương gió mong manh /…/ Đau khổ nhiều nhưng éo le thay / Không phải thời Rô-mê-ô và Juy-li-et /Nên chẳng có đứa dám chết / Đành lòng thôi mỗi đứa mỗi phương / Chỉ mùa thu trọn vẹn yêu thương / Hương hoa sữa cứ trở về mỗi độ… và tập truyện HOA HOÀNG LAN. Câu 3 nhắc 2 tập truyện TÌNH ĐÙA và VỊ ĐẮNG TRÊN MÔI. Câu 4 nhắc 2 tiểu thuyết TAN MÂY và MÊ CUNG. Hai câu cuối nhắc tên nhà văn : Nguyễn Phan Hách (trùng tên với ông nghị Hách) và nói hiện nhà văn là giám đốc NXB Hội Nhà văn.
Nguyễn Phan Hách sinh năm 1942 tại Thuận Thành, Bắc Ninh.

93

Nguyễn Quang Sáng Thế đứng ở đời hơn mười thế võ
Thú làm vua thua thú lai rai
Mùa gió chướng dẫu muôn ngàn gian khó
Chiếc lược ngà vẫn làm đẹp duyên ai

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN QUANG SÁNG (nhà văn)
Nguyễn Quang SángCâu 1 nhắc truyện ngắn nổi tiếng của tác giả : THẾ VÕ với những dòng kết luận : Thì ra cái quan trọng không phải là thế võ mà là thế đứng ở đời! Câu 2 : nhắc tập truyện ngắn (và cũng là tên truyện ngắn) TÔI THÍCH LÀM VUA khá hóm hỉnh và sâu sắc của tác giả. Ở câu này cũng nói về một sở thích của Nguyễn Quang Sáng : Rượu . Hai câu cuối nhắc tên tiểu thuyết (và sau là kịch bản phim) MÙA GIÓ CHƯỚNG và truyện ngắn CHIẾC LƯỢC NGÀ từng được giải thưởng văn học.
Nguyễn Quang Sáng sinh năm 1932, quê gốc Chợ Mới, An Giang. Hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh.

94

Nguyễn Tất Nhiên Em hiền như Masoeur
Cô Bắc Kỳ nho nhỏ
Đã làm khổ ai chưa ?

Em ngoan hiền – Masoeur
Tôi hoang đàng “ma-cô”

Masoeur này Masoeur
Vì tôi là linh mục
Sống ngoại đạo cùng thơ
Hai mươi năm lận đận,
Thiên tai đến bất ngờ…
Thôi thà như giọt mưa!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN TẤT NHIÊN (nhà thơ)
Nguyễn Tất NhiênCâu 1 là tên một bài thơ được phổ nhạc khá nổi tiếng, câu 4 và chữ ngoại đạo ở câu 6 lấy từ bài đó : Đưa em về dưới mưa / Nói năng chi cũng thừa / Phất phơ đời sương gió / Hồn mình gần nhau chưa ? /…/ Tay ta từng ngón tay / Vuốt lưng em tóc dài / Những trưa ngồi quán vắng / Chia nhau tình phôi phai / Xa nhau mà không hay…Câu 2 là tên một bài thơ của Nguyễn Tất Nhiên và nhắc thêm bài DUYÊN CỦA TÌNH TA CON GÁI BẮC :Em nhớ giữ tính tình con gái bắc / Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền / Nhớ khiêm nhường nhưng thầm ý khoe khoang / Nhớ duyên dáng, ngây thơ… mà xảo quyệt ! Câu 3 nhắc hai câu thơ trong bài NÊN SẦU KHỔ DỊU DÀNG : Nắng bờ sông như màu trang vở cũ / Thủa học trò em làm khổ ai chưa ? Câu 5 là tên một bài thơ VÌ TÔI LÀ LINH MỤC : Vì tôi là linh mục / Không mặc chiếc áo dòng / Nên suốt đời hiu quạnh, nên suốt đời long đong… Câu 7 nhắc bài HAI NĂM TÌNH LẬN ĐẬN : Em xưa còn thắt bím / Nuôi dưỡng thân ngây thơ / Anh xưa còn lính quýnh / Giữa sân trường trao thư /…/ Em thường hay mắt liếc / Anh thường ngóng cổ cao / Ngoài đường em bước chậm / Quán chiều anh nôn nao… Chữ THIÊN TAI là tên tập thơ đầu của Nguyễn Tất Nhiên. Tác giả coi tình yêu cũng là một loại thiên tai và thiên tai cũng dễ tạo ra thiên tài ! THÔI THÀ NHƯ GIỌT MƯA cũng là tên một bài thơ của tác giả được khá nhiều người biết.
Nguyễn Tất Nhiên có hai câu thơ : Bạn bè ngồi nhậu đôi khi / Người nói vô ý, người nghe điếng lòng. Tiến sĩ Trần Công Chín, bạn đồng nghiệp của tôi đổi câu thứ 2 là : người nói vô ý, người ghi âm rồi ! đều nhắc nhở ta phải cẩn thận khi ăn nói nhất là khi nhậu.
Nguyễn Tất Nhiên có tên khai sinh là Nguyễn Hoàng Hải, sinh 1953 tại Biên Hòa, mất ở Mỹ năm 1996.

95

Nguyễn Thái Vận Đánh thức một loài hoa dậy
Thế rồi… khép lại trang thơ!
Cần chi phải một lần đến
Mới bâng khuâng, mới sững sờ
Cuộc đời – trò chơi con trẻ
Khác chi bài hát tò vò…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THÁI VẬN (nhà thơ)
Nguyễn Thái VậnHai câu đầu nhắc tập thơ THỨC DẬY MỘT LOÀI HOA (…Anh đưa tôi về nếm giọt mật thơm / Chỉ thấy nồng say giữa cồn gió mát / Tiếng ong bay hay tiếng hoa đang hát / Cảm ơn người thức dậy một loài hoa). Hai câu tiếp nhắc bài NHỮNG NƠI CHỈ ĐẾN MỘT LẦN ( Những nơi chỉ một lần tôi đến / Mà bâng khuâng theo suốt tháng năm dài ) và cũng muốn nhắc một kỉ niệm của chúng tôi  về tác giả : năm 1986, khi Cầu chữ Y của chúng tôi được in ra, nhà thơ Nguyễn Thái Vận có viết bài giới thiệu trên Văn Nghệ rất ưu ái và hay. Trước đó, chúng tôi chưa gặp, nhưng đã đọc thơ ông và đã thấy nhiều điều đồng cảm,  vì chúng tôi cùng là nhà giáo : Chẳng thể nào trọn vẹn niềm vui / Nếu còn một bài phải cho điểm thấp / Ở đó tấm lòng tôi thiếu hụt / Chấm điểm em, tôi tự nhận điểm mình !… Muốn tìm gặp, nhưng chưa kịp, thì thình lình nghe tin ông mất. Tới bây giờ, chúng tôi vẫn còn cảm thấy mình như có lỗi. Câu 6 nhắc tập đồng dao BÀI HÁT TÒ VÒ.
Nguyễn Thái Vận quê Vinh Phú. Sinh năm 1941 mất năm 1991 tại Hà Nội.

96

Nguyễn Thị Mai Sông Trăng một khúc tỏ mờ
Thời hoa gạo cháy đôi bờ tương tư
Nhà không có bố hóa hư?
Hớ hênh bãi tắm nhử sư lại… nhòm!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THỊ MAI (nhà thơ)
Nguyễn Thị MaiTrong bài thơ trên nhắc hai tập thơ của Nguyễn Thị Mai : MỘT KHÚC SÔNG TRĂNG với lời đề từ : Đèn thờ xin thả hoa đăng / Tạ ơn một khúc sông trăng-kiếp người – là hai câu kết của BÀI CA SÔNG HÁT (con sông ở Hà Tây nơi ngày xưa hai bà Trưng tuẫn tiết) và tập THỜI HOA GẠO CHÁY với bài thơ cùng tên ( Không có mây để nhớ / Không có mưa để buồn / Chiều chia tay rất nắng / Nón em chừng nghiêng hơn /…/ Thôi đừng nói thầm thì / Em buồn cười lắm đấy / Cái thời hoa gạo cháy / Xa mãi rồi người ơi /…/ Bàn chân rồi dừng bước / Thương nhớ lòng khôn nguôi). Câu 3 nhắc bài thơ viết cho thiếu nhi của tác giả là NHÀ KHÔNG CÓ BỐ : Nhà không có bố buồn sao / Cái đinh cũng thiếu / Con dao thì cùn / Bơm xe chẳng hiểu cái Jun / Rát tay bật lửa, đá cùn xăng khô…// Không có bố, không thì giờ / Bữa ăn sớm muộn chẳng chờ, chẳng mâm / Ngày đông gió bấc mưa dầm / Đậy che mái dột âm thầm mẹ con // Chẳng vui tiếng điếu rít giòn / Bia không mua uống em còn bán chai / Nước đun sôi để nguội hoài / Nhà không có bố biết ai pha trà // Cho dù bãi mật phù sa / Mà không bên lở, chẳng là dòng sông. Nhắc bài thơ này cũng để nhắc một mảng đóng góp rất quan trọng của Nguyễn Thị Mai là thơ cho thiếu nhi. Chị còn có những bài như GIỜ VĂN… được nhiều người biết. Câu  cuối nhắc bài thơ TẮM BIỂN GẶP SƯ với khổ kết : Cà sa choàng gió phi lao / Trở nguyên cõi tục òa vào thế nhân / Triều khơi vai nắng ngực trần / Từ bi hỉ xả một lần xem sao?
Nguyễn Thị Mai còn có các tập NÓN TRẮNG SANG ĐÒ (Nón trắng sang đò ngày hội / Tiếng cười bến nước râm ran), THẢ DIỀU (thơ cho thiếu nhi) và NGƯỜI YÊU LÀ LÍNH (tập truyện vui).
Nguyễn Thị Mai quê Hà Tây. Hiện công tác tại Hội liên hiệp Phụ Nũ Việt Nam.

97

Nguyễn Trãi “Tam tộc tru di”, máu đỏ làng
Bình Ngô muôn thuở giọng còn vang
Hỡi ơi Thị Lộ – gương tầy… chiếu
Tài sắc mà chi để lụy chàng.

» Xem/Đóng đáp án

Vài nét NGUYỄN TRÃI (nhà thơ)
Nguyễn TrãiCâu 1 nhắc vụ án “Lệ Chi Viên” về cái chết của vua Lê Thái Tôn dẫn đến thảm họa cho Nguyễn Trãi. Câu 2 nhắc ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ cũng là nhắc đến tài đức và công lao của Nguyễn Trãi đối với dân tộc và triều đình nhà Lê. Ở câu 3 “gương tầy chiếu” là sửa lại thành ngữ “gương tầy liếp” nghĩa là gương lớn. Gương ở đây là muốn nói đến gương “tài mệnh tương phương” tức là tài và mệnh làm hại lẫn nhau, thường xảy ra trong chế đệ phong kiến cũ. Chữ  “chiếu” là muốn nhắc đến giai thoại làm quen nhau của Nguyễn Trãi và Thị Lộ : Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cả câu 3 lẫn câu 4 muốn nhắc đến nguyên nhân cái chết của vua Thái Tôn ắt hẳn có liên quan đến tài sắc của Thị Lộ và vì cái chết đó mà triều đình có cớ hãm hại Nguyễn Trãi.
Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê Hà Đông, mất năm 1442.

98

Lê Trọng Định Bảy sắc cầu vồng vẫn còn sáng mãi
Dẫu cho ai đã ngã giữa chiến trường
Nhớ thi sĩ cà phê, bia… sẵn đấy
Khát tận lòng vị nước vối quê hương.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH (nhà thơ)
Lê Trọng ĐịnhCâu đầu nhắc tập thơ SẮC CẦU VỒNG. Hai câu cuối nhắc bài thơ tâm đắc nhất của tác giả : NƯỚC VỐI QUÊ HƯƠNG : Đêm rừng già đi giữa mưa rơi / Một mảnh áo mưa che chẳng kín người / Nước chảy qua môi húp từng ngụm nhỏ / Bỗng nhớ mẹ ngồi bên ấm giỏ / Nước vối mặn nồng / Ngọt ngào chuyện cũ / Ơi ! Nhớ sao / Mảnh vườn quê hương ta đó / Cây vối già bạc thếch nắng mưa / Mỗi nhánh mốc gầy đều in dấu tuổi thơ / Tháng năm tới cành chỉ còn thấy nụ / Nụ chín vàng mẹ lấy vào ấm ủ / Hạt khô vàng trong nắng xôn xao / Rồi những ngày ngâu trên chum nước gốc cau / Những tháng rét trải rơm làm ổ ngủ / Bắc ấm nước mưa con ngồi nhóm lửa / Nụ vối tích mấy mùa mẹ lại sẻ ra pha / Chén nước ấm nồng ngai ngái vị thuốc ta / Mà nhấp khỏi cứ ngọt hoài đầu lưỡi / con ủ tay dưới nắp bông nóng hổi / Nghe rì rầm câu chuyện cũ năm nao /…/ Mẹ ơi ! / Quê ta đêm nay có nặng hạt mưa đông / Ấm vối đặc chắc vẫn nồng trong giỏ / Tháng năm rồi vối trong vườn kết nụ / Cô láng giềng có hái giúp mẹ không ?…
Nguyễn Trọng Định sinh năm 1939, quê Gia Lâm Hà Nội, mất năm 1968 tại Điện Bàn Quảng Nam.

99

Nguyễn Trọng Tạo Thơ tình gửi người không quen
Đồng dao con nít lại đem tặng già
Nhận làng Quan Họ : “Quê ta!”
Một người ba hội, bảy nhà, lừng danh!
Chưởi thằng Bá Kiến lộng hành
Lại mơ Thị Nở cho anh… bốn lầu!

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN TRỌNG TẠO (nhà thơ)
Nguyễn Trọng TạoCâu 1 nhắc GỬI NGƯỜI KHÔNG QUEN (tập thơ tình) : Chia cho em một đời tôi / Một cay đắng, một niềm vui, một buồn / Tôi còn cái xác không hồn / Cái chai không rượu, tôi còn vỏ chai…Câu 2 nhắc ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN  (tập thơ) : Có cánh rừng chết vẫn xanh trong tôi / Có con người sống mà như qua đời /…/ Có câu trả lời biến thành câu hỏi / Có kẻ ngoại tình ngỡ là tiệc cưới /…/ Có thương có nhớ có khóc có cười / Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi. Câu 3 nhắc LÀNG QUAN HỌ QUÊ TÔI (tập ca khúc). Câu 4 : Nguyễn Trọng Tạo là hội viên Hội Nhà văn, Hội Nhạc sĩ, Hội Nhà báo (cả 3 đều “Việt Nam”), là nhà văn, nhà soạn nhạc, nhà thơ, nhà lý luận phê bình (có in tập VĂN CHƯƠNG CẢM VÀ LUẬN), nhà… vẽ (trình bày khá nhiều bìa sách), và nhà lãnh đạo văn nghệ (Từng làm trưởng Đoàn văn công, Ủy viên Ban chấp hành Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên). Hai câu cuối nhắc bài thơ BÁ KIẾN THỜI HIỆN ĐẠI với hai câu kết : rồi sẽ có ngày Thị Nở quay trở lại / Cho anh bốn lầu tha hồi thoải mái ! Có lần tôi thấy mấy cô gái truyền nhau đọc câu này rồi cùng đỏ mặt lên, không rõ vì sao. Sau mới biết người Nam Bộ rất tinh nhạy trong việc nói lái (đôi khi họ cũng đọc trệu chữ “lầu” thành chữ “lù” nữa đấy).
Nguyễn Trọng Tạo sinh năm 1947 tại Diễn Châu, Nghệ An. Hiện sống và viết tại Hà Nội.

100

Nguyễn Tuân Lẽ đâu vang bóng một thời
Lẽ đâu lang bạt, ăn chơi mới sành
Thắng càn, kháng chiến, hòa bình
Hà Nội đánh Mỹ … đều thành văn chương
Phở ngon, giò chả thêm hương
Chém treo ngành ? Giận và thương xử huề.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN TUÂN (nhà văn)
Nguyễn TuânTrong bài thơ nhắc tên một số tác phẩm chính của Nguyễn Tuân : VANG BÓNG MỘT THỜI (với truyện CHÉM TREO NGÀNH), MỘT CHUYẾN ĐI (du ký), THẮNG CÀN, tùy bút KHÁNG CHIẾN VÀ HÒA BÌNH, HÀ NỘI TA ĐÁNH MỸ GIỎI, tùy bút PHỞ, GIÒ CHẢ
Nguyễn Tuân sinh năm 1910 tại quê Hà Nội, mất năm 1987.

101

Nguyễn Vũ Tiềm Một đời thương nhớ tài hoa
Tài hoa trẻ, tài hoa già đều thương
Câu thơ chèo chống tai ương
Tám hướng mười đường thám hiểm thời gian
Thăm hoa trái, gặp Nữ Hoàng
Đợi hoa quỳnh nở, gặp hương giao thừa.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VŨ TIỀM (nhà thơ)
Nguyễn Vũ TiềmHai câu thơ đầu nhắc đến tác phẩm THƯƠNG NHỚ TÀI HOA và NGÀN CÂU THƠ TÀI HOA VIỆT NAM vừa mới ra đời, một công trình đồ sộ gần ngàn trang, tác giả tiến hành dịch, biên soạn, phẩm bình trong suốt 10 năm và TÀI HOA TRẺ là tên tuần san do tác giả sáng lập và hiện là người trực tiếp phụ trách. Câu thứ 3 nhắc cặp lục bát tài hoa của tác giả :Bể trầm luân, sóng can qua / Câu thơ mỏng mảnh đem ra làm chèo, câu thơ viết về Trần Huyền Trân, tác giả Rau tần nhưng khái quát cho mọi kiếp văn nhân. Câu thứ 4 nhắc THƠ KHÔNG GIAN ĐA CHIỀU trong tiểu luận của tác giả và NGƯỜI THÁM HIỂM THỜI GIAN là tập thơ của tác giả. Hai câu cuối nhắc 3 tập thơ  : NỮ HOÀNG TRÁI CÂY, THỨC ĐỢI HOA QUỲNH và HƯƠNG GIAO THỪA. Toàn bài thơ nói lên tấm lòng trân trọng của tác giả đối với các văn nhân và văn chương, và phải chăng vì vậy nhiều hạnh phúc và niềm vui cũng đến với tác giả (theo luật nhân quả).
Nhân đây xin thắp lại một trong “ba nén tâm hương” của tác giả : Mở mắt là khoan vào sáng tối / Chính mình chẳng biết để làm chi / Vợ con vuốt mắt cho lần cuối / Vướng mãi điều gì cộm ở mi!
Nguyễn Vũ Tiềm sinh năm 1940 tại Gia Lâm, Hà Nội. Hiện cư ngụ tại TP. Hồ Chí Minh.

102

Nguyễn Vỹ Như đứa con hoang, như chiếc bóng
Từng đi bưng thúng cho đàn bà
Buồn ngắm sương rơi – hay lệ rớt?
Say làm thơ khóc với bạn xa
“Nếu đem thi sĩ so cùng… chó
Người hổ một phần, chó hổ ba”

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VỸ (nhà thơ)
Nguyễn VỹCâu 1 nhắc tiểu thuyết ĐỨA CON HOANG (1938) và truyện dài CHIẾC BÓNG (1938). Câu 2 là một câu thơ của Nguyễn Vỹ vì ông vốn là cộng sự của Báo Phụ Nữ. Câu 3 nhắc bài SƯƠNG RƠI được Hoài Thanh khen là đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để diễn tả một cái gì đó đang rơi : Sương rơi / Nặng trĩu / Trên cành / Dương liễu…/Như hơi / Gió bấc / Lạnh lùng / Hiu hắt / Thấm vào / Em ơi / Trong lòng / Hạt sương / Thành một / Vết thương !…Câu 4 nhắc bài GỬI TRƯƠNG TỬU tác giả “viết khi say”; “viết xong rồi vẫn còn say” (chú của tác giả) : Dạo ấy chúng mình nghèo xơ xác / Mà coi đồng tiền như cái rác ! / Kiếm được đồng nào đem tiêu hoang / Rủ nhau chè chén nói huyênh hoang / Xáo trộn văn chươngcùng  chả cá /…/ Thời thế bây giờ vẫn thấy khó / Nhà văn An-Nam khổ như chó ! / Mỗi lần cầm bút nói văn chương / Nhìn đàn chó đói gặm trơ xương / Và nhìn chúng mình hì hục viết / Suốt mấy năm trời kiết vẫn kiết /…/ Bao giờ chúng mình thật ngất ngưởng? / Tôi làm Trạng Nguyên, anh Tể tướng?/ Và anh bên võ,, tôi bên văn / Múa bút tung gươm hả một phen?/…/ Chứ như bây giờ là trò chơi / làm báo làm bung chán mớ đời! / Anh đi che tàn một lũ ngốc / Triết lý con tiều, văn chương cóc! / Còn tôi bưng thúng cho đàn bà / Ra chợ bán văn ngày tháng qua!…
Lối so nhà văn với chó làm phật ý Tản Đà. Một hôm say rượu, Tàn Đà trách Nguyễn Vỹ : “Sao anh lại ví nhà văn chúng mình với chó ? Anh không xấu hổ à?”. Nguyễn Vỹ đáp lại, cũng trong lúc say : “Tôi có ví như thế thì chó nó xấu hổ, chứ chúng ta xấu hổ nỗi gì?” (theo THI NHÂN VIỆT NAM)
Nguyễn Vỹ sinh năm 1910 tại Quảng Ngãi, mất năm 1971 (do tai nạn xe cộ) tại Sài Gòn.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần P-Q) 5/5 (1)

103

Phạm ĐứcMột lời chỉ với một người
Đơn phương cả một khoảng đời. Đau thay!
Nhỏ xinh hạt bông gạo bay
Nhảy dù vào hết tuyển này tập kia!

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM ĐỨC (nhà thơ)
Phạm ĐứcCâu đầu nhắc tên tập truyện MỘT LỜI VỚI MỘT NGƯỜI. Câu 2 nhắc 2 tập thơ : ĐƠN PHƯƠNG (Tôi tìm em, em tìm ai / Để đôi khi tiếng thở dài hòa chung / Gần nhau mà chả yêu cùng / Đơn phương tôi cứ thủy chung một mình…) và tập CÓ MỘT KHOẢNG ĐỜI, đồng thời cũng nhắc hai bài thơ : bài NỖI ĐAU (Nỗi đau ai thấy đâu nào / Ở trên gương mặt ngọt ngào sáng êm / Mặt hồ càng đáng yêu thêm / Khi dưới đáy những ẩn chìm xót xa) và bài GỬI NGƯỜI ĐỌC “ĐƠN PHƯƠNG trong tập GIỮA HAI TA, tập thơ mới nhất của tác giả (NXB Hội Nhà văn 2001) (… Đơn phương – buồn đấy nhưng mà / Cho ta hiểu thế nào là tình yêu) Câu 3 và 4 nhắc bài thơ HẠT BÔNG GẠO NHẢY DÙ – một bài thơ thuộc loại hay nhất trong nền thơ thiếu nhi ở nước ta, mà chúng tôi đã nhiều lần khẳng định: nếu một tuyển thơ cho thiếu nhi nào không chọn bài này thì hoặc người tuyển chọn không hiểu thơ thiếu nhi, hoặc có hiềm khích gì với tác giả: Hạt bông gạo nhảy dù / Bằng chiếc dù bông trắng / Trong gió nhẹ mùa thu / Kẻ dài từng tia nắng / Hôm nào hoa đỏ thế / mà nay bông trắng ngần / Cái hạt cây bé tí / Nhảy dù xuống góc sân / Hạt bông gạo rùng mình / Nhìn cây cao lộng gió / Nó biết đâu rồi mình / Sẽ thành cây lớn đó!

Phạm Đức sinh năm 1945, quê Tứ Lộc, Hải Phòng. Hiện công tác ở NXB Thanh Niên Hà Nội.

104

Phạm HổNhững ngày thân ái mãi còn
Đẹp như mười quả trứng tròn hồng tươi
Dù đi xa, dẫu ra khơi
Vẫn nghe hoa quả nói lời mộng mơ
Hằn trong ký ức trẻ thơ
Chú bò tìm bạn ngẩn ngơ. Ậm ò!…

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM HỔ (nhà thơ)
Phạm HổNHỮNG NGÀY XƯA THÂN ÁI là tên bài thơ nổi tiếng của Phạm Hổ viết hồi kháng chiến chống Pháp. Bài thơ được phổ nhạc, được in lại nhiều lần trong các tuyển tập, mới nhất là tuyển thơ THẦY GIÁO VÀ NHÀ TRƯỜNG (NXB Giáo Dục-2000) :Tôi bắn hắn rồi / Những ngày xưa thân ái không ngăn nổi tay tôi / / Những ngày xưa thân ái / Chắc hắn quên rồi / Riêng tôi, tôi nhớ : / Đồng làng mênh mông biển lúa / Sương mai đắp trắng cỏ đường / Hai đứa tôi, sách vở cặp chung / Áo quần nhàu giấc ngủ / Song song bước nhỏ chân trần / Gói cơm mo mẹ vắt xách tùng tơn // Nón lùng thùng quai / Trong túi hộp diêm nhốt dế… / / Những ngày xưa êm đẹp thế / không mang chung hai đứa một ngày mai / / Hắn bỏ làng theo giặc mấy năm nay. Tôi buồn… tôi giận / Đêm nay gặp hắn / Tôi bắn hắn rồi ! / Những ngày xưa thân ái không ngăn nổi tay tôi / Hắn nằm bên bờ ruộng / Không phải hắn thuở xưa / Tôi cúi nhìn mắt hắn / Khóc hắn thời ấu thơ !!!.  MƯỜI QUẢ TRỨNG TRÒN là tên bài thơ viết cho thiếu nhi, được đưa vào sách giáo khoa và nhiều tuyển tập. ĐI XA, RA KHƠI là tên các tập thơ. CHUYỆN HOA CHUYỆN QUẢ là tập truyện cổ tích khá đồ sộ. CHÚ BÒ TÌM BẠN là tên bài thơ và gần đây là tên tuyển thơ văn của Phạm Hổ cho thiếu nhi trong Tủ sách vàng của NXB Kim Đồng.

Phạm Hổ sinh năm 1926 quê Bình Định. Hiện ông sống tại Hà Nội.

105

Phạm KhảiNhiều tài, cũng lắm bút danh
Kim giờ, kim phút, quay thành thơ hay
Phê bình quý đức thẳng ngay
Phải đâu người gặp thường ngày mới khen

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM KHẢI (nhà thơ )
Phạm KhảiPhạm Khải thuộc loại đa tài. Ông vừa làm thơ vừa viết phê bình, từng là ủy viên hội đồng thơ rồi hội đồng lý luận phê bình của Hội nhà văn Hà Nội. Tên thật là Phạm Quang Khải. Ông có tới bốn bút danh ( người vô địch về số bút danh có lẽ là nữ sĩ Ngân Giang: 9 bút danh !). Câu 2 nhắc bài thơ KIM GIỜ KIM GIÂY, Phạm Khải viết như đùa. Vậy mà được rất nhiều người thuộc và được rất nhiều tuyển tập chọn vào : Kim giờ làm khổ Kim giây / Em đi một bước, anh quay trăm vòng / Muốn làm Kim phút cho xong / Sợ khi giáp mặt, chuông lòng lại reo. So với thơ tình của chính Phạm Khải thì đây chỉ là bài thuộc loại trung bình. Tôi cứ băn khoăn ở câu thứ ba : Kim phút vẫn chạy nhanh gấp 12 lần kim giờ. Vậy đã “xong “ chưa ? Và lại nữa : Tại sao kim phút gặp kim giờ thì đồng hồ reo chuông ? Hay ta đổi là Làm kim báo thức cho xong ?. Ở đồng hồ bàn có kim chỉ giờ báo thức. Kim này hoàn toàn không quay (xong)  và khi kim giờ gặp nó thì đồng hồ reo chuông. Như vậy, về cái sự đời của bài thơ thì vẫn nguyên. Còn cái sự đồng hồ thì hoàn toàn chuẩn xác. Ấy là tán thêm cho vui. Thực ra tôi đã thuộc bài thơ ngay khi đọc lần đầu. Câu cuối nhắc tác phẩm : NGƯỜI GẶP TRONG NGÀY, THƠ ĐỌC TRONG ĐÊM.

Phạm Khải sinh năm 1968 tại quê gốc Thường Tín, Hà Tây. Hiện công tác tại NXB. Công An Nhân dân Hà Nội.

106

Phạm Ngọc CảnhGió vào trận bão? Vì sao?
Khúc mơ màng, đá yêu nhau đấy mà!
Sau rằm, trăng rạng mãi ra
Cuộc đời ngỡ kịch, thế mà lại thơ!

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM NGỌC CẢNH (nhà thơ)
Phạm Ngọc CảnhCâu 1 nhắc tập thơ đầu tay của tác giả : GIÓ VÀO TRẬN BÃO. Câu 2 nhắc tập thơ KHÚC MƠ MÀNG CỦA ĐÁ ( Đá chồng lên Trống Mái / đáo để / Cái thời ông bà ta yêu nhau /…/ Hóa đá làm gì thêm nữa em / Hóa đá cũng không còn kịp / đời sau ai biết ai / thôi cứ vòng quanh hòn Trống Mái / quanh chỗ bi thương nghìn đời để lại / Hôn nhau qua sóng bạc đầu ). Câu 3 nhắc tập thơ TRĂNG SAU RẰM, cũng để nói thơ Phạm Ngọc Cảnh càng về sau càng đằm thắm, càng sâu sắc. Câu cuối muốn nói Phạm Ngọc Cảnh viết thơ khi ông là một diễn viên trụ cột của đoàn văn công Tổng cục chính trị. Bao cảnh đời ngổn ngang dồn nén lên sân khấu đã khơi dậy trong ông một hồn thơ không thể không viết ra. “Những bài thơ đầu tiên ra đời khi tôi đã là một diễn viên thực thụ” –nhà thơ tâm sự.

Phạm Ngọc Cảnh sinh năm 1934 tại thị xã Hà Tĩnh. Hiện cư ngụ tại Hà Nội.

107

Phạm Thiên ThưTheo anh vào động hoa vàng
Để đau thêm khúc đoạn trường vô thanh
Đã đem tơ tóc trao anh
Dứt tình Hoàng Thị, tu hành sao đang.

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM THIÊN THƯ (nhà thơ)
Phạm Thiên ThưCâu 1 nhắc truyện thơ dài ĐỘNG HOA VÀNG : …ta về rũ áo mây trôi / gối trăng đánh giấc bên đồi dạ lan / rằng xưa có gã từ quan / lên non tìm động hoa vàng ngủ say / ngựa xưa qua ải sương này / còn nghe nhạn lạc kêu hoài bãi sông /…/ áo em vạt tím ngàn sim / nửa nao nức gọi, nửa im lặng chờ… Câu 2 nhắc truyện thơ dài ĐOẠN TRƯỜNG VÔ THANH. Câu 3 nhắc bài thơ SỢI TÓC : Ngày sinh nhật anh / Gởi đôi sợi tóc / Thắt nơ nhung xanh / Trong khăn lụa bọc / Hai sợi tóc mai / Sợi vắn sợi dài / Lấy nhau chẳng đặng / Em ơi thương hoài / Trời sinh thiên tài / Ngồi ôm sợi tóc. Câu cuối nhắc bài thơ NGÀY XƯA HOÀNG THỊ đã được phổ nhạc. Chúng tôi có được nghe hát đôi bận, nhớ đôi đoạn nhưng không chính xác nên không chép ra đây. Ở câu này cũng nói Phạm Thiên Thư từng là một nhà sư có tiếng ở Sài Gòn, đã viết nhiều sách về Phật Giáo : KINH NGỌC, ĐẠO CA, KINH HIẾU…

Phạm Thiên Thư sinh năm 1940 ở Hải Phòng, quê gốc :Kiến Xương, Thái Bình, hiện ở Tp. Hồ Chí Minh.

108

Phạm Thu YếnỪ, tiến sĩ Mạc-Tư-Khoa
Cuối cùng thì cũng đàn bà như ai!
Bốn mươi dài rộng tương lai
Thấy mình trong mắt ai hai lần liền!

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM  THU  YẾN (nhà thơ)
Phạm Thu YếnCâu 1 nhắc bài thơ GỬI TRƯỜNG LÔMÔNÔXỐP : …Chắc trường cũ chuông đồng hồ vẫn điểm / Giáo sư giờ tóc có bạc hơn xưa / Có bao giờ ta còn trở lại / Ngồi góc vườn hoa táo trắng như mơ… Câu 2 nhắc bài thơ ĐÀN BÀ, một bài thơ bình dị mà gây nhiều ấn tượng : Ngày nào tôi cũng đi chợ / Mặc cả mớ rau, đồng quà /…/ Chưa kịp vui vì mua rẻ / Lại thấy lòng vương nỗi buồn / Người bán hàng rong gầy yếu / Một ngày kiếm được bao lăm/…/ Tôi trả tiền thêm cho chị / Ngẩn ngơ chị tưởng tôi lầm/ / Cứ thế, ngày nào cũng thế / Tôi mặc cả, tôi tần ngần / Trái tim đàn bà trĩu nặng / Những điều nhỏ nhặt quẩn quanh. Câu 3 nhắc bài THƠ TUỔI BỐN MƯƠI : Đó là lúc hoa nở vàng mặt đất / Trái chát chua đến độ ngọt ngào / Nét rực rỡ mấp mé bờ hao khuyết / Cứ song hành hạnh phúc với lo âu. Câu 4 : Phạm Thu Yến in hai tập thơ bài hoàn toàn khác nhau nhưng cùng có tên là THẤY MÌNH TRONG MẮT AI. Chắc được bạn thơ Phạm Công Trứ mách cho cách đặt tên để sau sẽ ra “Mắt ai thi tập” !(Đừng nhìn em như thế / Đừng khen em quá lời / “Thân em như quả ớt” / Dẫu sắc màu đỏ tươi…). Ớt, nhưng mà ớt Đà Lạt để xào thịt bò. Phạm Thu Yến là một phản ví dụ của quan niệm cho rằng chỉ có bất hạnh và nghèo khổ thơ mới hay.
Phạm Thu Yên sinh năm 1953 tại Nam Định. Hiện là giảng viên Đại học Sư phạm I Hà Nội.

109

Phạm Tiến DuậtTrường Sơn Tây, Trường Sơn Đông
Xe không có kính, rồi không có đèn
Bồn chồn bom nổ Xeng-phen
Cồn cào quầng lửa ố hoen chân trời
Chỉ cần một trái tim thôi
Lửa đèn thắp sáng một thời chiến tranh.

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM TIẾN DUẬT (nhà thơ)
Phạm Tiến DuậtCâu đầu nhắc bài thơ TRƯỜNG SƠN ĐÔNG – TRƯỜNG SƠN TÂY đã được phổ nhạc khá quen thuộc; câu 2 nhắc bài thơ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH; câu 3 nhắc bài thơ TIẾNG BOM Ở XENG-PHEN với hai câu kết :Thế đấy giữa chiến trường/ Nghe tiếng bom rất nhỏ. Câu 4 nhắc tập thơ VẦNG TRĂNG VÀ QUẦNG LỬA. Câu 5 nhắc câu kết trong bài thơ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH : Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước/ Chỉ cần trong xe có một trái tim. Sinh thời, Xuân Diệu rất tâm đắc câu này và ông đã dùng để nói về thơ Phạm Tiến Duật : “Chỉ cần trong thơ có một trái tim”. Nhân đây cũng nhắc bài thơ của Thạch Quỳ nhái bài TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH với khổ kết : Không có kính, rồi không đồng hồ / Không có chuông xe, vành xe có xước / Xe vẫn chạy vì vợ con phía trước / Chỉ cần trong tim có một… mối lo. Nhắc bài này cũng để ôn lại sự gian nan của cán bộ ta thời kháng chiến. Câu cuối nhắc bài thơ của Phạm Tiến Duật được giải nhất báo Văn Nghệ hồi đó : LỬA ĐÈN.
Phạm Tiến Duật sinh năm 1941, quê thị xã Phú Thọ. Hiện ở Hà Nội.

110

Phạm Tường HạnhVua Phật cũng lên đường kháng chiến
Văn đời, việc thực vẫn nên chương
Dứt chốn chôn nhau trào sóng biển
Đất Sài Gòn đã hóa quê hương
Góp nhặt cho đời từng giọt mật
Lòng mở bao la vạn nẻo đường

» Xem/Đóng đáp án

PHẠM TƯỜNG HẠNH (nhà văn)
Phạm Tường HạnhCâu 1 : VUA PHẬT LÊ CÔNG DANH ĐI KHÁNG CHIẾN là truyện kí nổi tiếng viết về một “kỳ nhân” có thật hiện còn sống của Phạm Tường Hạnh. Câu 2 : Xin ghi lời nhà văn Hà Văn Thùy trong bài PHẠM TƯỜNG HẠNH – NHÀ VĂN VÀ NHÂN CHỨNG : “Phạm Tường Hạnh đi bằng chân đất, trên mảnh đất dính phù sa của thứ văn xuôi ký sự người thực việc thực. Đó là con đường đưa ông đến với văn chương… Văn ông là thứ văn báo chí, có khi khô khan, nhưng người ta buộc phải đọc ông, bởi ông có cái mà các nhà khác không có : Sự thật nguyên chất, sự thật thứ thiệt ! Những trang sách tươi rói máu thịt cuộc đời của Phạm Tường Hạnh đã trở thành biên niên sử của một thời hào hùng đã qua”. Các câu 3 và 4 : Phạm Tường Hạnh sinh ở Tiền Hải Thái Bình. Trong quá trình hoạt động cách mạng, Sài Gòn đã trở thành quê hương của ông. Các câu 4, 5, 6 nhắc tên ba tác phẩm của Phạm Tường Hạnh trong bộ ký sự lịch sử : GIỌT MẬT CHO ĐỜI, ĐẤT SÀI GÒN và MUÔN NẺO ĐƯỜNG ĐỜI.
Phạm Tường Hạnh sinh năm 1920. Hiện ông sống tại TP. Hồ Chí Minh.

111

Phan KhôiVỏ lý luận, ruột thi nhân
Hồng Ngâm rất Việt, Chương Dân đặc Tàu
Tú nho cúp tóc kiểu Âu
Khơi dòng thơ trẻ bằng câu tình già.

» Xem/Đóng đáp án

PHAN KHÔI (nhà văn)
Phan KhôiCâu 1 nhắc tựa đề bài viết về Phan Khôi “Vỏ lý luận, ruột thi ca trong tập CHÂN DUNG NHÀ VĂN của nhà thơ Hoài Anh (dày 1500 trang, NXB Hội Nhà Văn mới ấn hành). Câu 2 nhắc hai bút danh của Phan Khôi và cũng muốn nhắc đến tập CHƯƠNG DÂN THI THOẠI của ông. Câu 3 nhắc bài VÈ CÚP TÓC (Cúp hề ! Cúp hề / Đủng đỉnh cho khéo / Bỏ cái ngu này !/ Bỏ cái dại này!/ Học theo người Tây…). Cũng muốn nói ông tú tài nho Phan Khôi quyết theo phong trào Duy Tân đến mức nhiều nhà Tây học còn nói là hơi “mới quá”. Ông viết báo chống bọn “học phiệt” và Nho giáo lạc hậu. Câu cuối nhắc bài thơ TÌNH GIÀ của Phan Khôi đăng trên báo Phụ Nữ Tân văn (1932) trong bài báo MỘT LỐI THƠ MỚI TRÌNH CHÁNH GIỮA LÀNG NHO được xem như bài thơ mở đầu của phong trào thơ mới : Hai mươi bốn năm xưa, một đêm vừa gió lại vừa mưa / Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ / Hai cái đầu xanh kề nhau than thở : / – Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng / Mà lấy nhau hẳn là không đặng / Để đến nỗi tình trước phụ sau / Chi cho bằng sớm liệu mà buông nhau / – Hay! Mới bạc làm sao chớ ? / Buông nhau làm sao cho nỡ! /…/Hai mươi bốn năm sau tình cờ đất khách gặp nhau / Đôi cái đầu đều bạc / Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được / Ôn chuyện cũ mà thôi / Liếc đưa nhau đi rồi / Con mắt còn có đuôi.

Phan Khôi sinh năm 1887 tại Điện Bàn, Quảng Nam (cháu ngoại của Tổng đốc Hoàng Diệu), mất năm 1959 tại Hà Nội.

112

Phan Thị Thanh NhànGái xóm Đê đâu phải hèn
Làm anh khó đấy, làm em khó gì?
Con đường yêu cũ đừng đi
Nhuộm xanh tóc lại, cần chi hương thầm!

» Xem/Đóng đáp án

PHAN THỊ THANH NHÀN (nhà thơ)
Phan Thị Thanh NhànCâu đầu nhắc bài thơ XÓM ĐÊ từng đoạt giải nhì báo Văn Nghệ. Câu thứ hai nhắc bài thơ LÀM ANH dành cho thiếu nhi đã được đưa vào sách giáo khoa văn : …Làm anh khó đấy / Nhưng mà rất vui / Ai yêu em bé/ Thì làm được thôi …. Câu thứ 3 nhắc cặp lục bát trong bài CON ĐƯỜNG được nhiều người thuộc : Nếu cùng người mới dạo chơi/ Xin anh tránh nẻo đường vui ban đầu hoặc Con đường ta đã dạo chơi / Xin đừng đi với một người khác em. Câu thứ tư nhắc truyện ngắn khá hóm hỉnh của Phan Thị Thanh Nhàn :THỢ NHUỘM TÓC và bài thơ HƯƠNG THẦM (giải nhì báo Văn Nghệ 1969) đã được phổ nhạc khá nổi tiếng (Cửa sổ hai nhà cuối phố / Không hiểu vì sao không khép bao giờ / Đôi bạn ngày xưa học cùng một lớp / Cây bưởi sau nhà ngan ngát hương đưa // Giấu một chùm hoa trong chiếc khăn tay / Cô gái ngập ngừng sang nhà hàng xóm / Bên ấy có người ngày mai ra trận // Họ ngồi im không biết nói năng chi / Mắt chợt tìm nhau rồi lại quay đi / Nào ai đã một lần dám nói ? / Hoa bưởi thơm cho lòng bối rối /…/ Họ chia tay vẫn chẳng nói điều gì / Mà hương thầm thơm mãi bước người đi.

Phan Thị Thanh Nhàn sinh 1943 tại Từ Liêm, Hà Nội. Hiện cư trú tại Hà Nội.

113

Phi Tuyết BaLỗi là lỗi tại trái tim
Chứ còn tính toán thì em chả xoàng!
Lời tình yêu – sóng thời gian
Mimôza cứ nở vàng đồi thông.

» Xem/Đóng đáp án

PHI TUYẾT BA (nhà thơ)
Phi Tuyết BaCâu 1 nhắc tập thơ LỖI TẠI TRÁI TIM, câu 3 nhắc 2 tập thơ : LỜI TÌNH YÊU và SÓNG THỜI GIAN. Câu 4 nhắc tập thơ MIMÔZA (Mimôza / Cánh nghiêng xuống cỏ / Tình cây đã ngỏ / Chín vàng sắc hoa…) và bài thơ GIỮA ĐỒI THÔNG : Thông xanh, thông xanh, thông xanh… / Ngỡ như biển biếc hóa thành đồi thông / Gió dìu mây trắng lượn vòng / Đồi cong nét sóng vỗ cong diềm trời…/…/ Ta như chiếc lá không màu / Hư danh bứt trộm… vò nhàu mà chơi / Nửa mong thoát tục về trời / Nửa còn lận đận cõi người, hỡi thông…Câu 2 cho biết Phi Tuyết Ba vốn tốt nghiệp khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội và hiện giảng dạy Toán tại Đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Phải chăng vì vậy tác giả có những bài thơ súc tích, chặt chẽ như một định lý Toán. Ví như NGÀY HÔM QUA :Ngỡ biết đủ rồi / Nhưng đó là ngày hôm qua / Ngỡ hết lầm lỡ rồi / Nhưng đó là ngày hôm qua / Ngỡ đến đích rồi / Nhưng đó cũng chỉ là ngày hôm qua. Hoặc HAI MẢNH VỠ : Trời cho hai nửa / Là em và anh / Từ hai mảnh vỡ / Thách ta ghép lành.
Phi Tuyết Ba sinh năm 1946, quê Hà Tây.

114

Phùng Khắc BắcBuổi lên đường
Cha nhìn anh bằng cái nhìn vuốt mắt
Hòa bình trở lại quê hương
Nhà dột, đêm mưa, anh nằm nghe “xô nát”…
Quê anh sỏi, đá và cát
Lúa giành chỗ đứng cùng gianh
Hai trái đồi quê vẫn như cặp vú nguời tình!

Dẫu nhiều lần phải chết
Ký hiệu của đời vẫn một chấm xanh.

» Xem/Đóng đáp án

PHÙNG KHẮC BẮC (nhà thơ)
Phùng Khắc BắcHai câu đầu gần nguyên văn thơ Phùng Khắc Bắc trong bài RA ĐI. Hai câu tiếp lấy ý từ bài NGÀY HÒA BÌNH ĐẦU TIÊN, nghe nói lúc đầu còn có tên là BẢN XÔ-NÁT NHÀ DỘT : …Ngày xưa / Chỗ ướt mẹ nằm / Sau mười năm / Vẫn chỗ mưa mẹ đứng / Mẹ trao cho anh chiếc đèn và bảo / Đừng để ngọn lửa rụng / Mẹ xếp những thùng, chậu, nồi, xoong… / Khúc nhạc mưa nhà dột tấu lên… Hai câu tiếp lấy ý từ bài  TRỞ LẠI MIỀN ĐỒI và bài TỪ HAI PHƯƠNG TRỜI : Phương trời ấy, phương trời quê anh / Con gà mái bới từng hạt sỏi / Móng mỏ cũng mòn đi trong miếng ăn…Câu tiếp lấy từ bài RA ĐI. Câu 8 lấy ý từ bài TRƯỚC MỘ EM TRAI Ở NGHĨA TRANG HÀ LẦM : Anh hãy sống / Sống dần dà/ Đừng vội / Bởi / Chúng ta còn phải chết nhiều lần. Câu cuối nhắc tập thơ MỘT CHẤM XANH (giải thưởng Hội Nhà văn) với lời đề từ :Ký hiệu của đời tôi là một chấm xanh xanh ngắt / Ký hiệu của thơ tôi là sự minh bạch trong rắc rối đến khôn cùng / Thế mới là tôi / Thế mới là đời / Thế mới là thơ / Tất cả hòa nhập lại như ánh sáng trộn cùng bụi…

Phùng Khắc Bắc sinh năm 1944 tại thị xã Bắc Giang, là hậu duệ của cụ Trạng Bùng : Phùng Khắc Khoan. Ông mất năm 1990 vì căn bệnh hiểm nghèo, khi đó anh đang công tác tại văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam.

115

Quang DũngĐầu trụi tóc, súng ngửi trời
Hồn thơ vẫn gửi mắt người Sơn Tây
Đôi bờ hoa gạo đỏ hây
Mây đầu ô quyện khói mây sông Hồng

» Xem/Đóng đáp án

QUANG DŨNG (nhà thơ)
Quang DũngCâu 1 nhắc một vài chi tiết trong bài TÂY TIẾN : Sông Mã xa rồi, Tây Tiến ơi / Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi / Sài khao sương lấp đoàn quân mỏi / Mường Lát hoa về trong đêm hơi / Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm / Heo hút cồn mây súng ngửi trời /…/ Anh bạn dãi dầu không bước nữa / Gục lên súng mũ, bỏ quên đời ! / Chiều chiều oai linh thác gầm thét / Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu nguời /…/ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / Quân xanh màu lá dữ oai hùm / Mắt trừng gửi mộng qua biên giới / Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm / Rải rác biên cương mồ viễn xứ / Chiến trường đi chẳng tiếc ngày xanh / Áo bào thay chiếu anh về đất / Sông Mã gầm lên khúc độc hành… Câu 2 nhắc bài ĐÔI MẮT NGƯỜI SƠN TÂY : Em ở thành Sơn chạy giặc về / Tôi cùng chinh chiến cũng ra đi /…/ Vầng trán em vương chiều quê hương / Mắt em dìu dịu buồn Tây Phương/…/ Đôi mắt người Sơn Tây / U uẩn chiều lưu lạc / Buồn viễn xứ khôn khuây… Câu 3 nhắc tập truyện MÙA HOA GẠO và bài thơ ĐÔI BỜ : Thương nhớ ơ hờ thương nhớ ai / Sông xa từng lớp lớp mưa dài / Mặt kia em có sầu cô quạnh / Khi chớm thu về một sớm mai /../ Xa lắc rồi em, người mỗi ngả / Bên này đất nước nhớ thương nhau / Em đi áo mỏng buông hờn tủi / Giòng lệ thơ ngây có dạt dào? Câu 4 nhắc hai tập thơ : BÀI THƠ SÔNG HỒNG và MÂY ĐẦU Ô (Mây ở đầu ô mây lang thang / Ôi chật làm sao / Góc phố phường…)
Nhà thơ Quang Dũng tên khai sinh là Bùi Đình Dậu (tức Diệm) sinh năm 1921 tại Đan Phượng Hà Tây, mất năm 1988 tại Hà Nội.

116

Quang HuyCái gì rồi cũng hư hao
Trừ chim dưới đất và sao trên trời
Cái gì cũng chỉ một thời
Nỗi niềm Thị Nở dở hơi lại còn
Cái gì rồi cũng “ngủ ngon”
Vậy mà dòng suối thức tròn năm canh…

Khiêm nhường người nể vì anh
Làng này đâu thiếu mảnh sành, rượu be…

» Xem/Đóng đáp án

QUANG HUY (nhà thơ)
Quang Huy6 câu đầu nhái theo bài thơ HƯ VÔ của Quang Huy trong đó câu 1 và 3 là nguyên văn của tác giả. Trong 6 câu này nhắc các tập thơ : KỂ CHUYỆN CHIM, SAO VÀ ĐẤT, DÒNG SUỐI THỨC (giải thưởng Hội Nhà văn 1989). Câu thứ tư và hai câu cuối nhắc đến bài thơ NỖI NIỀM THỊ NỞ lối viết vui hóm, tự nhiên được nhiều người thuộc ( Người ta cứ bảo dở hơi/ Mặc cho miệng thế lắm lời thị phi/ Dở hơi là dở hơi gì/ Váy em xắn lệch nhiều khi cũng tình/ Làng này khối kẻ sợ anh / Rượu be với chiếc mảnh sành cầm tay/ Sợ anh chưởi đổng suốt ngày/ Chỉ riêng em biết anh say rất hiền/ Anh không nhà cửa, bạc tiền/ Không ưa luồn cúi, không yên phận nghèo/ Cái tên thơ mộng Chí Phèo/ Làm em đứt ruột mấy chiều bờ ao// Quần anh ống thấp ống cao/ Làm em hồn vía nôn nao đêm ngày/ Khen cho con tạo khéo tay/ Nồi này thì úp vung này chứ sao// Đêm nay trời ở rất cao/ Sương thì đẫm quá, trăng sao lại nhòa/ Người ta… mặc kệ người ta/ Chỉ em rất thật đàn bà với anh// Thôi rồi, đắt lắm tiết trinh/ Hồn em nhập bát cháo hành nghìn năm.
Quang Huy họ Nguyễn, sinh năm 1937, quê Hải Dương. Hiện sống ở Hà Nội.

117

Quang KhảiMái nhà xanh đã xa
Mùa thu chừng đã vợi
Nẻo đường hút gió mưa
Trong sương bà đứng đợi…

Dòng sông cõng con phà
Quả đúng là… thủy lợi!

» Xem/Đóng đáp án

QUANG KHẢI (nhà thơ)
Quang KhảiCâu 1 nhắc tập thơ MÁI NHÀ XANH có thêm chữ đã xa là muốn nhắc đoạn thơ trong bài VƯỜN CŨ : Khuya khoắt cổng gài im phắc ngõ / Trăng hắt vào sân bóng ngã xoài / Nhà cũ, thôi giờ người khác ở / Vườn xưa nay đã vườn nhà ai. Câu 2 nhắc  tập thơ MỘT NỬA MÙA THU. Câu 3 nhắc tập thơ NẺO ĐƯỜNG HÚT GIÓ. Câu 4 nhắc bài thơ SƯƠNG mà theo chúng tôi là bài thơ vào loại đạt nhất  của Quang Khải : Mảnh như khói, bảng lảng trời / Mà sao nhức buốt trên mười ngón tay / Lại như lãng đãng mây bay / Mà run lẩy bẩy vai gầy bà tôi / Trống trơn đồng đất tháng mười / Xạc xào gốc rạ rối bời mạ non / Trông ra thẳng ngõ bồn chồn / Bà lo mùa mới đang còn thấp tho / Tay khum cọng rạ gầy gò / Nhạt nhòa mái tóc che cho hạt mầm. Nói về sương mà thực tình là nói về bà. Hạt mầm bà lo che biết đâu chính là đời cháu? Câu 5 nhắc bài thơ CÕNG : Con phà thì cõng ô tô / Chú bộ đội cõng ba lô lên phà / Bố cõng con kịp tới nhà… / Nhỡ sông không cõng con phà thì sao ?  Với nhiều cách “cõng”, bài thơ rất hợp với tuổi thiếu nhi. Điều đặc biệt  nằm ở câu cuối : Ai cũng biết mà không cần trả lời : nếu dòng sông không cõng con phà thì tất cả phà, chú bộ đội, balô, bố, con… đều chìm nghỉm vào… dòng sông ! Vậy là dòng sông đã có ơn lớn  giúp tất cả vượt qua trở ngại vô cùng nguy hiểm là… chính nó ! Ở câu này, chữ dòng sông cũng còn nhắc truyện ngắn đầu tay (đứa con đầu lòng của nhà thơ) KỶ NIỆM DÒNG SÔNG, một “cái hích ban đầu” rất quan trọng  để một kỹ sư thủy lợi đi theo con đường văn học.
Quang Khải tên khai sinh là Bùi Quang Khải sinh 1945 tại quê Tiền Hải, Thái Bình, hiện công tác tại NXB. Lao Động Hà Nội.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần S-T) 5/5 (1)

118

Sơn NamRừng Cà Mau thoảng thơm hương
Chuyện xưa tình cũ còn vương bóng hình
Tuổi già, hai cõi U Minh
Chim quyên xuống đất mưu sinh miệt vườn.

» Xem/Đóng đáp án

SƠN NAM (nhà văn)
Sơn NamCâu 1 nhắc tập truyện HƯƠNG RỪNG CÀ MAU. Câu 2 nhắc 2 tác phẩm : CHUYỆN XƯA TÌNH CŨ và HÌNH BÓNG CŨ. Câu 3 nhắc 2 tác phẩm : TUỔI GIÀ (tập truyện mới nhất) và HAI CÕI U MINH. Câu 4 nhắc tiểu thuyết CHIM QUYÊN XUỐNG ĐẤT và tập VĂN MINH MIỆT VƯỜN (Đồng bằng sông Cửu Long). Sơn Nam nổi tiếng nhất với tập HƯƠNG RỪNG CÀ MAU, văn phong trở thành đặc trưng cho phong cách văn chương Đồng bằng Nam Bộ : giản dị, trong sáng, có pha chút vui hóm, không hề có ý “làm văn chương”. Gập sách lại rồi, dư âm vẫn như “hương rừng” thoang thoảng còn bâng khuâng man mác mãi trong hồn ta…

Nhà văn Sơn Nam tên khai sinh là Phạm Minh Tày, quê Rạch Giá, Kiên Giang. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

119

Tản ĐàKhối tình con, giấc mộng con
Nước đi chưa lại , non còn ngóng trông
Vua thơ, vua rượu, vua ngông
Bạn bè chú Cuội, vợ chồng duyên ngâu.

» Xem/Đóng đáp án

TẢN ĐÀ (nhà thơ)
Tản ĐàKHỐI TÌNH CON, GIẤC MỘNG CON là tên các tác phẩm của Tản Đà . Câu 2 là một câu thơ trong THỀ NON NƯỚC, câu cuối nhắc bài THÚ ĂN CHƠI với các câu : Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thì có, cửa nhà thì không/ Một đời Nam, Bắc, Tây, Đông/ Bạn bè sum họp , vợ chồng biệt ly. Bài thơ khắc hoạ rất rõ tính cách Tản Đà. Tản Đà được các bạn thơ và người yêu thơ đương thời phong cho ba danh hiệu: “Vua thơ”, “Vua rượu”, “Vua ngông”. Về thơ, ông thâu tóm tinh hoa thơ cổ và thơ ca dân gian và sáng tạo, khai phá nhiều yếu tố mới. Hoài Thanh coi ông là người tạo tiền đề cho phong trào thơ mới. Về rượu : ông là vua trong đời lẫn trong thơ.Ông có khá nhiều thơ hay về rượu và coi rượu như “lý tưởng”, như “ điều kiện sống” : Say sưa nghĩ cũng hư đời/ Hư thời hư vậy, say thời cứ say/ Đất say đất cũng lăn quay/ Trời say mặt cũng đỏ gay ai cười ?. Ông nổi tiếng là bậc thầy trong nghệ thuật ẩm thực. Về ngông : ông cũng ngông cả trong đời lẫn trong thơ. BÁN ÁO MÀ MUA GIẤY VIẾT NGÔNG, CÒN CHƠI,… là những kiệt tác thơ của ông.

Tản Đà tên khai sinh là Nguyễn Khắc Hiếu sinh 1889 và mất năm 1939. Quê Ba Vì Sơn Tây.

120

Tế HanhTắm sông người, nhớ sông quê
Dạo Tây Hồ, ngỡ đã về Hồ Tây
Tuổi hoa niên mới vừa đây
Bão, chiêm bao tỉnh, vắng đầy cả em.

» Xem/Đóng đáp án

TẾ HANH (nhà thơ)
Tế HanhCâu đầu nhắc bài thơ  NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG (Quê hương tôi có con sông xanh biếc / Nước gương trong soi tóc những hàng tre / Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè / Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng / Chẳng biết nước có giữ ngày giữ tháng / Giữ bao nhiêu kỷ niệm giữa dòng trôi? / Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi !). Câu tiếp nhắc bài BÀI THƠ TÌNH Ở HÀNG CHÂU (… Mùa thu đã đi qua còn gửi lại / Một ít vàng trong lá trong cây / Một ít buồn trong gió trong mây / Một ít vui trên môi người thiếu nữ // Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa / Hoa cúc vàng như nỗi nhớ day dưa / Làn nước qua như ánh mắt ai đưa / Cơn gió đến bàn tay ai vẫy /…/ Anh mơ thấy hàng Châu thành Hà Nội / Nước Tây Hồ bỗng hóa nước Hồ Tây). Câu 3 nhắc tập thơ HOA NIÊN (Giải Tự Lực Văn Đoàn). Câu cuối nhắc  bài thơ BÃO (Cơn bão nghiêng đêm / Cây gẫy cành bay lá / Ta nắm tay em / cùng qua đường cho khỏi ngã / Cơn bão tạnh lâu rồi / Hàng cây thắm lại / Nhưng em đã xa xôi / Và cơn bão lòng ta thổi mãi); bài CHIÊM BAO ( Chiêm bao bừng tỉnh giấc/ Biết là em đã xa / Trên tường một tia nắng / Biết là đêm đã qua…) và bài thơ HÀ NỘI VẮNG EM với hai câu kết : Anh theo các phố đó đây/ Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em.

Tế Hanh họ Trần, sinh 1921 quê Quảng Ngãi. Hiện sống ở Hà Nội.

121

Thanh TùngThời-hoa-đỏ thế mà đen
Nhà-thơ-áp-tải vẫn thèm…áp môi!
Tùng-xanh sương điểm trắng rồi
Thời-hoa-đỏ lại hóa thời-đào-hoa!

» Xem/Đóng đáp án

THANH TÙNG (nhà thơ)
Thanh TùngCâu 1 nhắc bài thơ THỜI HOA ĐỎ đã được phổ nhạc, được nhiều thế hệ bạn trẻ yêu thích (…Hoa như mưa rơi rơi / Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi / Như máu ứa một thời trai trẻ /…/ Hoa cứ rơi ồn ào như tuổi trẻ / không cho ai có thể lạnh tanh/ Hoa đặt vào lòng ta những vệt đỏ/ Như vết xước của trái tim…). Ở câu này cũng muốn nhắc thêm một bài thơ tuyệt hay của Thanh Tùng là THẤT TÌNH : Em để lại trong tim tôi một mũi dao / Thỉnh thoảng lại nhấn sâu thêm một chút / Tôi mang nó suốt đời còn em thì không biết / Những mùa thu ứa máu vẫn đi về / Bây giờ mọi thứ thuốc đều vô hiệu / Tôi chữa bằng rượu thôi / Hết rượu rồi tôi uống cả mùa thu / Cả những chiều đông lướt thướt / Xong, lại tự nhấn sâu thêm nữa / Mũi dao ngày xưa / Nhưng có sao khi trái tim tôi cũng thành bình rượu / Cả mũi dao cũng đã say mềm. Câu 2 nhắc bài NHÀ THƠ ÁP TẢI của nhà thơ Trần Nhuận Minh viết tặng Thanh Tùng (…Bạn làm nghề áp tải/ Đường bộ và đường sông/…/ Đất nước có một thời/ Kẻ gian nhiều như nấm/ Không ngờ một nhà thơ/ Lại sống bằng nắm đấm). Câu 3 : Nhà thơ Thanh Tùng năm nay đã gần tới tuổi “Cổ lai hy”, ông sinh năm 1935 ( ở đây Tùng Xanh là Thanh Tùng ). Nội dung câu 4 : Tác giả lại mới cưới vợ mấy năm nay. Sống rất hạnh phúc, yêu rất nồng nàn, làm được rất nhiều thơ. Nhà thơ vừa đạt giải nhì trong cuộc thi thơ báo Văn Nghệ cuối thiên niên kỷ và tuyển thơ riêng đầu tiên đến giờ mới ra đời, mang tên THỜI HOA ĐỎ.
Nhà thơ Thanh Tùng tên khai sinh là Doãn Tùng, Quê Nam Định. Hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh.

122

Thái Thăng LongÁm ảnh rừng Sác năm nào…
Tiềm năng thức dậy, dâng trào nguồn thơ
Hỏi quê : rằng Phủ Tây Hồ
Thời gian huyền thoại càng phô vẻ hồng
Trứng rồng lại nở ra rồng
Cha thi con họa. Thăng Long chính nòi!

» Xem/Đóng đáp án

THÁI THĂNG LONG (nhà thơ)
Thái Thăng LongHai nguồn cảm hứng nuôi dưỡng thơ Thái Thăng Long : những năm tháng trực tiếp chiến đấu trong quân đội và tình yêu với nơi chôn rau cắt rốn : Thủ đô Hà Nội. Câu 1 nhắc tập thơ  ÁM ẢNH và tiểu thuyết NGƯỜI NHÁI RỪNG SÁC viết về anh và đồng đội trong đơn vị trinh sát. Câu 2 nhắc tập thơ ĐÁNH THỨC TIỀM NĂNG. Câu 3 nhắc tập thơ CHIỀU PHỦ TÂY HỒ với bài thơ cùng tên được Phú Quang phổ nhạc khá nổi tiếng : …Bất giác chiều như muốn chậm đi / Gió trên sóng / Đôi thuyền câu thả lưới / Mênh mông sương khói / Hồ Tây sóng vỗ Phủ Tây Hồ / Huyền thoại và giấc mơ/…/ Em khói hương thanh thản một phần đời / Ta khói hương để khỏi chơi vơi… Câu 4 nhắc tập thơ THỜI GIAN HUYỀN THOẠI. Hai câu cuối nhắc bút danh Thái Thăng Long và cho biết ông có người con trai đầu là Thái Phương Nam từ bé đã bộc lộ là “thần đồng hội họa”, hiện đang học đại học Kiến Trúc.

Thái Thăng Long tên khai sinh là Thái Gia Trí, sinh năm 1950 tại Ba Đình, Hà Nội. Hiện đang công tác ở chi nhánh NXB. Thanh Niên tại TP. Hồ Chí Minh.

123

Thạch QuỳVới con chưa nói hết lời
Thành Vinh bom dội, đất trời nghiêng chao
Trăm năm trong cuộc lộn nhào
Đá Quỳ Sơn khắc dáng cao không quỳ!

» Xem/Đóng đáp án

THẠCH QUỲ (nhà thơ)
Thạch QuỳCâu đầu nhắc bài thơ khá nổi tiếng của Thạch Quỳ : VỚI CON (… Con ơi con, nàng Bạch Tuyết trong mơ / Không thể nào yêu con thay mẹ được / Vì thế nên, nếu khuy áo của con bị đứt / thì nói lên để mẹ khâu cho / / Con ơi con, trái đất thì tròn / Mặt trăng sáng cũng tròn như đĩa mật / Tất cả đấy đều là sự thật / Nhưng chiếc bánh đa tròn, điều ấy thật hơn ! /…/ Cha mong con lớn lên chân thật / Yêu mọi người như cha đã yêu con !…). Câu 2 nhắc hai bài thơ hay: GẠCH VỤN THÀNH VINH (…Gạch vụn ùa nhau ôm lấy cột cờ;  Gạch xôn xao cựa quậy những sắc hồng…) và  GOM NHẶT TRÊN BÃI BOM B52 ( …Cứ lẩn thẩn là đôi tay của bà/ Có gì đấy mà bàn tay run rẩy?/ Mảnh sành vỡ khó chắp hình chiếc vại / Bà thẩn thơ tiếc cả nhút cà…). Câu 3 là câu thơ của Thạch Quỳ trong bài  RƯỢU LÀNG VANG ( tặng Nguyễn Duy) (… Giả say thơ phú ậm ừ / Thiệt say ngã cái đứ đừ bờ ao/ Trăm năm trong cuộc lộn nhào/ Đầu va xuống đất , chân chao trong trời…). Câu cuối nhắc bút danh của Thạch Quỳ ( đá núi Quì Sơn trên quê nhà thơ tên thật là Vương Đình Huấn) . Bài thơ muốn ghi lại thời kỳ chiến tranh ác liệt trên quê hương Xô Viết Nghệ Tĩnh bất khuất kiên cường.
Thạch Quì vốn xuất thân là giáo viên Toán. Ông có nhiều bài thơ kết cấu chặt gọn như công thức toán học. Ví như GA-LI-LÊ : Trái đất tròn – Galilê phát hiện / Một mình ông, chỉ một mình thôi / Ở thời ấy nếu đưa tay biểu quyết / Cả hành tinh chống lại một con người.
Nhà thơ Thạch Quỳ sinh năm 1941 tại Đô Lương, Nghệ An. Hiện sống ở Vinh.

124

Thế LữHổ nhớ rừng đã bị nguời chặt đốt
Gỗ đi đường thiên lôi, cây hóa máu, hóa vàng
Hổ bách thú đã thành cao hổ cốt
Mấy vần thơ còn mãi với thời gian?

» Xem/Đóng đáp án

THẾ LỮ (nhà thơ)
Thế LữCâu đầu nhắc bài thơ nổi tiếng nhất của Thế Lữ : NHỚ RỪNG : Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt / Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua  / Khinh lũ người kia ngạo mạn ngẩn ngơ / Giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm / Nay sa cơ bị giam cầm tù hãm / Để làm trò lạ mắt, thứ đồ chơi / Chịu ngang bầy cùng bọn gấu dở hơi / Với cặp báo chuồng bên vô tư lự /…/ Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối / Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?/ Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn  / Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới ?/ Đâu những bình minh cây xanh nắng gội / Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng / Đâu những chiều lênh láng máu say rừng / Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt / Để chiếm lấy riêng ta phần bí mật? /- Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu?… Câu 2 nhắc tập truyện kinh dị BÊN ĐƯỜNG THIÊN LÔI và tiểu thuyết VÀNG VÀ MÁU. Câu cuối nhắc tập MẤY VẦN THƠ.

Thế Lữ tên khai sinh là Nguyễn Thứ Lễ sinh năm 1907 tại Hà Nội (quê gốc Bắc Ninh), mất năm 1989 tại Hà Nội.

125

Thi HoàngÔng hoàng thơ chính là tao
Hỡi bầy đom đóm mơ sao trên trời!
Gọi qua vách núi khản hơi
Vặn mình, rút ruột một đời thực mơ…
Bóng ai gió tạt vào thơ

» Xem/Đóng đáp án

THI HOÀNG (nhà thơ)
Thi HoàngCâu 1 nhắc bút danh Thi Hoàng (ông hoàng thi ca) của nhà thơ Hoàng Văn Bộ. Câu 2 nhắc tập thơ ĐOM ĐÓ VÀ SAO (Đất nước này bìu díu thương tôi / Dù vẫn biết tôi là con đom đóm / Tôi từng chán rồi lại thôi không chán / Lại hổn hển lập lòe cho mảnh bát và vỏ sò đẹp hơn / Ai thầm thì vào tai tôi độ lượng : / Đến mặt trời kia cũng sáng luân phiên một nửa địa cầu). Câu 3 nhắc trường ca GỌI NHAU QUA VÁCH NÚI (Giải thưởng Hội Nhà văn). Câu 4 nhắc hai câu thơ rất hay Thi Hoàng viết thời chống Mỹ : cây cứ biếc như vặn mình mà biếc / Trời cứ xanh như rút ruột mà xanh. Câu cuối nhắc tập thơ BÓNG AI GIÓ TẠT. Tập thơ mới nhất của tác giả, gây nhiều dư luận chủ yếu là khen ngợi. Tập thơ thể hiện độ chín muồi trong cảm xúc và sự trải nghiệm cuộc đời của Thi Hoàng. Xin trích một vài đoạn : …Chợt ngẫm thấy trẻ con là giỏi nhất / Làm được buổi chiều rất giống ban mai / Thánh cũng hân hoan. Đố ai biết được / Ngài ở trong kia hay ở ngoài này (NHỮNG ĐỨA TRẺ CHƠI TRƯỚC CỬA ĐỀN). Hay đây : Anh như hạt cát cứ chằm chặp bắt trời xanh chú ý / Nếu là trời, anh để ý hạt cát nào trên bãi cát lì / Chắc là cái hạt vu vơ gió thổi lọt vào trong mắt / Tìm cách lấy ra rồi… thì… là… mà để vứt nó đi (KHẼ BIẾT). Hay đoạn này là trích từ bài NGƯỠNG MỘ HOA SEN : …Hoa sen không định thơm / Không định thơm thì mới thơm đến thế / Rất tự nhiên là ta nhớ mẹ / Mẹ quá xa rồi !/ Để ta thành con cái của làn hương…Đọc thật sướng. Tuy nhiên chúng tôi cứ lờ mờ cảm giác như có “bóng ai tạt” vào các trang thơ (Chế Lan Viên chăng?).

Thi Hoàng sinh năm 1943 tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng. Hiện công tác tại Hội Văn Nghệ Hải Phòng.

126

Thu BồnVề Lồ Ồ với ễnh ương
Quên tên trăm mối tình thương thủa nào
Hơn người nhờ có chim Ch’rao
Ba-zan khát đám mây nào mây mưa?
Nguyện theo truyền thống người xưa

» Xem/Đóng đáp án

THU BỒN (nhà thơ)
Thu BồnCâu 1 nói nhà thơ Thu Bồn từ lâu đã rời phố phường về khu suối Lồ Ồ ngoại ô Biên Hòa lập trang trại ở đó và có viết bài ĐẤT KÊU : Uênh uềnh oong… uênh uềnh oong… / Sau cơn mưa đất kêu vang từng hồi / Tiếng kêu khan vọng núi đồi / Tiếng kêu như thể một thời hồng hoang / Lấm lem trời đất hỗn mang /…/ Tôi con cua lấm trường chinh / Đào hang ổ để giấu mình suối khe… Câu 2 nhắc tập 100 BÀI THƠ TÌNH NHỜ EM ĐẶT TÊN. Xin dẫn một đôi bài “Thu Bồn” nhất : bài 23 : Tia chớp trong mắt em sáng lóe / Làm sao anh giữ được cơn giông; bài 27 : Thương ai con mắt lim dim / Em ơi đừng ngủ tiếng chim ngập vườn / Em-con ngựa chứng không cương / Anh-tên kỵ mã vết thương đầy mình; bài 40 : Anh yêu em giống con bò mang chiếc ách / Nên trọn đời tiếng rống vẫn còn cong. Câu 3 nhắc trường ca BÀI CA CHIM CHỜ-RAO, tác phẩm nổi tiếng nhất của tác giả. Câu 4 nhắc trường ca BAN-ZAN KHÁT và tiểu thuyết NHỮNG ĐÁM MÂY MÀU CÁNH VẠC. Câu cuối muốn nhắc một giai thoại : khi nhà thơ có ý định ly dị người vợ đầu tiên của mình, một bạn văn khuyên anh : “Cậu đã có 2 con rồi còn ly dị làm gì!”; Thu Bồn nói vẻ vừa ngạc nhiên vừa bực mình : “Cậu không nhớ tổ tiên ta có truyền thống về ly dị à? Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ đẻ 100 trứng nở 100 con mà còn ly dị : 50 đứa theo cha lên rừng, 50 đứa theo mẹ xuống biển. Tớ mới có 2 đứa…”. “Truyền thống” này sau nhiều người nhắc lại. Nhưng “bản quyền phát minh” theo chúng tôi phải thuộc nhà thơ Thu Bồn.

Thu Bồn tên khai sinh là Hà Đức Trọng, sinh năm 1935 tại Điện Bàn, Quảng Nam.

127

Thy NgọcMê cây từ tuổi thơ ngây
Bốn “nhà” mà lại thiếu “cây” mua nhà!
Nay trời-một –khoảng về ta
Nghêu ngao với Tý, cùng bà thảnh thơi…

» Xem/Đóng đáp án

THY NGỌC (nhà thơ)
Thy NgọcCâu 1 nhắc 2 tập TUỔI THƠ NGÂY (truyện), KHÚC CA THƠ ẤU (thơ) và bài thơ thuộc loại tâm đắc nhất của nhà thơ Thy Ngọc là CÂY : Cây có ngàn mắt lá / Mắt nào cũng tươi xanh / Cây có trăm tay cành / Thích dang tay đón gió / Tâm hồn cây rất ngỏ / Chim thường đến tâm tình / Sương đêm gặp bình minh / Hay trao cây chuỗi ngọc…/ Sao hôm bao giờ mọc / Cũng đùa nấp sau cây / Bé có cuốn sách hay / Ngồi dưới cây đọc mãi… Câu 2 : Thy Ngọc không chỉ là nhà thơ, ông còn là nhà văn (đã có khoảng vài chục tập truyện ngắn và truyện dài), nhà báo (viết rất nhanh nhạy, kịp thời đặc biệt là những vấn đề về nhà trường, đoàn đội…), họa sĩ (vẽ rất nhiều bìa sách, phụ bản, minh họa cho sách báo, đặc biệt là sách của NXB. Kim Đồng). Nhưng rất nhiều năm phải sống trong tình trạng tạm bợ, chật chội trong cơ quan thường trú của NXB. Câu 3 và 4 nhắc 2 tác phẩm : CÓ MỘT KHOẢNG TRỜI (tập truyện) và CU TÝ (tập truyện), đồng thời cũng tỏ lời chúc mừng nhà thơ Thy Ngọc đã có được cơ ngơi khá khang trang.

Nhà thơ Thy Ngọc (hay Thy Thy Tống Ngọc) tên khai sinh là Nguyễn Ngọc (Thy là tên của phu nhân nhà thơ), sinh năm 1925 tại quê gốc Quảng Ninh. Hiện ông sống và viết tại Tp.Hồ Chí Minh.

128

Tô HoàiHết quê nhà lại quê người
Chân mình cát bụi,  còn cười chân ai
Phiêu lưu dế vẫn đi hoài
Bỏ quên o chuột đợi ngoài đảo hoang.

» Xem/Đóng đáp án

TÔ HOÀI (nhà văn)
Tô HoàiTrong bài nhắc tên các tiểu thuyết của tác giả: QUÊ NHÀ, QUÊ NGƯỜI, CÁT BỤI CHÂN AI, DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ (tên tập sách đã gần như đồng nhất với tên tác giả). Câu cuối nhắc tên tập truyện O CHUỘT và ĐẢO HOANG (truyện về An Tiêm).
Nhà văn Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh năm 1920 tại Nghĩa Đô, Hà Nội. Hiện sống ở Hà Nội.

129

Tố HữuTim từ  ấy có mặt trời
Theo ông cụ mắt sáng ngời, ta đi…
Đường ra trận lắm hiểm nguy
Thương bầm, thương nước ngại gì xông pha
Tim ba phần máu và hoa
Trường Sơn gió lộng, ngân nga tiếng đờn.

» Xem/Đóng đáp án

TỐ HỮU (nhà thơ)
Tố HữuCâu đầu nhắc tập thơ nổi tiếng của Tố Hữu là TỪ ẤY (Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân lý chói qua tim / Hồn tôi là một vườn hoa lá / Rất đượm hương và rộn tiếng chim… ). Câu 2 nhắc bài TA ĐI TỚI (Ta đi giữa ban ngày / Trên đường cái, ung dung, ta bước /…/ Đẹp vô cùng Tổ Quốc ta ơi ! / Rừng gió, đồi chè, đồng xanh ngào ngạt / Nắng chói sông Lô / hò ô tiếng hát / Chuyến phà rào rạt bến nước Bình Ca /…/ Chúng ta con một cha, nhà một nóc / Thịt với xương tim óc dính liền…). Ở câu 2 này cũng muốn nhắc tập thơ THEO CHÂN BÁC và tập VIỆT BẮC. Tố Hữu có nhiều câu thơ, bài thơ hay về Bác Hồ. Ví như  : Tôi viết bài thơ cho các con / Mai sau được thấy Bác như còn / Phơ phơ tóc bạc, chòm râu mát / Đôi dép mòn đi in dấu son…(THEO CHÂN BÁC); Bác để tình thương cho chúng con / Một đời thanh bạch, chẳng vàng son / Mong manh áo vải, hồn muôn trượng / Hơn tượng đồng phơi những lối mòn… (BÁC ƠI !); Ôi người cha, đôi mắt mẹ hiền sao / Giọng của người không phải sấm trên cao / Ấm từng tiếng thấm vào lòng mong ước / Con nghe Bác tưởng nghe lời non nước / Tiếng ngày xưa và cả tiếng mai sau… (SÁNG THÁNG NĂM); Nhớ ông cụ mắt sáng ngời / Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường / Nhớ người những sáng tinh sương / Ung dung yên ngựa trên đường suối reo / Nhớ chân người bước lên đèo / Người đi rừng núi trông theo bóng người… (VIỆT BẮC). Hình tượng Bác Hồ được Tố Hữu tạc trong văn học vừa giản dị gần gũi, vừa cao quí thần tiên, đẹp đúng như con người Bác, đẹp đúng như tấm lòng Bác dành cho dân cho nước, đẹp đúng như lòng nhân dân kính yêu Bác. Câu 3 nhắc tập RA TRẬN. Câu 4 nhắc bài BẦM ƠI : Bầm ơi có rét không bầm ? / Hiu hiu gió núi, lâm thâm mưa phùn / Bầm ra ruộng cấy bầm run / Chân lội xuống bùn, tay cấy mạ non /…/ Con đi trăm núi ngàn khe / Không bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm /…/ Con ra tiền tuyến xa xôi / Thương bầm thương nước cả đôi mẹ hiền /…/ Giặc tan con lại sớm hôm với bầm… Câu 5 nhắc tập MÁU VÀ HOA. “Tim ba phần…” là nhắc đoạn thơ về tình yêu nam nữ khá hay và khá hiếm của Tố Hữu (trích từ BÀI CA XUÂN 61) : Mà nói vậy trái tim anh đó / Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ / Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều / Phần cho thơ và phần để em yêu / Em xấu hổ : thế cũng nhiều anh nhỉ ? / Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí / Dắt nhau đi cho tới sớm mai nay / Anh đón em về, xuân cũng đến trên tay…Câu cuối nhắc tập GIÓ LỘNG, tập MỘT TIẾNG ĐỜN (giải thưởng văn học Á-Phi). Từ “Trường Sơn” là nhắc các câu thơ của Tố Hữu : Trường Sơn Đông nắng, Tây mưa / Ai chưa tới đó thì chưa hiểu mình; Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước / Mà lòng phơi phới dậy tương lai.
Tố Hữu có tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành (cũng hay gọi là Lành), sinh năm 1920, quê gốc Quảng Điền, Thừa Thiên Huế. Hiện đang ở Hà Nội.

130

Tự ĐứcĐược làm vua cứ làm vua
Xem ra chỉ chuyện hơn thua một thời
Áo tàn vẫn để dành hơi?
Lệ ông xưa ướt mắt người hôm nay!

» Xem/Đóng đáp án

TỰ ĐỨC (nhà thơ)
Tự ĐứcTự Đức là ông vua giỏi chữ hay thơ nhất trong lịch sử nước ta. Ông làm thơ chủ yếu bằng chữ Hán với nhiều chú giải điển tích khá uyên thâm và do đó cũng khá… nặng nề. Ông nổi tiếng với bài thơ KHÓC THỊ BẰNG : Ới Thị Bằng ơi đã mất rồi  / Ới tình ớ nghĩa, ớ duyên ơi ! / Mưa hè nắng chái oanh ăn nói / Sớm ngõ trưa sân liễu đứng ngồi. / Đập cổ kính ra tìm lấy bóng / Xếp tàn y lại để dành hơi / Mối tình muốn dứt càng thêm bận / Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
Tự Đức “tên cúng cơm” là Nguyễn Hồng Nhậm, sinh năm 1847, mất năm 1883.

131

Trần Bạch ĐằngBài ca khởi nghĩa cất lên
Âm vang Hưng Đạo bình Nguyên dựng cờ
Vào xuân, đất nước thành thơ
Ván bài lật ngửa đến giờ vẫn chơi

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN BẠCH ĐẰNG (nhà văn)
Trần Bạch ĐằngTrong bài thơ nhắc tên các tác phẩm chính của Trần Bạch Đằng : BÀI CA KHỞI NGHĨA (tập thơ), TRẦN HƯNG ĐẠO BÌNH NGUYÊN (kịch) (Giải thưởng Cửu Long 1951), ĐẤT NƯỚC LẠI VÀO XUÂN (Tập thơ), VÁN BÀI LẬT NGỬA (Truyện dài nhiều tập sau chuyển thể thành kịch bản phim nhiều tập).

Nhà văn Trần Bạch Đằng tên khai sinh là Trương Gia Triều, sinh 1926 tại Rạch Giá, quê gốc Kiên Giang. Hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh.

132

Trần Dạ TừThuở làm thơ yêu em
Tự tình ca – nhớ mãi đêm ngỏ lời
Yêu em yêu cả loài người
Cái hôn ngày ấy… Cả cười thịt da!

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN DẠ TỪ (nhà thơ)
Trần Dạ TừCâu 1 nhắc tập thơ THUỞ LÀM THƠ YÊU EM (… Tuổi bắt đầu thấy bọt bèo trên sông / Thấy cuồng nộ trên biển / Thấy mơ ước trên trời / Thấy thèm muốn ngây dại trên cây cỏ / Tuổi bắt đầu / Biết yêu em làm thơ / Và làm thơ yêu em…Thuở làm thơ yêu em / Trời mưa chưa ướt áo / Hoa cúc vàng chân thềm / Gió may lưng bờ dậu…). Câu 2 nhắc bài TỰ TÌNH CA (Tại sao mặt trời chọn tôi để rực rỡ / Tại sao mặt trăng chọn tôi để tình tứ / Tại sao những vì sao chọn tôi để long lanh / Tại sao những bông hoa chọn tôi để nở / và tại sao, / trong giấc mơ mãi cuối trời kia / Em chọn tôi để nhớ ) và tập thơ TỎ TÌNH TRONG ĐÊM. Câu 3 nhắc tập thơ YÊU EM, YÊU LOÀI NGƯỜI (Tôi sẽ viết một bài thơ dài / Bằng cả đời tôi / Để yêu em, yêu loài người / Và tri ân sự sống /…/ Một bài thơ mở đầu và chấm dứt / Bằng lời ngợi ca). Câu 4 nhắc bài thơ NỤ HÔN ĐẦU : Lần đầu ta ghé môi hôn / Những con ve nhỏ hoảng hồn kêu vang / Vườn xanh cỏ biếc trưa vàng / Ngàn cây phượng vĩ huy hoàng trổ bông / Môi em nở vạn đóa hồng / Hôn em trời đất một lòng chứa chan / Tiếng cười đâu đó dòn tan / Nụ hôn ngày đó miên man một đời / Hôm nay chợt nhớ môi nguời / Tiếng ve ngày cũ rụng rời tay anh / Trưa vàng, cỏ biếc vườn xanh / Môi ai chín đỏ trên cành phượng xưa. Câu 4 cũng còn muốn nhắc bài BUỔI HẸN ĐẦU : Biết yêu người thủa mười lăm / Trong vườn ngây dại, ta nằm xót xa / Cỏ cây ồ ạt ra hoa / Chùm môi bông phượng la đà tới lui / Khi không da thịt cả cười / Cùng ta trộn lẫn đất trời với em.

Trần Dạ Từ (tên khai sinh là Lê Hà Vinh) sinh năm 1941 tại Bắc Ninh, hiện đang sống ở Mỹ.

133

Trần Đăng KhoaSinh ra từ góc sân nhà
Lớn nhờ hạt gạo làng ta ngày ngày
Từng ra hải đảo đón mây
Phong trần kiếp lính, dạn dầy đời văn
Tên, hình đài phát, báo đăng
Đủ khoa văn võ, đủ bằng đông tây
Ngồi bên cửa sổ máy bay
Tìm ma đối thoại, vẫy tay chào người?

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN ĐĂNG KHOA (nhà thơ)
Trần Đăng KhoaTỪ GÓC SÂN NHÀ EM, tập thơ đầu xuất hiện tên tuổi Trần Đăng Khoa. HẠT GẠO LÀNG TA là một bài thơ vào loại hay nhất của Trần Đăng Khoa và của thơ ca Việt Nam thời đánh Mỹ. Câu 3 nhắc bài ĐỢI MƯA TRÊN ĐẢO SINH TỒN từng đoạt giải A báo Văn Nghệ (… Ôi, ước gì được thấy mưa rơi / Chúng tôi sẽ trụi trần nhảy choi choi trên cát / Giãy giụa tơi bời trên cát / Như con cá rô rạch nước đón mưa rào / Như ếch nhái uôm uôm khắp đảo /…/ Ôi sinh tồn, hòn đảo thân yêu / Dẫu chẳng có mưa chúng tôi vẫn sinh tồn trên mặt đảo / Đảo vẫn sinh tồn trên đại dương gió bão / Như đá vững bền, như đá tốt tươi..). Trần Đăng Khoa tốt nghiệp trường sĩ quan ở Việt Nam và trường đại học  Gorki (Nga). BÊN CỬA SỔ MÁY BAY là tập thơ “người lớn” đầu tiên của Trần Đăng Khoa (…Từ cửa sổ máy bay / Nhìn về mặt đất / Bỗng nhiên con sửng sốt / Lại gặp một vòm xanh thăm thẳm của bầu trời / Mây trắng đi lững thững dưới kia / Như những cái nấm lơ lửng / Nhưng con biết đằng sau màu mây ấy / Là một thiên đường có thật / Ở đấy có ngôi nhà gianh vách trát đất / Là lâu đài của mẹ con mình…). Câu cuối nhắc CHÂN DUNG VÀ ĐỐI THOẠI, tập phê bình văn học nổi tiếng, một hiện tượng văn học nổi bật của năm 1998 của Trần Đăng Khoa (có đoạn nói chuyện với ma rất độc đáo) và tập sách mới nhất NGƯỜI THƯỜNG GẶP . Bài thơ tóm tắt quá trình Trần Đăng Khoa lớn lên trong sự nghiệp văn học.

Trần Đăng Khoa sinh năm 1958 tại làng Điền Trì, xã Quốc Tuấn, Nam Sách, Hải Dương. Hiện công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội Hà Nội.

134

Trần Đức TiếnTheo thằng Cúp tới Vũng Tàu
Linh hồn mất cắp sợ đâu bụi trần
Nhập hồn biển hóa văn nhân
Hết xoay người lớn lại vần thiếu nhi
Đã thi là nhất… định nhì
Đêm về làm bão, ngày đi nhận tiền.

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN ĐỨC TIẾN (nhà văn)
Trần Đức TiếnTrong bài nhắc một số tác phẩm của Trần Đức Tiến : THẰNG CÚP, LINH HỒN BỊ ĐÁNH CẮP (tiểu thuyết), BỤI TRẦN (tiểu thuyết), HỒN BIỂN (tập truyện), BÃO ĐÊM (tập truyện). Trần Đức Tiến rất hay được giải cao trong các cuộc thi truyện cho cả người lớn lẫn thiếu nhi. Nhưng quá hay được giải nhì nên bè bạn hay đùa gọi anh là “Tiến nhì”

Trần Đức Tiến sinh năm 1953 tại Nam Hà. Hiện là chủ tịch hội Văn nghệ Bà Rịa Vũng Tàu.

135

Trần Hữu NghiễmĐể đời một khúc thương yêu
Để trong bè bạn rất nhiều xót xa
Hỡi ơi!… Mây trắng bay qua
Mới vừa nhập cuộc đã ra vô cùng.

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN HỮU NGHIỄM (nhà thơ)
Trần Hữu NghiễmTrong bài nhắc tên các tập thơ của Trần Hữu Nghiễm : KHÚC THƯƠNG YÊU (tập thơ cuối), MÂY TRẮNG CÒN BAY (tập thơ tác giả đề là sẽ in) và tập VÔ CÙNG, tập thơ đầu in tại nhà NXB “Nhập cuộc” (Huế). Tác giả người Huế, công tác tại Cà Mau, mất khi còn trẻ vì bệnh hiểm nghèo (1999) trong khi sáng tác bắt đầu khởi sắc. Xin chép ra đây bài thơ cuối cùng trong tập thơ cuối cùng của tác giả, bài ÂN PHÚC : Ở núi ở rừng thưong rừng núi / Ai ngờ các bạn nhớ thương tôi / Tôi ở trong này buồn bã lắm / Tấm thân còn mang nặng nợ đời / / Cơn bệnh dài ngày chưa chịu dứt / Bao nhiêu tục lụy vẫn còn vương / Câu thơ viết nửa chừng… đau nhức / Ngồi nghe mình nhớ chín mười phương / / Nhiều khi trong nỗi buồn hiu hắt / Nghĩ tới ngày kia mây trắng bay / Tình bạn tình thơ như ân phúc / Tạ ơn Trời Đất vẫn cao dày.

Trần Hữu Nghiễm sinh năm 1950. Khi mất, ông đang công tác tại Cà Mau.

136

Trần Mạnh HảoỒ! Hoa vừa nở vừa đi!
Chuồn chuồn cắn rốn dễ gì biết bơi
Mình anh trong một bầu trời
Đợi cho thơ phản thơ rồi phản phê.

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN MẠNH HẢO (nhà thơ)
Trần Mạnh HảoHOA VỪA ĐI VỪA NỞ là tên tập thơ viết cho thiếu nhi rất xuất sắc của Trần Mạnh Hảo. CHUỒN CHUỒN CẮN RỐN cũng là tập thơ viết cho thiếu nhi của anh đã nhận giải thưởng của Hội Nhà Văn Việt Nam. MÌNH ANH TRONG MỘT THẾ GIỚI là một trong những tập thơ tiêu biểu của nhà thơ. THƠ PHẢN THƠ là tập phê bình văn học của Trần Mạnh Hảo đã được Hội Nhà Văn Việt Nam trao giải thưởng. Trong tập này, nhà thơ đã xuất sắc bảo vệ chân giá trị của nền thi ca cách mạng trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, đồng thời phản bác lại cái gọi là “thơ hiện đại” rất xa lạ với thơ và với bản sắc dân tộc. PHÊ BÌNH PHẢN PHÊ BÌNH cũng là tác phẩm của Trần Mạnh Hảo, nổi tiếng đến mức người ta phải nghi hoặc hỏi hẳn lên báo chí : phải chăng công trình này do một tập thể các giáo sư và các nhà khoa học tầm cỡ viết chung và Trần Mạnh Hảo là người đứng tên (…?!).

Sau nhiều tập thơ và trường ca, Trần Mạnh Hảo lại vừa cho in Thơ LỤC BÁT TRẦN MẠNH HẢO làm ta nhớ đến TỨ TUYỆT TRẦN MẠNH HẢO (gồm 200 bài ). Xin dẫn ra đây một bài tứ tuyệt và một bài lục bát. Lý do dẫn là vì sẵn thuộc mà nó lại ngắn. ĐÊM NGẮN : Thức đêm mới biết đêm còn ngắn / Chỉ có em thôi một thật dài / Muốn hôn từ gót lên vầng trán / Mới đến giữa chừng đã sớm mai; TRÁI TIM MẮC CẠN : Dòng đời con nước vèo qua / Trái tim mắc cạn trong tà áo bay / Cỏn con một sợi lông mày / Mà đem cột trái đất này vào anh.

Trần Mạnh Hảo sinh năm 1949 (Phu nhân Tôn Nữ Giáng Tiên đính chính là 1947), quê Nam Định. Hiện ở tại TP. Hồ Chí Minh.

137

Trần Nhật Thu Từ nơi giáp mặt ngày nào
Hoa hồng gió mặn, cồn cào lòng ta
Tím hoa muống biển quê nhà
Giữa Sài Gòn lại gặp hoa bí vàng…
Dẫu rằng trăm sắc ngàn hương
Vẫn không che lấp bức tường vỡ đôi

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN NHẬT THU (nhà thơ)
Trần Nhật Thu
3 câu đầu nhắc 3 tập thơ của Trần Nhật Thu : NƠI GIÁP MẶT, HOA HỒNG GIÓ MẶN, BÃO VÀ HOA MUỐNG BIỂN. Câu 4 nhắc tập chân dung và phê bình văn học : GIỮA SÀI GÒN BỖNG GẶP HOA BÍ VÀNG. Hai câu cuối nhắc bài thơ MỘT BỨC TƯỜNG VỠ ĐÔI tác giả xúc động trước thực tế ác liệt và sự hy sinh vì nghĩa lớn của nhân dân Quảng Bình quê mình trong những năm chống Mỹ và trước câu thơ của người thầy dạy văn Lương Duy Cán (Hà Nhật) : Một bức tường vỡ đôi / Nửa bức tường vỡ đôi… Bài thơ này của Trần Nhật Thu đã được giải thưởng báo văn nghệ : Ngôi nhà mấy lần bom phá / Vẫn còn lại bức tường vỡ đôi / Đắp dày thêm căn hầm trú ẩn / Che gió mái lều nương tạm / Bóng mát bức tường ùa xuống chỗ con chơi… / … / Đêm nay / Trong lửa chớp sáng trời / Chị đập nốt bức tường lát cho con đường ra trận.
Trần Nhật Thu vừa in tập TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG CHIẾN TRANH –một sự lướt nhìn lại nẻo đường văn học của mình.

Trần Nhật Thu tên khai sinh là Trần Viết Hỷ, sinh năm 1945, quê Đồng Hới, Quảng Bình. Hiện cư ngụ tại Tp. Hồ Chí Minh.

138

Trần Nhuận MinhHát trong một đội đồng ca
Lúc đầu cứ tưởng : đấy là tình yêu!
Gió xoay, nâng bổng cánh diều
Trồng hoa cỏ lại thu nhiều trái ngon
Giọt phù sa – một chấm  son
Ngỡ ngàng nhìn lại : xanh non lúa mầu!

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN NHUẬN MINH (nhà thơ)
Trần Nhuận MinhThơ Trần Nhuận Minh vào những năm 70 (TK 20) về trước còn lẫn trong một tình trạng chúng ta hay gọi là “thơ minh họa”, tập thể các nhà thơ được Xuân Diệu gọi là “một dàn đồng ca”. ĐẤY LÀ TÌNH YÊU là tập thơ đầu của tác giả in vào giai đoạn này. Vào những năm 80 (TK 20) bắt đầu từ NHÀ THƠ ÁP TẢI rồi HOA CỎ, thơ ông thực sự lột xác, trở thành một hiện tượng trong hoạt động văn học của đất nước. Với “phong cách Đỗ Phủ”, Trần Mạnh Hảo gọi ông là “Người bay bằng chân” , Nguyễn Bùi Vợi nói “Sau 20 năm thơ Trần Nhuận Minh thực sự lật cánh”… Không thể kể hết lời khen ngợi đối với tập NHÀ THƠ VÀ HOA CỎ đã được tái bản hàng chục lần. Gần đây ông lại có tập GIỌT PHÙ SA VẠN DẶM cũng lại thêm một lần trăn trở đổi mới trên cái nền truyền thống, lại thêm một vụ mùa thu hoạch của đời thơ ông.
Xin chọn hai bài từ hai tập thơ sau của ông (Lý do chọn chỉ vì nó ngắn) : Bài NHỚ MỘT ĐẢNG VIÊN TRONG CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT : Những nông dân vừa được anh giải phóng / Đã lôi anh đến cạnh thùng vôi / Họ bắn anh. Nhưng không bắn trúng / Tay họ chỉ quen cầm cuốc thôi / / Nhát cuốc đầu tiên. Mặt nhòe máu tươi / Phút hiểm nguy vẫn tin vào Cách Mạng / Anh kêu lên tiếng kêu đứt quãng / – CÁC ĐỒNG CHÍ… / ƠI !
Bài ĐẤT MŨI (tặng Nguyễn Thanh và Lâm Quang Thắng) :… Tôi nâng giọt phù sa vạn dặm / Phiêu bạt ngàn năm trong kênh rạch mỡ màu / Để một thoáng, đất trời mộng ảo / Sinh thành cho TỔ QUỐC Mũi Cà Mau /…/ Cây đước sống, choãi toàn thân giữ đất/ Chết nhô lên phơi xương trắng như người /…/ Chợt thấy người xưa giành lại giang san trên yên ngựa / Cuối trời dựng kiếm, nhớ Thăng Long… (trích).

Trần Nhuận Minh sinh năm 1944 (là anh ruột nhà thơ Trần Đăng Khoa). Hiện là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Quảng Ninh.

139

Trần Thanh ĐịchMười ba tuổi dũng sĩ rồi
Săn cọp mà chỉ cần đôi tai mèo
Mặc ai thay xác đổi mầu
Thú  gì bằng một cần câu tre ngà
Ta mà địch. Địch mà ta!

» Xem/Đóng đáp án

TRẦN THANH ĐỊCH (nhà văn)
Trần Thanh ĐịchTrong bài nhắc các tác phẩm chính của nhà văn Trần Thanh Địch : DŨNG SĨ TUỔI 13 (tập truyện), SĂN CỌP (tập truyện), SĂN VÀ BẪY THÚ (tập truyện), ĐÔI TAI MÈO (tập thơ), THAY MÀU DA CHO XÁC CHẾT (tập truyện ký), MỘT CẦN CÂU (tập truyện cho thiếu nhi được giải của Hội nhà văn 1994). Câu cuối là để gợi mở cho bạn dự thi nhận ra tác giả xuất phát từ chỗ : Bác Trần Thanh Địch là người nhân hậu, hiền lành thể hiện qua từ dáng người đến tính cách – nhưng tên bác lại là “Địch” nên các bạn văn đồng lứa của Bác hay nói đùa “Ta mà Địch, Địch mà ta”. Cũng còn có đôi câu đối khá ngộ nghĩnh : Trần Thanh vào Thanh địch với Trần Thanh Địch / Nguyễn Đình ra đình thi với Nguyễn Đình Thi.
Nhà văn Trần Thanh Địch sinh năm 1916 tại TP. Huế. Hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh.

140

Trinh ĐườngHội thơ vừa mãn
Lại hội hóa trang
Đẹp thay cây mía
Hiến thân làm đường

Săn lùng hạt giống
Hành trình ngược xuôi
Biết trò phù thế
Trọn đời vẫn chơi

» Xem/Đóng đáp án

TRINH ĐƯỜNG (nhà thơ)
Trinh ĐườngCâu đầu nhắc tập NGÀY HỘI THƠ do tác giả tuyển chọn và phẩm bình. Câu 2 nhắc tập thơ HỘI HÓA TRANG (…Hàm sư tử, đầu cáo già, chó sói / Đèn nhấp nháy, nhạc xập xình hóa dại / Người vật rối tinh rối loạn xà ngầu…/…/ Trận hóa trang cái giả đứng hàng đầu / Càng phản bội lại mình càng giải nhất / Đã có thể mỗi người trăm bộ mặt / Thì ngại gì giả mãi chẳng thành quen /…/ Hội hóa trang này lớn lắm / Hãy vào xem). Câu 3 và 4 nhắc bút danh nhà thơ Trinh Đường và cũng nhắc bài CÂY MÍA bạn Phạm Vũ tặng nhà thơ khi nhà thơ qua Đà Lạt trên hành trình đi tìm thơ suốt những năm cuối đời : …Bởi sống bằng hy vọng / Nên cây sớm bạc đầu / Giống bông lau, bông sậy / Làm chổi quét trời cao/…/ Đời mía bao khó nhọc / Đường ngọt từ nỗi đau. Khổ thơ thứ hai nhắc ba tập thơ : HẠT GIỐNG, HÀNH TRÌNH (Cộng hết đường ta đi / Đã giáp vòng mệnh số ? / Đem rũ hết hành trang / Được bao nhiêu bụi đỏ ? / Hẳn vừa một nắm con / Cho đời ta xanh cỏ – SAU NHỮNG HÀNH TRÌNH) và tập thơ cuối đời của tác giả : TRÒ CHƠI PHÙ THẾ.

Trinh Đường tên thật là Trương Đình, sinh năm 1919 tai Quảng Nam, mất năm 2000 tại Hà Nội.

141

Trương Nam HươngSông Hương hòa với sông Cầu
Xứ hào hoa đẻ thơ giàu tài hoa
Nao lòng khúc hát người xa…
Buồn hữu hạn để vui là vô biên!

» Xem/Đóng đáp án

TRƯƠNG NAM HƯƠNG (nhà thơ)
Trương Nam HươngCâu 1 nói quê nội nhà thơ là Huế và quê ngoại là Bắc Ninh, hai xứ hào hoa và trữ tình nhất nước. Câu 2 : thơ Trương Nam Hương nổi tiếng về tài hoa. Trong NGHÌN CÂU THƠ TÀI HOA VIỆT NAM, Nguyễn Vũ Tiềm cũng xếp ông thuộc lớp được trích dẫn nhiều nhất : Bạn ngồi bó gối khoanh tay / Rượu từ hốc mắt ta cay xuống lòng; hay Nhớ lặng thầm thôi, không dám gọi / Sợ làm tóc mẹ giật mình rơi; hoặc : Ruổi rong khắp bốn phương trời / Câu thơ hành khất, theo người hành hương / Ta gom nhặt giữa đời thường / Nỗi đau của mẹ, nỗi buồn của cha / Ngày về sau tháng năm xa / Trắng bàn tay, trắng dần qua mái đầu; hoặc nữa : Nâng ly bạn dốc trời xanh cạn / Quờ đũa, khà say gắp tiếng chim. (Riêng câu cuối này, mỗi khi đọc thần kinh tôi rất căng thẳng chỉ sợ đọc thiếu một “tiếng” ! ). Câu 3 nhắc KHÚC HÁT NGƯỜI XA XỨ, tập thơ đầu của Trương Nam Hương từng nhận giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam. Câu cuối là sửa lại câu thơ trong bài : ẢO GIÁC : vui hữu hạn, chỉ buồn là vô biên để muốn nhắc lời tâm sự của tác giả : “thơ tôi thường buồn – Nỗi buồn mang khát vọng của niềm vui”.
Mới đây Trương Nam Hương có in tập VIẾT TẶNG NHỮNG MÙA XƯA. Với tập thơ “chững chạc” hơn này, ông có gần lại hơn các “nhà phê bình” nhưng (hay vì vậy) mà phần nào xa ra với các bạn yêu thơ trẻ-mà sự ủng hộ của các bạn trẻ lại là hạnh phúc lớn nhất của một nhà thơ, nhất là nhà thơ của tình yêu. Hạnh phúc mà ông đang có.

Trương Nam Hương sinh năm 1963. Hiện đang công tác tại tạp chí Văn Hóa Văn Nghệ Công An chi nhánh TP. Hồ Chí Minh.

142

Tú MỡQuả là dòng nước ngược:
Rán mỡ để lấy xương!
Dùng bút mà chiến đấu
Đánh đòn bằng văn chương

Tam khí Tát-xi-nhi,
Tù binh không bị thiến…
Trò chơi tương đối thành
Cứ cười mà kháng chiến!

» Xem/Đóng đáp án

TÚ MỠ (nhà thơ)
Tú MỡTrong bài nhắc các tập thơ của Tú Mỡ : DÒNG NƯỚC NGƯỢC, BÚT CHIẾN ĐẤU, ĐÒN BÚT, NỤ CƯỜI KHÁNG CHIẾN và các bài thơ : TAM KHÍ ĐỜ LÁT ĐỜ-TÁT-XI-NHI, KHÔNG PHẢI THIẾN, MỘT TRÒ CHƠI KHÔNG THÀNH. Nhà thơ Hồ Trọng Hiếu nhận Tú Xương là thầy, là thần tượng của mình nên ông lấy bút danh là Tú Mỡ. Ngay từ những bài tự thuật đầu tiên trong DÒNG NƯỚC NGƯỢC ta đã nghe giọng “Ở phố hàng Nâu có phỗng sành / Mặt thì lơ láo mắt thì lanh…” của Tú Xương : Ở sở “Phi Năng” có một thầy / Người cao dong dỏng lại gầy gầy / Mặc thường xoàng xĩnh, ưa lành sạch / Ăn chỉ thều thào, thích tịnh chay / Tom chát quanh năm vài bốn bận / say sưa mỗi tháng một đôi ngày / Tính vui trò chuyện cười như phá / Lòng thẳng căm hờn nói toạc ngay…
Ở bài TAM KHÍ ĐỜ-LÁT ĐỜ TÁT-XI-NHI, Tú Mỡ so sánh việc Võ Nguyên Giáp cầm quân đánh tướng Đờ-lát như Gia Cát Lượng tam khí Chu Du :… Chẳng hay trước khi chết, / tướng có kêu sầu bi / Trời sinh Tát-xi-nhi / Sao sinh Võ Nguyên Giáp.

Ở bài KHÔNG PHẢI THIẾN ông kể chuyện tù binh Pháp nghe đồn Việt Minh rất ác, bắt tù binh là đem thiến nên rất sợ. Trên đường hành quân đột nhiên được lệnh cởi quần thì hết hồn. Nhưng thực ra chỉ cởi quần để qua lỗ lội cho khỏi ướt.

Còn bài MỘT TRÒ CHƠI KHÔNG THÀNH là bài thơ thiếu nhi, kể chuyện các em bàn nhau chơi trò bắt phi công Mỹ nhưng vì không ai chịu đóng vai phi công Mỹ nên trò chơi không thành!

Tú Mỡ sinh năm 1900 tại Hà Nội và mất vào năm 1976.

143

Tú XươngĐêm nằm nghĩ cảnh vợ mà thương
Con lính, chồng quan, vợ trả lương
Chưa bán được trời, ô đã mất
Thú vui thổ đĩ, tớ chơi lường
Ông nghè ông cống nằm co tất
Ba cái lăng nhăng cũng chuyện thường
Vô địch quốc gia: đạp vỏ chuối
Đứng đầu thiên hạ: nghiệp văn chương.

» Xem/Đóng đáp án

TÚ XƯƠNG (nhà thơ)
Tú XươngCâu 1 nhắc bài thơ  THƯƠNG VỢ  ( Quanh năm buôn bán ở mom sông/ Nuôi đủ năm con với một chồng / Lặn lội thân cò khi quãng vắng / Eo sèo mặt nước buổi đò đông / Một duyên hai nợ âu đành phận / Năm nắng mười mưa dám quản công / Cha mẹ thói đời ăn ở bạc / Có chồng hờ hững cũng như không). Câu 2 nhắc những câu Bốn con làm lính, bố làm quan Hỏi ra quan ấy ăn lương vợ hoặc Lương tháng ngô khoai vợ phát dần…trong bài QUAN TẠI GIA. Câu 3 nhắc bài TỰ CƯỜI MÌNH : Lúc túng toan lên bán cả trời / Trời cười thằng bé nó hay chơi…và bài ĐI HÁT MẤT Ô (Tối qua anh đến chơi đây / Giầy chân anh dận, ô tay anh cầm / Sáng nay trở dậy, canh năm / Nhìn quanh chỉ thấy em nằm trơ trơ / hỏi ô, ô mất bao giờ / hỏi em, em cứ ỡm ờ không thưa // Sợ khi rầy gió mai mưa / Lấy gì đi sớm về trưa với tình !). Câu 4 nhắc bài TỰ VỊNH : Vị Xuyên có Tú Xương / Dở dở lại ương ương / Cao lâu toàn ăn quỵt / Thổ đĩ rặt chơi lường. Câu 5 nhắc bài CHỮ NHO : Nào có ra gì cái chữ Nho / Ông nghè ông cống cũng nằm co / Chi bằng đi học làm thầy phán / Tối rượu sâm banh, sáng sữa bò. Câu 6 nhắc bài ĐÀN BÀ (Một trà, một rượu, một đàn bà / Ba cái lăng nhăng nó quấy ta / Chừa được thứ nào hay thứ đó/ Có chăng chừa rượu với chừa trà!). Câu thứ 7 nhắc việc Tú Xương thi trượt 8 lần (tám khoa không khỏi phạm trường quy) mà nhà nước ba năm mở một khoa. Ông mất năm 37 tuổi, thì có thể xem Tú Xương suốt đời làm nghề…thi trượt. Nhưng văn chương của ông lại được hậu thế yêu mến và đánh giá cao vì thấm đậm tình đời, giọng văn lại trào lộng mà sâu cao. Xuân Diệu viết Ông nghè ông cống ra mây khói/ Đứng lại văn chương một tú tài!
Tú Xương tên khai sinh là Trần Tế Xương quê Nam Định sinh 1870 mất 1907.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần V-X-Y) 5/5 (1)

144

Văn CaoChiến sĩ Việt Nam tiến về Hà Nội
Buồn tàn thu gửi lại Suối Mơ
Cứ ngỡ Thiên Thai mà làng tôi đó
Tiến quân ca tôi hát giữa ngày mùa

» Xem/Đóng đáp án

VĂN CAO (nhà thơ)
Văn CaoCHIẾN SĨ VIỆT NAM, TIẾN VỀ HÀ NỘI, BUỒN TÀN THU, SUỐI MƠ, THIÊN THAI, LÀNG TÔI, TIẾN QUÂN CA, NGÀY MÙA là các ca khúc tiêu biểu của Văn Cao được nhắc đến trong bài.

Văn Cao họ Nguyễn. Ông sinh năm 1923 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định, mất năm 1995 tại Hà Nội.

145

Văn LêGọi bò thơ lại trả lời
Chết sao được ! Không yên rồi cũng xong!
Cánh đồng dưới lửa mặc đồng
Ta còn đang bận phải lòng người dưng.

» Xem/Đóng đáp án

VĂN LÊ (nhà thơ)
Văn LêCâu đầu nhắc bài thơ TIẾNG GỌI BÒ giải A thi thơ báo Văn Nghệ (1975-1976) và Văn Lê được xem như một nhà thơ bắt đầu từ đó. Câu 2 nhắc hai tác phẩm : NẾU ANH CÒN ĐƯỢC SỐNG (tiểu thuyết-giải thưởng văn học Bộ quốc phòng 1994) và NHỮNG NGÀY KHÔNG YÊN TĨNH (tập truyện 1978). Câu 3 nhắc trường ca NHỮNG CÁNH ĐỒNG DƯỚI LỬA. Câu 4 nhắc tập thơ PHẢI LÒNG (giải A của hội đồng văn học về chiến tranh cánh mạng). Trong đó có bài NGƯỜI DƯNG (Những người dưng nước lã ơi!/ Ở đâu dù tận đầu trời chân mây/ Sống trong một thế gian này. Vì nhau chia sẻ những ngày đói no/ Tôi còn sống được đến giờ/ Là nhờ ơn nghĩa chính từ :Người dưng).
Văn Lê là nhà thơ nhưng viết khá nhiều tiểu thuyết vậy mà công việc chính của ông lại thuộc về điện ảnh. Những huy chương vàng, bạc về phim tài liệu, về đạo diễn… khó mà liệt kê hết ra đây.

Văn Lê sinh năm 1949, quê gốc Gia Viễn, Ninh Bình. Hiện công tác tại TP. Hồ Chí Minh.

146

Văn LongĐường vào tim lắm phong ba
Khối hình câm có mặn mà cùng thơ?
Qua mưa, gió-lửa đến giờ
Trai đang làm ngọc, vật vờ sứa bơi
Hoa ngàn cây số thơm tươi
Những guơng mặt, những trang đời xin trao!

» Xem/Đóng đáp án

VÂN LONG (nhà thơ)
Văn LongCâu 1 nhắc tập thơ ĐƯỜNG VÀO TIM (Đường vào tim không phải giấy thông hành…) và bài SAU BÃO : Cái mất thì đã mất / Cái xa đã xa dần / Cái còn vừa đơm trái / Người nhìn không nỡ ăn… Câu 2 nhắc tập thơ NHỮNG KHỐI HÌNH CÂM. Câu 3 nhắc tập thơ GIÓ VÀ LỬA (in chung với Nguyễn Bùi Vợi) và bài thơ QUA MƯA : Qua dải sân mưa anh ngó em / Làn mưa nhòa những nét thân quen / Tình yêu mới nở sao mà đẹp  / Một thoáng nhìn nhau mưa cũng ghen. Câu 4 nhắc tập truyện cho thiếu nhi : TRAI NGỌC VÀ SỨA VẬT VỜ. Câu 5 nhắc tập thơ NGÀN CÂY SỐ HOA : Có thợ nuôi ong giúp / Những cô ong vàng mơ / Lần đầu dùng cánh sắt / Của bác ong khổng lồ /…/ Ơ này những đóa mây / Cũng hồng tươi, tím biếc / Hóa ra ở lưng trời / Mật cũng nhiều phải biết… Câu 6 nhắc tập chân dung văn nghệ sĩ NHỮNG GƯƠNG MẶT, NHỮNG TRANG ĐỜI tác giả dành rất nhiều ưu ái cho các bạn văn nghệ của mình.

Vân Long có tên khai sinh là Nguyễn Văn Long, sinh năm 1934, hiện sống và viết tại Hà Nội.

147

Viễn PhươngCon ở miền Nam ra thăm lăng Bác
Di chúc thiêng liêng con thuộc từng lời
Đám cưới mùa xuân, nghĩa ân ghi tạc
Dẫu giao thừa, lòng vằng vặc trăng soi.

» Xem/Đóng đáp án

VIỄN PHƯƠNG (nhà thơ)
Viễn PhươngCâu 1 nhắc bài thơ VIẾNG LĂNG BÁC của Viễn Phương đã được phổ nhạc khá nổi tiếng ( Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác / Đã thấy trong lăng hàng tre bát ngát / Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam /…/Mai về miền Nam thương trào nước mắt /…/Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…). Câu 2 nhắc trường ca NHỚ LỜI DI CHÚC của tác giả. Hai câu cuối nhắc bài thơ ĐÁM CƯỚI GIỮA MÙA XUÂN thuộc giai đoạn thơ từ miền Nam gửi ra đã được đưa vào sách giáo khoa văn học với những câu : …Tối giao thừa dào dạt nhớ thương em / Có cả vầng trăng vẫn nhớ ngọn đèn / Đi khắp núi sông vẫn thương về xóm nhỏ / Có nửa quả tim minh / Có người yêu ở đó !.Nhà thơ Viễn Phương có tên khai sinh là Phan Thanh Viễn, sinh năm 1928 quê gốc An Giang. Hiện sống ở TP. Hồ Chí Minh.

148

Vũ BãoLàm giời ngay tự tuổi đôi mươi
Gây bão làm mưa bởi tiếng cười
Người vãi linh hồn danh dự giật
Đứa giàu sáng kiến chiến công rơi
Tăng-ta nóng hổi dòng tin trận
Đám-phá lạnh tanh lý sự đời
Sắp cưới ? Cớ sa còn sắp mãi?
Bút bi hết mực. Ối “giời” ơi!

» Xem/Đóng đáp án

VŨ BÃO (nhà văn)
Vũ BãoCâu đầu nhắc tập truyện LÀM GIỜI tác giả viết khi mới 25 tuổi. Câu 2 nói bút danh Vũ Bão là muốn học theo lối văn châm biếm trào phúng của Vũ Trọng Phụng (tên khai sinh của tác giả là Phạm Thế Hệ). Câu 3 nhắc truyện ngắn NGƯỜI VÃI LINH HỒN từng được giải nhì báo Văn Nghệ, được dịch ra nhiều tiếng nước ngoài. “Vãi linh hồn” đã gần như trở thành một thành ngữ. Trong bài VỢ ỐM, Nguyễn Duy có câu Một mình anh vãi cả ba linh hồn. Muốn hiểu cái thú vị của câu này phải đọc NGƯỜI VÃI LINH HỒN và đọc câu Một mình con đóng cả ba vai chèo trong MẸ ỐM của Trần Đăng Khoa. Câu 4 nhắc truyện ngắn NGƯỜI KHÔNG CÓ CHIẾN CÔNG. Câu 5 nhắc truyện DÒNG TIN và tập ký XE TĂNG TA. Câu 6 nhắc tập truyện PHÁ ĐÁM và tập truyện LÝ SỰ ĐỜI. Câu 7 nhắc tiểu thuyết SẮP CƯỚI – thành tựu lớn nhất của Vũ Bão – in 1967, Hội Văn Nghệ Thái Bình tái bản năm 1980 và Hội Nhà văn Hà Nội tái bản năm 2000. Như vậy đã “sắp cưới” tới ba lần. Câu cuối nhắc truyện vui BÚT BI HẾT MỰC.

Vũ Bão sinh 1931 tại Thái Thụy, Thái Bình. Hiện sống và viết tại Hà Nội.

149

Vũ CaoChuyện đôi ta thuở đương thời
Sớm nay nhìn lại : 50 năm tròn
Đá mòn, cỏ cứ xanh non
Mỏi gối chân chồn vẫn thú “Núi Đôi”

» Xem/Đóng đáp án

VŨ CAO (nhà thơ)
Vũ CaoHai câu đầu nhắc tập thơ SỚM NAY, trong đó có bài CHUYỆN ĐÔI TA (… Ngày nào em nhỉ / Chúng mình chia tay / Tiễn nhau một buổi / Nhớ theo ngàn ngày / Đến khi gặp lại / Nhìn nhau lại nhìn / Em chờ anh nói / Anh chờ nghe em. / Em chỉ hé môi / Một câu trách ngọt / – Em thương những mười / Mà anh chỉ một !/ Anh đừng hồi lâu / có gì nghẹn ứ / Sao em lại nỡ / Nói điều oan nhau ! / Rồi anh rốt cuộc / Cũng rằng em ơi / Em thương chỉ một / Mà anh thương mười !…). Câu 3 nhắc ý thơ trong bài THIÊN NHIÊN : Mộ Lép – Tôn- Xtôi / Không bằng đá xây / mà xè xè nấm cỏ / …/ Nấm cỏ 50 năm / Vuông vắn xanh rờn lối nhỏ… Câu cuối nhắc bài thơ NÚI ĐÔI rất nổi tiếng của tác giả. Núi Đôi cũng dễ gợi cho ta hình ảnh “ Đèo Ba Dội”. Từ đó mới thấy cái thi vị của câu “Anh ghé thăm nhà, thăm Núi Đôi”.

Vũ Cao tên khai sinh là Vũ Hữu Chỉnh, sinh năm 1922 tại quê Vụ Bản, Nam Định. Hiện sống ở Hà Nội.

150

Vũ Hoàng ChươngBa mươi năm đợi em một phương
Để chi ?
Để đến vũ trường mời say !
Ôm đôi thân, xiết đôi vai
Hoa đôi mắt, ù đôi tai
Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ
Rồi đưa nhau về tổ
Lại say !
Để chiều mờ ngõ hẹp
Để đời tàn gác xép
Hư ảnh thành khói mây bay
Hết say !

» Xem/Đóng đáp án

VŨ HOÀNG CHƯƠNG (nhà thơ)
Vũ Hoàng ChươngTrong bài nhắc một số tập và bài thơ của Vũ Hoàng Chương : TA ĐỢI EM TỪ 30 NĂM, TRỜI MỘT PHƯƠNG, MỜI SAY, LẠI SAY, CHIỀU TÀN NGÕ HẸP, MÂY, MỘT PHÚT NGỪNG SAY. Cũng muốn nói nhà thơ không chỉ say rượu mà còn say khiêu vũ, say tình, say thuốc phiện. Xin trích một đôi đoạn thơ trong bài MỜI SAY đã nhắc ở trên : … Ánh đèn  tha thướt / Lưng mềm não-nuột dáng tơ / Hàng châu lả lướt / Đê mê hồn gửi cánh tay hờ / Âm ba gờn-gợn nhỏ / Ánh sáng phai phai dần / Bốn tường gương điên đảo bóng giai nhân / Lui đôi vai, tiến đôi chân / Sàn gỗ trơn chập chờn như biển gió / Không biết nữa màu xanh hay sắc đỏ / Hãy thêm say còn đó rượu chờ ta ! / Cổ chưa khô, đầu chưa nặng, mắt chưa hoa / Tay mềm mại, bước còn chưa chuếnh choáng / Chưa cuối xứ mê ly, chưa cùng trời phóng đãng / Còn chưa say, hồn khát vẫn thèm men / Say đi em ! Say đi em ! / Say cho lơi lả ánh đèn / Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt / Rượu, rượu nữa và quên, quên hết !…

Vũ Hoàng Chương sinh năm 1916 ở Nam Định, mất năm 1976 tại Sài Gòn.

151

Vũ Quần PhươngÁo đỏ em đi giữa phố đông
Người ngây như đá, đá phập phồng
Quên câu, quên chữ, quên phương tiện
Quần với lời bình có mệt không?

» Xem/Đóng đáp án

VŨ QUẦN PHƯƠNG (nhà thơ)
Vũ Quần PhươngCâu đầu nhắc bài thơ 4 câu: Áo đỏ em đi giữa phố đông/ Cây xanh như cũng ánh theo hồng/ Em đi lửa cháy trong bao mắt/ Anh đứng thành tro em biết không. Câu thứ 2 nhắc 2 câu trong bài CÁT : Tình yêu làm vọng phu hóa đá/ Đá biến thành trống mái bên nhau. Câu thứ 3 nhắc tập thơ QUÊN CHỮ, QUÊN CÂU ( gặp thơ rồi thì quên chữ quên câu) trong đó có bài  PHƯƠNG TIỆN (…Tấm lấy vua nhờ có ngựa, có hài/ Vua muốn Tấm phải là vua cái đã / Chứ chúng ta được hài/ Đến công an mà trả / được lời khen). Câu cuối nhắc : Tác giả còn là nhà lý luận phê bình sáng giá, có các tập THƠ VỚI LỜI BÌNH được tái bản nhiều lần.

Vũ Quần Phương (tên khai sinh Vũ Ngọc Chúc. Lạc Quần là quê cha, Xuân Phương là quê mẹ) sinh  năm 1940 tại Hải Hậu, Nam Định. Hiện sống và viết tại Hà Nội.

152

Vũ Trọng PhụngKhông ai nhận mình là Xuân tóc đỏ
Không ai khai ta là Ty-phờ-nờ
Bởi dông tố và vỡ đê vẫn có
Kỹ nghệ lấy Tây vẫn lắm người mơ
Nên thương lắm người lao tâm lao lực
Tiếng cười xưa ngỡ vẫn động bây giờ.

» Xem/Đóng đáp án

VŨ TRỌNG PHỤNG (nhà văn)
Vũ Trọng PhụngTrong bài thơ nhắc tên các tiểu thuyết SỐ ĐỎ (với các nhân vật Xuân tóc đỏ, Ông Ty-phờ-nờ(tức Tôi-yêu-phụ-nữ)), DÔNG TỐ ,VỠ ĐÊ, KỸ NGHỆ LẤY TÂY. Hai câu cuối nói Vũ Trọng Phụng là nhà văn hiện thực trào phúng , ông đã chết vì bệnh lao do lao động nhiều, do cả nghèo khổ nữa.

Vũ Trọng Phụng sinh năm 1912 tại Hà Nội, quê gốc Hưng Yên, mất năm 1939 tại Hà Nội.

153

Vương TrọngTên vua quý, nghiệp dân thương
Tuy là nằm võng , gió sương rừng gìà
Vọng phu – chuyện những ngày xa
Bên mồ cụ Nguyễn ngỡ bà Đạm Tiên.
Quay đi ! Ngoảnh lại thêm phiền
Con ngoài giá thú lấy tiền đâu nuôi !

» Xem/Đóng đáp án

VƯƠNG TRỌNG (nhà thơ)
Vương Trọng“Vương Trọng” theo chữ Hán là “vua quý trọng”. Nghiệp lính, nghiệp thơ đều là nghiệp dân thương. Với bài thơ NẰM VÕNG (Nằm võng thấy cây rừng chao động / Tán lá như sàng những vì sao), Vương Trọng được giải thưởng thơ báo Văn Nghệ và trở thành nhà thơ quân đội. VỀ THÔI NÀNG VỌNG PHU (Đi một lần không về / Đợi ngàn năm hóa đá / Thương thân dựng trời quê / Nhớ xương vùi đất lạ ) và NHỮNG NGÀY XA (Thương nhớ là hạnh phúc những ngày xa) là hai tập thơ được giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam. Vương Trọng có bài thơ  BÊN MỘ CỤ NGUYỄN DU (Tưởng là phận bạc Đạm Tiên / Ngờ đâu cụ Nguyễn Tiên Điền nằm đây / Ngẩng trời cao, cúi đất dày / cắn môi, tay nắm bàn tay của mình / Một vùng cồn bãi trống trênh / Cụ cùng thập loại chúng sinh nằm kề / / Hút tầm không bóng hoa lê / Bạch đàn đôi ngọn gió về nỉ non / Xạc xào lá cỏ héo hon / Bàn chân cát bụi, lối mòn nhỏ nhoi / Lặng yên bên nấm mộ rồi / Chưa tin mình đã đến nơi mình tìm ! / Không cành để gọi tiếng chim / Không hoa cho bướm mang thêm nắng trời / Không vầng cỏ ấm tay người / Nén hương tảo mộ cắm rồi lại xiêu / Thanh minh trong những câu Kiều / Rưng rưng con đọc với chiều Nghi Xuân / / Cúi đầu tưởng nhớ vĩ nhân / Phong trần còn để phong trần riêng ai… Câu 5 nhắc tuyển thơ NGOẢNH LẠI vừa ra mắt bạn đọc. Câu cuối nhắc bài ĐỨA CON NGOÀI GIÁ THÚ.

Vương Trọng tên khai sinh là Vương Đình Trọng, sinh năm 1943, quê Đô Lương, Nghệ An. Hiện công tác tại tạp chí Văn Nghệ Quân Đội Hà Nội.

154

Xuân DiệuRất tồi toán pháp, khá văn chương
Ràng buộc muôn dây, bấu thái dương
Tới độ mắt giàu, thơ lại khó
Lòng thương Nguyễn Trãi, nhớ Xuân Hương…

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN DIỆU (nhà thơ)
Xuân DiệuCâu đầu là của Xuân Diệu ở bài GIỚI THIỆU trong tập THƠ THƠ. Câu 2 nhắc bài thơ  LÀ THI SĨ  ( Là thi sĩ nghĩa là ru với gió / Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây / Để linh hồn ràng buộc bởi muôn dây…) và bài thơ  HƯ VÔ với câu : Tôi kẻ đưa răng, bấu mặt trời trong tập GỬI HƯƠNG CHO GIÓ. Câu 3 và 4 nhắc tên các tập TÔI GIÀU ĐÔI MẮT ( thơ) và CÁC NHÀ THƠ CỔ ĐIỂN VIỆT NAM ( một công trình nghiên cứu đồ sộ). Câu 3 và 4 cũng muốn nói một thực tế : Xuân Diệu làm thơ rất hay, là “ Vua thơ tình” cấp thế giới hồi “thơ mới”. Sau này , ông là người nhận xét, phê bình, giới thiệu thơ rất uyên bác. Ông là viện sĩ của nhiều viện hàn lâm trên thế giới. Chế Lan Viên nói đại ý: Chính Xuân Diệu đã là một viện hàn lâm văn học. Nhưng thơ sau này của ông lại kém hay. Tôi nhớ khi tập TÔI GIÀU ĐÔI MẮT ra đời, một nhà văn ( Mã Giang Lân?) cầm tập thơ và nói đùa:  Thơ anh tôi đọc đã nhiều / Tuy “giàu đôi mắt” nhưng nghèo ý thơ. Tất nhiên đó chỉ là vui đùa. Là nghèo so với chính Xuân Diệu mà thôi.

Xuân Diệu họ Ngô, quê gốc Can Lộc, Hà Tĩnh, sinh năm 1917 và mất năm 1985 tại Hà Nội.

155

Xuân HoàngSinh trong tiếng hát cố hương
Miền Trung ơi, gửi mến thương quê nhà
Âm vang thời ấy chưa xa
Bóng em lồng bóng biển – hòa yêu tin
Vững lòng trước quãng lặng im
Khi nào cũng thấy có em bên mình

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN HOÀNG (Nhà thơ)
Xuân HoàngCâu 1 nhắc TIẾNG HÁT QUÊ HƯƠNG, tập thơ đầu in chung với Minh Huệ (1959). Câu 2 nhắc 2 tập thơ : MIỀN TRUNG (1967) VÀ GỬI QUÊ HƯƠNG (1997). Câu 3 nhắc tập ÂM VANG THỜI CHƯA XA (Hồi ký, giải thưởng liên hiệp VHNT Việt Nam và giải thưởng Lưu Trọng Lư 91-95). Câu 4 lấy ý từ các câu thơ trong bài ĐỒNG HỚI : Phố nhỏ quê ta thức nhiều kỷ niệm / Hương dạ lan thơm ngát những canh dài / Em đi nhé. Bóng em lồng bóng biển / Bài thơ lành anh đến ngủ trên vai. Câu 5 nhắc tập QUÃNG CÁCH LẶNG IM và bài thơ tình thuộc loại hay nhất của Xuân Hoàng : KHI NÀO THẤY : Khi nào thấy, trên đường dài mệt mỏi / Cần nghỉ ngơi đôi chút cạnh dòng sông / Em hãy đến tìm tôi nơi bến đợi / Tán đa tôi, bóng mát vốn quen dừng /…/ Lúc nào đó lòng mang thương tích / (Những vết thương vô ý tự gây nên) / Em hãy đến bên tôi chiều tĩnh mịch / Tôi xin làm con suối tắm cho em / Nếu cần nữa, tôi là hồ trên núi / Trong hoang vu im lặng ngắm mây trời / Em hãy đến, chim thiên nga, cánh mỏi / Đậu yên lành trên gương mặt hồ tôi. “Quãng lặng im” ở câu 5 cũng muốn nói căn bệnh hiểm nghèo mấy năm nay âm thầm cắn xé dày vò thân thể nhà thơ và người bạn đời thủy chung nhân hậu của nhà thơ (chị Bình) đã sớm hôm tận tình quên cả thân mình lo toan săn sóc, tắm mát cho anh theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Bài thơ trên như anh đã làm sẵn để bây giờ chị chỉ thay đổi vị trí hai chữ anh em.

Nhà thơ Xuân Hoàng (Nguyễn Đức Hoàng) sinh năm 1925 tại Tuy Phước, Bình Định. Mấy năm nay nằm liệt do bệnh tại Tân Bình Tp. Hồ Chí Minh.

156

Xuân QuỳnhHoa  quỳnh dù mãi còn hương
Hoa cỏ may biết vấn vương áo nào?
Nhìn hoa nở dọc chiến hào
Ước chi hái được mà xào thay rau
Tình yêu như biển thẳm sâu
Phận thuyền mỏng mảnh, tim đau thất thường.

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN QUỲNH (nhà thơ)
Xuân QuỳnhCâu đầu nói Xuân Quỳnh là nhà thơ đẹp người, đẹp nết, nhiều tài, nhiều tình, dù đã qua đời còn để lại nhiều tình cảm, nhiều thơ hay trong trí nhớ mọi người. Câu 2 nhắc tên tập thơ  HOA CỎ MAY với những câu thơ rất gợi : Cát trắng, sông đầy, cây ngẩn ngơ / Không gian xao xuyến chuyển sang mùa / Tên mình ai gọi sau vòm lá /Lối cũ em về nay đã thu / / Mây trắng bay đi cùng với gió / Lòng như trời biếc lúc nguyên sơ / Đắng cay gửi lại bao mùa cũ / Thơ viết đôi dòng theo gió xa / / Khắp nẻo dâng đầy hoa cỏ may / Áo em sơ ý cỏ găm đầy / Lời yêu mỏng mảnh như màu khói / Ai biết lòng anh có đổi thay. Câu thứ 3 nhắc tập thơ  HOA DỌC CHIẾN HÀO. Câu thứ 4 nói cuộc sống của nhà thơ trong nhiều năm rất nghèo túng. Mớ rau muống vẫn là mối ám ảnh khá thường trực của nữ sĩ. Hai câu cuối nhắc bài thơ THUYỀN VÀ BIỂN đã được phổ nhạc khá nổi tiếng và vài nét tâm tư của tác giả trong những ngày nằm viện điều trị bệnh tim và những ngày cuối đời.
Xuân Quỳnh tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, sinh năm 1942, quê gốc là Hà Tây. Mất năm 1988 do tai nạn xe cộ.

 

157

Xuân SáchDu kích ra trận đường xa
Sống trong lửa đạn nhìn ra cõi người
Đi và đến vẫn một nơi
Chân dung văn sĩ vẽ vời làm khuây
Người rằng ác, kẻ rằng tài
“Nghề này thì lấy ông này tiên sư !”

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN SÁCH (nhà thơ)
Xuân SáchCâu đầu nhắc ba tác phẩm : ĐỘI DU KÍCH THIẾU NIÊN ĐÌNH BẢNG viết cho thiếu nhi, một trong các tác phẩm tiêu biểu nhất của Xuân Sách; ĐÊM RA TRẬN (tập truyện) và ĐƯỜNG XA (thơ) với bài thơ đã được phổ nhạc khá nổi tiếng là CÙNG ANH TIẾN QUÂN TRÊN ĐƯỜNG DÀI. Câu 2 nhắc tập thơ TRONG LỬA ĐẠN và tập thơ CÕI NGƯỜI : Bấy giờ cho đến bây giờ / Con sông vẫn chảy, con đò vẫn qua / / Có nguời gồng gánh đường xa / Có người ngồi bệt thềm nhà đếm sao / / Có người leo tận non cao / Loanh quanh chưa biết lối nào trở lui / / Có người ngồi bếp tro vùi / Bới lông tìm vết cho người mắc oan / / Có người đi trước thời gian / Cô đơn như ánh sao băng cuối trời / / Em về với cỏ hoa thôi / Ngửa tay hứng giọt sương rơi lặng thầm / / Em về với cõi rỗng không / Bỗng dưng lại thấy nằm trong cõi người. Câu 3 nhắc tập thơ NƠI ĐI VÀ ĐẾN. Ba câu cuối nhắc tập CHÂN DUNG NHÀ VĂN. Dùng các tác phẩm của các nhà văn để vẽ chân dung nhà văn đó theo lối “mỡ nó rán nó” trước đây đã nhiều người làm, như các câu đối về các nhà văn Tự lực văn đoàn, hoặc các câu đố về Đông Hồ, Tương Phố, Tản Đà… Nhưng dồn tâm huyết viết cả trăm bài và đặc biệt là gây được ấn tượng sâu rộng trong bạn đọc thì quả Xuân Sách là nguời làm đầu tiên. Cho nên có thể xem ông là người dựng xây nên lối thơ này cũng không phải là không có căn cứ. Vì vậy chúng tôi đã để ông ở vị trí cuối cùng (chứ không phải Yến Lan theo thứ tự A, B, C,…) như một sự tổng kết.
Xuân Sách tên khai sinh là Ngô Xuân Sách sinh năm 1932 tại Nông Cống, Thanh Hóa. Hiện đang sống và viết ở Vũng Tàu.

158

Yến Lan

Bến Mi Lăng chờ gái Trữ La
Nhanh như chớp lửa, đến là yêu ngay!
Lẵng hoa hồng sẵn trên tay
Ngọn đèn tỉnh nhỏ gió lay nhỏ dần
Chập chờn hiện bóng giai nhân
Cầm chân hóa để giữ chân người tình…

Sáng nằm đọc Nam Hoa Kinh
Tối không hóa bướm, hóa thành.. khoai lang!

» Xem/Đóng đáp án

YẾN LAN (nhà thơ)
Yến LanCâu đầu nhắc tập thơ BẾN MI LĂNG (… Bến Mí Lăng nằm không thuyền đợi khách / Rượu hết rồi, ông lái chẳng buồn câu / Trăng thì đầy rơi đầy trên mặt sóng / Ông lái buồn để gió lén mơn râu…) và GÁI TRỮ LA (kịch thơ). Câu 2 nhắc hai tập thơ
GIỮA HAI CHỚP LỬA và TÔI ĐẾN, TÔI YÊU. Câu 3 nhắc tập LẴNG HOA HỒNG. Câu 4 nhắc hai tập thơ NHỮNG NGỌN ĐÈN và LẠI VỀ TỈNH NHỎ (Tỉnh nhỏ, / võ vàng, / Nắng thắt ngang hầu thị trấn / Gập ghềnh trên đường vắng : / Cuộc đời / Hay cỗ xe bò / Nhắm về phía mả mồ / Chậm rãi lê từng bước một…). Câu 5 nhắc BÓNG GIAI NHÂN (kịch thơ). Câu 6 nhắc tập CẦM CHÂN HOA (thơ tứ tuyệt) (Em đến xin hồng, hồng mới nụ / Đêm nay hồng nở, bóng em xa / Cầm em bữa trước em không ở / Giờ biết làm sao cầm chân hoa ). Hai câu cuối nhắc bài tứ tuyệt ĐỌC NAM HOA KINH (Sáng đọc Nam Hoa Kinh / Tối nằm không hóa bướm / Mừng làm chủ được mình / Dậy thổi nồi khoai sớm )

Chữ khoai lang ở câu cuối cùng cũng muốn nhắc tên thật của tác giả : Lâm Thanh Lang : củ khoai lang rừng màu xanh (?!)  Hữu Loan chả đã viết Lá lúa thì đỏ, củ khoai thì xanh là gì?

Yến Lan sinh năm 1916 tại Bình Định. Hiện đang sống ở quê.

Chia sẻ bài này: