Câu đố về thiên nhiên – tình cảm (sáng tác, 41 câu) 1/5 (1)

1

Đi là nắng, về là trăng
Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… và thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Ánh mặt trời chiếu thẳng đến ta là ánh nắng. Ánh mặt trời gặp mặt trăng, phản hồi lại ta là ánh trăng. Tất cả: Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… đều do năng lượng ánh sáng mặt trời mà có. Ánh bình minh, ánh hoàng hôn, ánh trăng… là nguồn cảm hứng vô tận của bao thế hệ nhà thơ.

2

Không roi, vách núi phải mòn
Vén mây để lộ khuôn tròn trăng chơi
Reo lên lồng lộng nghĩ, cười
Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

» Xem/Đóng đáp án

Gió
Câu 1 nhắc thơ Hữu Thỉnh Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím. Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Du: Trời còn để có hôm nay / Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời / Hoa tàn mà lại thêm tươi / Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Câu 3 nhắc thơ Trần Mai Ninh : Ơ cái gió Tuy Hòa / Cái gió chuyên cần và phóng túng / Gió đi ngang đi dọc / Gió trẻ lại lừng chừng / Gió nghĩ, gió cười / Gió reo lên lồng lộng (Nhớ máu). Câu cuối nhắc thơ Đặng Nguyệt Anh : Gió từ đâu đến thổi gầy nhành mai / Một đời gió có vì ai / Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

3

Vàng mơ như thể mỡ gà
Nhuộm trăm tờ lá đều ra xanh rờn

» Xem/Đóng đáp án

Ánh nắng
Ánh nắng có màu “vàng mơ”. Lá cây nói chung không có ánh nắng chiếu vào, không thể có màu xanh tươi được.

4

Chang chang nắng hạ đường dài
Mày theo tao, chẳng chịu rời một ly
Tối đèn tắt lửa mày đi
Để tao đơn độc lấy gì làm vui
Thắp đèn cầy, mở sách coi
Ô kìa, mày lại về ngồi bên tao.

» Xem/Đóng đáp án

Cái bóng người
Chỉ cần chú ý thêm hai câu cuối : Thắp đèn dầu hay đèn cầy (nến) thường mới rõ bóng của người. Đèn điện sáng mạnh, tỏa đều nên ít thấy bóng

5

Tôi như đường vàng óng
Tôi như muối trắng tinh
Tôi cùng dã tràng tắm biển
Tôi phiêu lưu, trôi dạt, nổi nênh
Tôi vào chảo giục bắp xòe như hoa nở
Bạn yêu hoa, tôi trong suốt thành bình.

» Xem/Đóng đáp án

Cát
Câu 5 nhắc việc người ta thường hay dùng cát để rang bắp (ngô). Về chi tiết này có câu đố dân gian về “Quân Gia Cát đánh quân Đông Ngô” khá hóm hỉnh. Câu 6 nói thủy tinh được làm từ cát.

6

Chân ở trong nước
Đầu ở ngoài nước
Ngửa mặt lên trời
Xin một điều ước

» Xem/Đóng đáp án

Cầu
Chân cầu ở trong nước, đầu cầu ở trên đường (ngoài nước), mặt cầu ngửa lên trời, “cầu” còn có nghĩa là “ước”.

7

Ve ve thổi lửa đỏ dần
Quạt bàn quay, rủ quạt trần cùng quay
Tiếng ai đập đá luôn tay
Vại bia hơi ngỡ biển đầy sóng xao!

» Xem/Đóng đáp án

Quán cóc hè về
“Lửa” ở câu đầu chính là “Lửa phượng”. Ở câu cuối vì nóng nực nên nhìn vại bia liên hệ ngay đến biển. Bài “Bia việt Nam “ của Xuân Diệu có câu : Một cốc vàng như đồng lúa chín / Bọt trắng phau như đầu sóng biển / Một cốc vàng ánh sáng xuyên qua / Cốc tươi cười ta ca hát chúng ta. Vì là quán cóc trống bên đường nên có sự giao lưu với bên ngoài.

8

Khay bầy, trống đánh hai bên
Thơm bia Thủy Tạ, ngọt kem Bốn Mùa
Cầu cong gợi dáng thuyền vua
Trầm tư bóng tháp nơi rùa đòi gươm

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Gươm
Một bên hồ Gươm là phố Hàng Khay, một bên là Hàng Trống. Bên bờ hồ có nhà hàng Thủy Tạ và hiệu “Kem Bốn Mùa” Cầu ở câu 3 là cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn. Tháp ở câu 4 là Tháp Rùa.

9

Tưởng đâu ở bên Pháp
Về thủ đô thấy liền
Tên em vừa nghe đọc
Ngỡ là để dán tem!
Có ông già cổ lỗ
Gặp em hóa thanh niên.

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Tây
Trước kia ta hay gọi người Pháp là Tây, nước Pháp là nước Tây, ngày nay ta cũng hay nói “các nước phương Tây” Hồ cũng còn là thứ làm từ bột để dán (có bột mới gột nên hồ; thợ may ăn giẻ, thợ mã ăn hồ). Hai câu cuối : Đường Cổ Ngư trước kia nay được cải tạo và đặt tên lại là đường Thanh Niên. Có bạn giải thích đường dành cho đôi lứa tâm tình, người già đến đây với cảnh đẹp của hồ, thấy như trẻ lại, yêu đời hơn. Cũng có lý lắm.

10

Không chạy, không đi, sao vẫn ngã
Có tơ, có lửa, lắm khi đau
Có nhân mà khó nhìn ra quả
Rất khó đo lường rộng, hẹp, sâu.

» Xem/Đóng đáp án

Lòng người
Ở câu 1 từ “ngã lòng” là nói sự nản chí (thối chí) Thơ Vương Bột có câu Chớ để ngã lòng theo đầu bạc Vương Tăng Nhụ cũng viết : Dây đứt còn mong nối lại – Lòng ngã thật khó nỗi cầm. Ở câu 2 : “tơ lòng”, “lửa lòng”, “đau lòng” là nói các trạng thái tình cảm thường được dùng trong thơ : Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng; Sự đời đã tắt lửa lòng / Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi?; Đau lòng kẻ ở người đi / Thân còn chả tiếc, tiếc gì đến duyên! là những câu Kiều khá quen biết. Ở câu 3 : Ở lâu mới biết lòng người có nhân “Nhân” là tính “nhân bản”, “nhân đạo”. Ở đây dùng từ đồng âm khác nghĩa : “nhân” là hạt nhân của trái quả. Câu 4 nhắc câu ca dao Sông sâu còn có kẻ dò / Lòng người nham hiểm ai đo cho tường.

11

Áo lượt quần là đủ vẻ tươi
Mặt sông, hồ, biển thẩy gương soi
Khi như chạy giặc, khi lơ lửng
Nhớ mẹ về thăm, nước mắt rơi.

» Xem/Đóng đáp án

Câu cuối nói về hiện tượng mưa: Mây là nước bốc hơi lên và khi mưa lại trở về với nước.

12

Không trồng, chẳng phải bón chăm
Có mùa thu hoạch hằng năm rành rành
Cây cao, không lá, không cành
Hạt gieo vườn ruộng, mọc xanh lúa mầu

» Xem/Đóng đáp án

Mưa
Phía Nam nước ta mỗi năm chia 2 mùa : “mùa khô” và “mùa mưa”. Câu 3,4 lấy ý từ câu đố dân gian : Cây cao ngàn trượng / hạt nhỏ li ti… Khi mưa xuống, lúa màu đều xanh tốt, hạt nẩy mầm.

13

Mắt vui như thể nắng ngời
Môi vui luôn nở nụ cười như hoa
Tính tình hiền hậu, dịu hòa
Đón chào, cây cỏ mượt mà như tranh
Thích mai, đào, bánh chưng xanh
Thích ăn củ kiệu, củ hành dầm chua…

» Xem/Đóng đáp án

Nàng Xuân
Bài thơ viết theo lối nhân cách hóa. Ta có thể đọc lại như sau : Mắt nàng xuân như nắng ngời / Môi nàng xuân nở nụ cười như hoa / Nàng xuân hiền hậu dịu hòa v.v..

14

Như chiếc gương trong đặt giữa trời
Soi đàn chim lượn, áng mây trôi
Sen soi môi thắm, dừa soi tóc
Trăng ngắm dung nhan, sửa nét cười….

» Xem/Đóng đáp án

Mặt nước trong xanh
Nhà thơ Phạm Hổ có bài thơ Gương : Gương nhỏ trong tay người / Gương lớn để ngoài trời / Cái ao soi sen nở / Cái hồ soi mây trôi. Đặng Hấn, hồi chiến tranh chống Mỹ có bài thơ Cái hố phòng không trên đường Thợ Nhuộm với 2 câu kết : Xưa nay vẫn chuyện bình thường / Ở đâu nước cũng là gương soi trời.

15

Tôi sinh ra đã từ lâu
Giúp người thân ở xa nhau chuyện trò
Tâm tình sâu nặng đừng lo
Tính tôi kín đáo giữ cho vẹn tuyền
Nhưng sao thủ tục đầu tiên
Lôi tôi vào cuộc để phiền danh tôi.

» Xem/Đóng đáp án

Phong bì thư
“Thủ tục đầu tiên” là “tiền đâu?” nói về các hiện tượng tiêu cực “phong bao” làm ảnh hưởng đến nét đẹp tinh thần của phong bì thư.

16

Tên như câu hỏi ở đời
Long lanh gợi nhớ mắt người cách xa
Nở bừng như một bông hoa
Là nhân của trái bao la đen huyền.

» Xem/Đóng đáp án

Sao
“Sao” hay “vì sao” đọc lên nghe như một câu hỏi (Tiếng Anh là “Why?”). Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Bính : Sao Hôm như mắt em hôm ấy / Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu. Bạn Trần Thị Thanh Tĩnh (Hà Tây) còn nhắc lời ca của Phan Huỳnh Điểu : Ngôi sao như mắt em trong những đêm không ngủ, bạn Hoàng Trọng Nghĩa ở Cô Tô còn nhắc lời bài hát : Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài… và giải thích Bác đã đi xa (người cách xa) và chúng ta luôn nhớ Bác…, đều là những ý đáng trân trọng. Câu 3 nói : ta hay hình dung ngôi sao (trên cờ chẳng hạn) gồm 5 cánh như bông hoa nở (bông mai chẳng hạn). Câu 4 nhắc thơ Huy Cận : Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng / Từng cặp nhân vàng trong trái đêm.

17

Ngâm : gầy trắng, muối : mập hồng
Đây mơ máy lạnh, đấy trong bông gòn
Đấy vuông, đây tựa ống tròn
Đây vàng tươi, đấy đỏ son khoe màu
Từng mê một thứ giống nhau
Vì quên điều độ nên sau không còn.

» Xem/Đóng đáp án

Hai miền đón Tết
Vào dịp Tết, ở miền Bắc hay muối củ hành (có dáng mập, thường có màu hồng) hay gói bánh chưng (có hình vuông) hay chưng hoa đào (có màu đỏ). Ở miền Nam thường ngâm củ kiệu (dáng gầy, màu trắng) hay gói bánh tét (có hình ống tròn) hay chưng hoa mai (có màu vàng). Ở miền Bắc trời rét phải đắp chăn bông, còn ở miền Nam trời nóng thích nằm máy lạnh. Trước kia, cả hai miền cùng thích đốt pháo, nhưng vì việc này gây nhiều tác hại, nên sau này đều bỏ hẳn.

18

Người bảo màu tím
Người nói trắng phau
Tôi hàn gắn vết tim đau
Điều chưa rõ, tôi sẵn câu trả lời
Nhiều người chỉ tranh thủ thôi
Nhiều người thực bụng quý tôi hơn vàng
Vậy mà trên khắp thế gian
Bao nơi tôi bị giết oan vô tình.

» Xem/Đóng đáp án

Thời gian
Câu đầu nhắc thơ Đoàn Phú Tứ : Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngát. Câu thứ hai nhắc hai câu thơ Đoàn Văn Cừ : Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ / Nước thời gian gội tóc trắng phau phau trong bài Chợ Tết. Câu thứ ba nhắc một danh ngôn đại ý : Thời gian là liều thuốc tốt nhất để chữa lành mọi vết thương lòng. Câu thứ tư nhắc : Thời gian sẽ trả lời, thời gian sẽ chỉ rõ hết mọi điều đúng sai, phải trái. Các câu tiếp theo nhắc : Tranh thủ thời gian, Thời gian quí hơn vàng bạc, Đừng lãng phí thời gian, Đừng giết thời gian bằng những việc vô nghĩa v.v…

19

Sen tàn, cúc thắm, trời hanh
Nhẹ rơi chiếc lá nửa xanh, nửa vàng
Bay từng giọt, nắng ngân vang
Thoảng thơm hương cốm trong làn heo may

» Xem/Đóng đáp án

Chớm thu
Câu đầu gợi nhớ câu Sen tàn cúc lại nở hoa để tả hè đã sang thu (Kiều). Câu 2 nhắc thơ Thanh Tùng : Một mặt lá mùa hè còn níu ở / Mặt kia thoáng đã thu rồi… Câu 3 nhắc thơ Nguyễn Mỹ : Nắng bay từng giọt – nắng ngân vang / ở trong nắng có một ngàn cái chuông. Ở câu 4 heo may và cốm được nhắc nhiều trong thơ về mùa thu. Ví như Thu ở nghìn thu tà áo trắng / Em ngồi chia nắng với heo may (Lương Hữu) hay Gửi đi một chút heo may / Để bên ấy biết bên này thu sang (Đặng Nguyệt Anh) hay nữa Sợi rơm vàng buộc gió / Cả sóng sánh sen hồ / Nắng đa tình Bến Nghé / Phải lòng hương cốm thu (Nguyễn Vũ Tiềm)

20

Cho ăn no thì chết
Càng đói càng khỏe ra
Cứ uống xong lại khát
Chợt gần rồi chợt xa
Con dao rỉ và mẻ
Không cắt nghĩa được mà!

» Xem/Đóng đáp án

Tình yêu
Câu đầu nhắc một danh ngôn phương Tây : Tình yêu là một con quái vật không cho ăn thì khỏe, cho ăn no thì chết (A.De-Musset). Câu 3 nhắc thơ Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình / Gặp rồi lại nhớ là mình của ta. Câu 4 nhắc thơ Lê Thị Kim : Tình yêu không là gió / Chợt gần rồi chợt xa / Tình yêu không là cỏ / Mọc lan man thềm nhà. Câu thứ 5 nhắc thơ Hoài Anh : Tình yêu như con dao / Để thì rỉ / Chặt thì mẻ / Em tính sao? Câu cuối nhắc thơ Xuân Diệu : Làm sao cắt nghĩa được tình yêu.

21

Khi tưởng nơi để ở
Lúc ngỡ là chính ta
Cơm sôi thì bớt lửa
Nồng – nhạt có sao mà
Như hom nằm trong giỏ
Cua ếch làm sao ra
Muốn dời non, tát bể
Cốt nhất giữ thuận hòa!

» Xem/Đóng đáp án

Chồng vợ
Hai câu đầu nhắc thơ Bùi Giáng : Bây giờ thời thế điêu linh / Ta về buôn bán với mình phôi pha / Mình ơi ta gọi là nhà / Nhà ơi ta gọi mình là nhà tôi. Chữ “mình” cũng được dùng ở ngôi thứ nhất : Nghĩ mình mà ngán cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! (Nguyễn Khuyến) Câu 3 : Chồng giận thì vợ bớt lời / cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê (ca dao). Câu 4 : Vợ chồng có khi nồng khi nhạt (Thành ngữ). Các câu 5,6 : Chồng là giỏ, vợ là hom (thành ngữ). Hai câu cuối : Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn (tục ngữ)

22

Khi thì mỉm miệng cười duyên
Khi ngời gương mặt dịu hiền, thanh cao
Gái trai ai biết thế nào
Đi đâu theo đấy, hỏi chào không thưa.

» Xem/Đóng đáp án

Trăng
Trăng khuyết trông như miệng người cười. Trăng tròn như gương mặt đẹp của cô gái : Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang là câu thơ Nguyễn Du tả vẻ đẹp Thúy Vân. Câu 3 : Khó biết trăng là trai hay gái vì có người gọi “ông” : ông trăng ơi xuống đây mà chơi v.v … là câu hát đồng dao. Thơ Xuân Diệu lại viết : Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ, có người gọi là : “ả Hằng Nga”… Ở câu 4 nhắc hiện tượng khi trăng sáng, đi tới đâu ta cũng thấy như trăng đi theo. Tất nhiên trăng không biết nói nên hỏi chào không thưa được.

23

Là con : mê ngọt mật ong
Để rồi mật nó đắng không gì bằng
Là xe : chở nặng, chạy hăng
Là: “đầu” tốt nhất, thưa rằng : lánh xa
Là cỏ : nhổ lại mọc ra
Là gì thế nhỉ? Trăng ngà cũng xơi!

» Xem/Đóng đáp án

Gấu
Hai câu đầu từ bài thơ tứ tuyệt Trần Mạnh Hảo Gấu xơi toàn mật ong / Làm nên mật gấu đắng / Lấy cái ngọt tận cùng / Làm nên cái đắng nhất. Xe gấu là loại xe tải loại nặng thường dùng ở những mỏ than. “Đầu gấu” tốt nhất là …để công an tiếp chuyện. Về cỏ gấu có câu : Đất có gấu, gấu lại mọc. Câu cuối là nói hiện tượng nguyệt thực mà dân gian thường gọi là gấu ăn trăng. Gấu còn ăn cả mặt trời khi có hiện tượng nhật thực.

24

Quả gì quý nhất cuộc đời
Thực mà như xạo, rằng tôi tặng nàng!
Quả gì khoái nhất tiếng vang
Bấm gan chờ được người phang mấy vồ
Quả gì nước mắt chưa khô
Máu tươi khát mãi, uống vô lại đòi

» Xem/Đóng đáp án

Quả tim, quả chuông và quả đất
Ở câu 1 : Khi yêu nhau người ta hay nói : Trao tặng trái tim cho nhau. Ở câu 4 nhắc thơ Xuân Diệu : Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung và thơ Pê-tô-phi : Trái đất ăn gì mà quá khát / Sao uống hoài nước mắt, máu tươi!

25

Có lưng, da, mặt, chân, chim
Còn khoe có mắt, đố tìm thấy đâu
Đàn ông sao lại có bầu?
Da xanh mặt đỏ, nghĩ lâu bật cười
Kiểm kê đánh số người đời
Mắc màn ba xạo ghẹo nơi khốn cùng.

» Xem/Đóng đáp án

Trời
Ta hay gặp các từ lưng trời, da trời, mặt trời, chân trời, chim trời cá nước, bầu trời. Câu thứ hai nhắc câu thành ngữ trời có mắt, những kẻ độc ác có thể giấu người khác, nhưng trời sẽ nhìn rõ và sẽ trừng phạt. Câu thứ năm nhắc thành ngữ số trời đã định. Câu cuối nhắc thành ngữ màn trời, chiếu đất.

26

Hai mặt mà lại không đầu
Không mồm vẫn cất tiếng kêu rộn ràng
Thương vay, khóc mướn cả làng
Không cha mẹ, vẫn có tang suốt đời

» Xem/Đóng đáp án

Trống
Trống có hai “mặt trống”, có “tang trống”, trống không thể thiếu trong mọi đám ma.

27

Một ông mặt lạnh như tiền
B…dài mấy thước chực bên vỉa hè
Chờ người bì bịch ngựa xe
Ghé vào tức tốc ông đè ông bơm

» Xem/Đóng đáp án

Cây xăng

28

Tôi hao hao giống cái chày
Bao cô ca sĩ đêm ngày cầm chơi
Nâng lên, áp sát tận môi
Âm ai nhỏ, chạm tôi rồi cũng to.

» Xem/Đóng đáp án

Micrô

29

Nằm mà cao mươi thước
Uốn lượn tựa rồng tiên
Sả thân lo việc nước
Sao mang tên thấp hèn?

» Xem/Đóng đáp án

Con đê

30

Vì người mới phải lên cao
Bởi muốn thu vào, phải để lôi ra

» Xem/Đóng đáp án

Cột thu lôi
“Lôi” là sấm sét theo nghĩa chữ Hán, theo tiếng Việt, lôi là lôi ra. Thực chất của hiện tượng thu lôi là từ cột phóng ra các điện tử mang điện tích âm để trung hòa điện tích dương ở đám mây mang điện để không xẩy ra sét nữa.

31

Xanh đi, đỏ đứng ngắm
Kìa: vạch chắn mầu vôi
Trước sau chỉ gang tấc
Khác tư cách con người

» Xem/Đóng đáp án

Xe qua giao lộ

32

Quay đều như chong chóng
Cánh mai trắng, cánh hồng
Cánh vàng tươi cúc thắm
Cánh tuyết điểm tùng thông

» Xem/Đóng đáp án

Bốn mùa
Ơ đây muốn nhắc đến bài thơ cổ “Tứ quí” : Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch / Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ / Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc / Tùng lăng đông tuyết bạch thiên chi.

33

Hóa thân từ sắt, bê tông
Yêu đời nên mới đến công viên ngồi
Giúp già một phút thảnh thơi
Giúp đôi trẻ thổ lộ lời tâm tư

» Xem/Đóng đáp án

Ghế đá công viên

34

Rõ nghiêng mà chắc, mà bền
Nhờ nghiêng mới nổi tuổi tên với đời

» Xem/Đóng đáp án

Tháp Pizơ
Đặng Hấn có bài thơ “ Tháp Pizơ” : Tháp Epphen nổi tiếng vì cao / Nổi tiếng về to là Kim tự tháp… / Mỗi kỳ quan một cách nổi tiếng riêng / Như tháp Pizơ nổi tiếng chỉ vì…nghiêng!

35

Không cần phải gọi : vừng ơi!
Thấy người tiến lại liền mời qua ngay
Không quay vẫn khép mở hoài
Cả khi đóng, phía trong ngoài thấy nhau

» Xem/Đóng đáp án

Cửa kính tự động
Loại cửa này sử dụng từ tính. Hay dùng ở sân bay, khách sạn lớn…

36

Ùa vào lá thắm hoa tươi
Tiếng chim hót, mở khoảng trời bao la…
Diệu huyền – con mắt của nhà
Ngóng người xa, hướng người xa dõi về

» Xem/Đóng đáp án

Ô cửa sổ
Xuân Diệu viết: Anh có nhà, có cửa / Nhung không vợ, không con / Sợ cái bếp không lửa / Sợ cái cửa không đèn…

37

Rộn ràng nhịp kéo vui tai
Chín xanh vừa đủ, giòn dai phải chừng
Em ơi, chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

» Xem/Đóng đáp án

Nộm đu đủ thịt bò khô

38

Tính ngay thẳng,
Chẳng thiên vị một ai
Nếu mình sai
Đo người sai thành đúng
Muốn người đúng
Trước hết mình đừng sai

» Xem/Đóng đáp án

Dụng cụ đo lường
Thước, cân, đồng hồ đo…đều rất thẳng thắn, vô tư, cứ theo các vạch chia trên mình mà đánh giá. Nhưng các vạch chia cũng có thể đúng sai. Các sản phẩm đều có tiêu chuẩn quy định chất lượng. Nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu của mọi nền sản xuất xã hội. Nhưng muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, trước hết phải nâng cao chất lượng của chính các dụng cụ đo lường, đánh giá chất lượng.

39

Căm căm về với gió mùa
Lại còn khen ngọt để đùa người ta
Không dao mà cắt thịt da
Nghĩ người không cửa không nhà mà thương

» Xem/Đóng đáp án

Rét
Người ta hay nói rét căm căm. Rét ở nước ra thường về theo các đợt gió mùa Đông Bắc. Người ta cũng hay nói: rét ngọt là rét thấu vào tận xương, rét cắt thịt da. Mùa rét là cực nhất cho những người nghèo, đặc biệt là những người không cửa không nhà.

40

Chẳng ai khảo cũng khai ra:
Học hàm, học vị, cửa nhà, chức, danh…
Khi hồng, lúc trắng, lúc xanh
Một bên bỏ dấu để thành chữ Tây!

» Xem/Đóng đáp án

Danh thiếp (Các-vi-zít)
Các chi tiết đều đã rõ, chỉ cần nói thêm: danh thiếp thường một bên ghi bằng chữ Việt, có đánh dấu, một bên bỏ hết dấu ở các chữ tên người, tên địa danh để thành chữ Tây!

41

Tấm lớn ngoài, tấm nhỏ trong
Tên anh, tên chị, hai ông, hai bà
Tim lồng, song hỷ đậm đà
Tay thon nhỏ, chén rượu hoa nâng mời…

Mặt mày người gửi rạng ngời
Có người nhận được, rụng rời chân tay!

» Xem/Đóng đáp án

Thiếp mời đám cưới
Chỉ cần giải thích thêm câu cuối: Người nhận thiếp mời đám cưới mà rụng rời chân tay có thể do một trong hai lý do: hoặc đó là thiệp mời đám cưới người yêu mình: Các thầy giáo khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội truyền miệng nhau bài thơ: Nhận được thư em lúc nhá nhem / Mừng mừng vội vội, bóc ra xem / Tin đưa sét đánh dăm ba chữ: / Anh ạ, ngày mai họ cưới em. Nguyên nhân thứ hai xin dẫn thơ Thạch Quỳ: Thiếp mời đám cưới cầm tay / Nửa vui cho bạn, nửa gay cho mình / Không đi thì nhạt mất tình / Đi thì “chuyện ấy” như hình có xoay /… / Đỏ xanh vay mượn dăm tờ / Nhớ ngày, nhớ tháng, nhớ giờ rồi đi / Thiếp mời đám cưới là chi / Có người giả ốm mỗi khi thiếp về.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về động vật (sáng tác, 29 câu)

1

Suốt đời cúi mặt giấu mình
Đánh mùi hôi, tức thì rình kiếm ăn.
Gằm gằm con mắt tối tăm
Nghe tên đã thấy dữ dằn, đáng khinh.

» Xem/Đóng đáp án

2

Người trách : khôn như nó
Người chê: dại như nó
Giỏi tiếng Anh nhất nhà
Bé vui đặt tên là :
“Cái chuông điện không dây”

» Xem/Đóng đáp án

3

Vốn dòng Tôn Thất
Sống rất khiêm nhường
Áo sồi, chân đất
Bắt ruồi thay cơm
Ăn xong súc miệng vài cơn mưa rào!

» Xem/Đóng đáp án

4

Càng to lại càng nhỏ
Óc gạch, đầu đá vôi
Sống hoành hành đây đó
Chết nhắm mắt không rồi

» Xem/Đóng đáp án

5

Lâu nay nổi tiếng phiêu bồng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo
Anh hùng từng bị …vô keo
Kìa: cơm, than, lửa luôn theo bên mình

» Xem/Đóng đáp án

6

Khi đậu : treo ngược trên cây
Sáng trời thì ngủ, hết ngày bay ra
Tai thính như có ra đa
Cánh căng phồng gió hóa ra cánh buồm

» Xem/Đóng đáp án

7

Nửa chim, nửa chuột
Mắt tuột sang tai
Lầm lẫn đêm ngày
Lộn phèo trời đất.

» Xem/Đóng đáp án

8

Trời ư? Bằng cái vung thôi
Tớ đây với cậu ông trời – chỗ thân
Tớ nằm vờ ngủ chờ xuân
Bạo mồm nên tớ nhiều lần hàm oan

» Xem/Đóng đáp án

9

Mũ mượn cây hoa
Da: người sợ hãi
Cho cây bút máy
Mượn lưỡi, mượn ruột

» Xem/Đóng đáp án

10

Mắt híp, bụng to, thật có duyên
Chê cơm, chê cháo, chỉ xơi… tiền
Suốt ngày ngậm miệng, sao mà mập?
Ăn phía sau lưng, thế mới hiền!

» Xem/Đóng đáp án

11

Áo vàng màu nắng
Đốn trắng như sao
Ngơ ngơ ngác ngác
Củi gác trên đầu
Không hiểu vì đâu
Chả ai tin tưởng

» Xem/Đóng đáp án

12

Bốn chân, đi guốc
Múa vuốt, nhe nanh
Mày bơi dưới nước
Mày hót trên cành

» Xem/Đóng đáp án

13

Dáng hình hệt chúa sơn lâm
Khinh rừng núi chật, về nằm đống tro
Lén rình ăn vụng cá kho
Khoe có học trò là chúa sơn lâm

» Xem/Đóng đáp án

14

Nghe tên ngỡ để viết thơ
Nào ai có ngờ sống ở biển khơi
Biết dùng phản lực đi chơi
Cái tên gợi nhớ tính người thẳng ngay

» Xem/Đóng đáp án

15

Con gì bắt chuột hơn mèo
Lên non lên núi leo trèo vượn khen
Giữa trời bay lượn chim ghen
Ra sông ra biển cá thèm tài bơi?

» Xem/Đóng đáp án

16

Bụng bò lại nuốt mồm bò
Bị chân bò giẫm nằm co bên đường

» Xem/Đóng đáp án

17

Thân vừa dẻo vừa mềm
Tên vừa khô vừa cứng
Không chân, đi rất êm
Hay trèo cây, trộm trứng

» Xem/Đóng đáp án

18

Lên một nơi xuống một nơi
Hàm răng cuối trời, đầu cổ chân mây
Râu, xương làm cảnh đó đây
Con: Trung, Nam, Bắc mỗi ngày một đông

» Xem/Đóng đáp án

19

Đầu hay đuôi khó phân minh
Đi khom về cúi, ai rình mà lo?
Ngắn dài mặc sức dãn co
Lấy mình làm thước mà đo mọi người

» Xem/Đóng đáp án

20

Tài, sức mầy ai lạ
Tưởng mầy giỏi thế nào
Núp ô dù sắt đá
Dùng miệng để leo cao
Bao mầm non mầy phá
Rồi vểnh râu tự hào!

» Xem/Đóng đáp án

21

Có tài làm xiếc
Đi ngược trần nhà
Nghe xưa giàu sụ
Tiếc của lắm à?
Những loài khát máu
Diệt trừ không tha

» Xem/Đóng đáp án

22

Áo xanh vớ đỏ
Chân khéo như tay
Học gì thuộc đó
Chẳng rõ dở hay
Ngậm chua, nuốt cay
Lên cao bằng mỏ!

» Xem/Đóng đáp án

23

Vợ đẻ chẳng ấp chẳng nuôi
Chồng giọng khản đặc, nổi trôi tháng ngày
Dạy gì cũng để ngoài tai
Đưa tin toàn những tin sai, tin nhầm.

» Xem/Đóng đáp án

24

Thân ở ngoài nước
Đầu ở trong nước
Lấy tóc làm râu
Chồng vợ thương nhau
Nhờ câu nhân nghĩa.

» Xem/Đóng đáp án

25

Cả họ đi guốc
Ăn sáng, chiều nhai
Sách nuốt trong bụng
Nhạc để ngoài tai

» Xem/Đóng đáp án

26

Không đầu, không cổ
Mắt cắm đầu que
Tám cẳng ngo ngoe
Xương khoe ngoài thịt

» Xem/Đóng đáp án

27

Lấy đầu làm búa bổ chơi
Rằng ta giúp đời giữ lửa phân minh
Cây sâu , cột ruỗng khiếp kinh
Coi chừng, đầu mẻ vì đinh có ngày

» Xem/Đóng đáp án

28

Chân đi, chân nhẩy
Cặp ngắn, cặp dài
Tưởng đâu mọc cánh
Nào ngờ đôi tai
Phải vì gan nhỏ
Chạy nhanh rất tài

» Xem/Đóng đáp án

29

Đã từng thắng bạch – cốt – tinh
Đã từng đại náo thiên đình kém đâu
Giờ ngồi bắt chấy cho nhau
Gãi lưng gãi đầu,. Chờ mẩu bánh con

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về cây trái (sáng tác, 36 câu) 1/5 (2)

1

Giúp bà, giúp mẹ thắm môi
Giúp anh, giúp chị vừa đôi đẹp lòng
Cho em ngựa cưỡi nhong nhong
Học theo dáng đứng cha ông giữa đời!

» Xem/Đóng đáp án

2

Trái thì chín tựa mặt trời
Lột vỏ đi rồi, hóa mặt trăng con
Trái thì chín tựa trăng tròn
Bổ đôi hiện mặt trời son rực hồng.

» Xem/Đóng đáp án

3

Vỏ như trăng mọc về đêm
Ruột tươi đỏ – mặt trời lên ban ngày
Cớ sao giễu kẻ ăn mày
Tiền xu dẫu lắm, dính đầy máu me!

» Xem/Đóng đáp án

4

Năm bảy tàu thì để không
Lấy thân đóng mảng qua sông không cầu
Có buồng nào ở được đâu
Cha con ngày tháng dãi dầu nắng mưa

» Xem/Đóng đáp án

5

Cây vuông, không lá, không hoa
Người cầm vòi tưới, xe ra xe vào
Tưới cây mới lạ lùng sao :
Từ cây nước chảy ào ào khỏi cây.

» Xem/Đóng đáp án

6

Lá to, lá nhỏ
Củ đỏ, củ trắng
Củ giống nhau chưa?
Củ đỏ thỏ ưa
Làm dưa củ trắng

» Xem/Đóng đáp án

7

Nghe tên thèm bánh tráng
Kho thịt thì hết chê
Nâng vạt váy mà hứng
Tạc dáng đứng Bến Tre.

» Xem/Đóng đáp án

8

Không thừa không thiếu
Ngồi kiệu, che dù
Khi vàng sắc nắng
Bao nhiêu nếp trắng
Biến thành đậu đen

» Xem/Đóng đáp án

9

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui
Con cái ngoan ngoãn
Cho ăn năm roi!

» Xem/Đóng đáp án

10

Tên giấy có phải giấy đâu
Giấy sao có thể dãi dầu nắng mưa
Giống pơ – luya mầu lắm cơ
Chắc ong bướm gửi thư từ cho nhau.

» Xem/Đóng đáp án

11

Hoa ngời sắc trắng nắng hanh
Thông qua giai đoạn quả, thành hạt ngay!
Hương hoa thơm dịu mà say
Từng vương tóc dài cô gái đồng xanh

» Xem/Đóng đáp án

12

Hương hoa gợi nhớ hương trà
Tên hoa gợi cảnh biệt xa não lòng
Sắc hoa bình dị trắng trong
Hoa khô rồi vẫn thơm nồng như tươi

» Xem/Đóng đáp án

13

Không máu đỏ cũng da vàng
Dẫu rằng kẻ Bắc, người Nam một nhà
Quanh năm che nụ giấu hoa
Dành hương, giữ sắc làm quà xuân sang

» Xem/Đóng đáp án

14

Chọn mùa bão táp chào đời
Mang hình tên lửa, thẳng trời vút lên.

» Xem/Đóng đáp án

15

Thân trúc, thân tre
Lá lau, lá lúa
Lá như gươm khuơ
Thân như rồng múa
Máu trắng, nhiễm đường
Sao da vẫn tía?

» Xem/Đóng đáp án

16

Nghe tên : rõ tiên nga
Sực nức mùi nước hoa
Người chê : văn hóa yếu
Người thầm thì : xấu da!
Hiểu tấm lòng thơm thảo
Sẽ đẹp dạ cả nhà.

» Xem/Đóng đáp án

17

Chín trộm ban đêm
Mùi thơm nức nở
Chông gai cắm ngoài
Ngọt ngon bọc giữa
Cả nhà vui chung
Mình tôi buồn nhớ

» Xem/Đóng đáp án

18

Thấy em là thấy hè rồi
Thơm tho đã trải, ngọt bùi đã qua
Vượt nơi hèn thấp vươn ra
Kiêu sa lắm, chớ lầm ra tôi đòi.

» Xem/Đóng đáp án

19

Có quả mà chả có hoa
Từ trong quả chín, muỗi ra bất ngờ
Quanh năm ai cũng thờ ơ
Tết mang lên tận bàn thờ tổ tiên

» Xem/Đóng đáp án

20

Cắt ngang giống hệt bánh đa
Trên cây giống hệt, bông hoa tươi hồng
Cũng là con cháu tiên rồng
Cửu Long ít ở, Thăng Long ít về

» Xem/Đóng đáp án

21

Cây gì mà lạ quá ta
Lúc nhỏ là bà, lúc lớn là ông
Đời nghèo chỉ uống nước trong
Vạn năm xanh tốt, đời không tuổi già

» Xem/Đóng đáp án

22

Chùm hoa tim tím mờ mờ
Trái như mặt đẹp vào thơ bao đời

» Xem/Đóng đáp án

23

Gỗ chẳng thể làm bàn tủ
Lá không ăn được như rau
Hoa hiếm, trái không hề có
Tự hào: Ngàn tuổi sống lâu!

» Xem/Đóng đáp án

24

Già làm nhà cửa tập tàng
Trẻ trung đan lát dần sàng nhỏ to
Non tơ lại khoái xáo cò
Thẳng ngay dẫu cháy thành tro cũng đành!

» Xem/Đóng đáp án

25

Tồng ngồng của quí khoe ra
Thế mà cứ bảo là ta biết điều!

» Xem/Đóng đáp án

26

Hoa gì nhỏ cũng bảo to?

» Xem/Đóng đáp án

27

Hoa gì vàng, trắng cũng cho là hồng?

» Xem/Đóng đáp án

28

Hoa gì không một ai trồng
Hái chơi, không trả một đồng, cũng : mua!

» Xem/Đóng đáp án

29

Hoa gì như thể lộc vua?

» Xem/Đóng đáp án

30

Hoa gì sư sãi trong chùa ngạc nhiên?

» Xem/Đóng đáp án

31

Hoa gì xinh nhỏ dịu hiền
Tên gọi gắn liền mồm miệng khuyển dương?

» Xem/Đóng đáp án

32

Hoa gì hữu sắc, vô hương
Đàn bà quí phái mang thường hôm mai?

» Xem/Đóng đáp án

33

Hoa gì nở đẹp hôm nay
Nhìn hoa ai cũng nói sai thì giờ?

» Xem/Đóng đáp án

34

Hoa gì trái đắng, chát chua
Tên nghe thơ mộng như đùa trêu nhau?

» Xem/Đóng đáp án

35

Hoa gì nhìn choáng váng đầu?

» Xem/Đóng đáp án

36

Hoa gì tưởng để giúp nhau mua hàng?

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về nhà ở (sáng tác, 49 câu) 5/5 (1)

1

Chong chóng thiệt ngộ
Không gió mới quay
Quay rồi mới gió
Sông ngòi không có
Bắc cầu mới quay.

» Xem/Đóng đáp án

2

Chỉ cần ấn chiếc nút
Trăm khán giả hét la
Hai đội bóng quốc tế
Tranh giải trong… góc nhà.

» Xem/Đóng đáp án

3

Mùa đông ở nước nào đây
Có pom, nho đúng bên Tây đó mà
Thế nhưng vẫn giống bên ta
Rau muống ở dưới, trứng gà ở trên
Ái chà, chả sợ thiếu kem.

» Xem/Đóng đáp án

4

Tưởng đâu ma quỷ hiện hình
Rõ giọng người tình, vạn dặm xa xôi
Ung dung áp má hoa khôi
Rỉ tai tổng thống, hôn môi nữ hoàng.

» Xem/Đóng đáp án

5

Một mồm trăm giọng phát ra
Tưởng trong vật ấy có ma ẩn tàng
Giữa đường, quán nhậu, cơ quan
Xa xôi, gấp gáp sẵn sàng có nhau!

» Xem/Đóng đáp án

6

Đứa thì gan ruột sục sôi
Đứa thì lòng dạ suốt đời giá băng
Cũng là việc nước lo toan
Mấy cuộc luận bàn mà vắng chúng tôi.

» Xem/Đóng đáp án

7

Người bảo tôi đen huyền
Người chê, khen : tối, sáng
Đêm hội thái bình tôi lại hành quân
Đất nước chiến tranh tôi từng đứng gác.

» Xem/Đóng đáp án

8

Mới mọc thì cao
Mọc lâu thấp bớt
Trái ớt trên đầu
Đèn sao mời rước
Mặc ai vui cười
Lệ tôi sướt mướt.

» Xem/Đóng đáp án

9

Dại khôn dồn ra đó
Nhìn nó rõ hình dong
Chọn kỹ mà gửi của
Đủ xanh, bủng, đen, hồng.

» Xem/Đóng đáp án

10

Bệnh vào qua nó
Vạ ra qua nó
Lúc có thép gang
Khi trôn trẻ nhỏ
Quán đổ đình xiêu
Ăn nhiều núi lở

» Xem/Đóng đáp án

11

Hương hoa nghi ngút như rồng lên mây
Chắp tay khấn nguyện vài giây
Tức thì có trái ăn ngay, xin mời!

» Xem/Đóng đáp án

12

So với yếm dãi thì hơi nhỏ
Trẻ thò lò mũi lại không xài
Đợi đến ngày vui đem … thắt cổ
Tiếp viên, tài xế thắt lai rai.

» Xem/Đóng đáp án

13

Khi em mặc áo mầu hoa
Khi mang áo giáp nuột nà song mây
Bao mơ mộng đẹp từ đây
Từ đây bao tứ thơ hay nẩy vần.

» Xem/Đóng đáp án

14

Ban ngày ngủ đứng một nơi
Thức canh giấc ngủ cho người canh thâu
Nón không rời, nắng ở đâu?
Thưa rằng : Nắng ở trong đầu mà ra!

» Xem/Đóng đáp án

15

Nhìn ngoài như chiếc rọc dừa
Phía trong hun hút dẫn đưa hai đường
Lối đi của những mùi hương
Gió thổi bất thường cứ đổi chiều luôn.

» Xem/Đóng đáp án

16

Không mồm, không mắt
Chân không nhúc nhắc
Dùng mặt để … ăn!

» Xem/Đóng đáp án

17

Vênh váo là rất hại
Ái ngại chị chìa vôi
Rất thương người mỗi miếng
Tôi dâng mời tận môi
Đừng đem tôi trả bạn
Kẻo mang tiếng hẹp hòi.

» Xem/Đóng đáp án

18

Chồng có răng không lưỡi
Vợ có lưỡi không răng.
Chúng tôi ra đồng áng
Quý vị vào bàn ăn.

» Xem/Đóng đáp án

19

Hạt gì quả lớn mông mênh
Cá không ăn chẳng để dành được lâu
Lúc trong quả chả thấy đâu
Lúc đem bỏ lọ, hiện màu trắng tinh.

» Xem/Đóng đáp án

20

Phải đâu bát phở ăn chơi
Gắn bó một đời như thể vợ ta
Thảo thơm nuôi sống mọi nhà
Nhưng sao mẹ ruột lại là đàn ông?
Có khi nào hóa cá không?

» Xem/Đóng đáp án

21

Dẻo mềm đến thế thôi mà
Da trơn, da trắng, nõn nà đáng yêu
Nào măng, nào mọc, nào riêu
Ốc, bò, thịt nướng … bao nhiêu vẫn thèm.

» Xem/Đóng đáp án

22

Vừa bằng đồng xu
Cho vô chảo mỡ
Bỗng nở như hoa
Chỉ dăm chiếc đĩa
Đầy ba gian nhà.

» Xem/Đóng đáp án

23

Mặt tròn da trắng
Duyên em nhờ lắm tàn nhang
Gặp lửa gặp than
Phát ban càng nhiều càng thích.

» Xem/Đóng đáp án

24

Khi ngủ thì đứng
Lúc ăn lại nằm
Ham ăn cho sướng
Bị người chặt băm.

» Xem/Đóng đáp án

25

Càng rửa lại càng bẩn
Rửa rồi để làm chi?
Thôi đừng hỏi lẩn thẩn
Rửa rồi thì … đổ đi!

» Xem/Đóng đáp án

26

Còn hơi : rõ cái hon – đa
Hết hơi : hòn đá sao mà rinh đây?

» Xem/Đóng đáp án

27

Có dựa ai đâu nào?
Tôi tự mình đứng thẳng
Muốn giúp bạn lên cao
Nên tôi cần cao cẳng.

» Xem/Đóng đáp án

28

Mồm không, tai mũi cũng không
Có trăm ngàn mắt song song đan cài
Người dùng để bắt chim trời
Trời dùng để bắt những người bất lương.

» Xem/Đóng đáp án

29

Rửa mặt thì lâu
Gội đầu thì chóng
Cứ ngỡ cúi đầu
Thì ra râu quai nón!

» Xem/Đóng đáp án

30

Ăn cơm thì nuốt
Uống nước thì nhai
Đi dạo phố ngoài
Trẻ em phải dắt.

» Xem/Đóng đáp án

31

Một mẹ bốn năm con
Con da đẹp, miệng tròn
Tính tình mẹ thiệt ngộ
Khách đàn ông đến nhà
Vạch vú cho con bú
Đợi khách hôn con xong
Lại cho con bú nữa

» Xem/Đóng đáp án

32

Đàn bà con gái rất yêu
Chỉ đi tu mới ra chiều dửng dưng
Mềm như nhựa, cứng như sừng
Dùng nó coi chừng, kẻo lại gẫy răng

» Xem/Đóng đáp án

33

No say rồi lấy em đi
Giúp anh cái khoản thứ nhì được chăng?
Em đâu còn tuổi thơ măng
Mất em, có kiếm cũng bằng công toi

» Xem/Đóng đáp án

34

Cắm vào là nó nóng lên
Chà đi kéo lại nước liền rỉ ra
Khum khum như cái bàn là
Đàn ông đã thích, đàn bà thích hơn

» Xem/Đóng đáp án

35

Một mẹ sinh được trăm con
Đứa nào đứa nấy thon tròn thấy mê
Con thường ăn uống no nê
Mẹ vò võ đợi con về ẵm con

» Xem/Đóng đáp án

36

Một nhà mấy chục người con
Da mầu da trắng xinh tròn dễ thương
Tháng năm gần gũi học đường
Hóa hình hóa chữ, thịt xương mỏi mòn

» Xem/Đóng đáp án

37

Một cây chỉ có lá hoa
Giầu nghèo đều có, gần xa đều trồng
Lá rơi bởi mắt người trông
Làm cho xuân hạ thu đông chuyển vần

» Xem/Đóng đáp án

38

Nhà trăm người dáng hao hao
Trán dô, đầu lớn, thân cao, hiền hòa
Từng người bị bắt đi xa
Bất bình đầu đập tường nhà tự thiêu

» Xem/Đóng đáp án

39

Nhìn hoài mà vẫn nhói đau
Tàn tro hay đấy tóc mầu muối tiêu?
Thời gian cháy khói hắt hiu
Hỡi ơi, lần lữa hỏa thiêu đời mình

» Xem/Đóng đáp án

40

Ta vểnh hai sợi râu lên
Cả nhà nghe nhìn thêm tỏ
Cảnh xa, người lạ đây đó
Chính ta bắt, dẫn vào nhà
Ta tinh vi, ta nhậy bén
Cóc cần ai ngắm nhìn ta

» Xem/Đóng đáp án

41

Hơn cánh phản nằm im suốt đêm ngày
Hơn cánh cửa xoay không trọn vòng quay
So cánh chim, kém lắm:
Chẳng bao giờ biết bay

» Xem/Đóng đáp án

42

Răng mọc ở lưỡi
Lưỡi mọc ở tay
Ăn ván nhai cây
Suốt ngày gậm, nhả…

» Xem/Đóng đáp án

43

Có ăn kem que đâu nào
Cớ sao từ ấy vận vào tên tôi
Lớn thì lo việc nằm ngồi
Nhỏ đi lao động ở nơi giảng đường

» Xem/Đóng đáp án

44

Đừng lầm kẻ ở, người đi
Đừng lầm kích thước so bì đúng sai
Rượu ngon, trà đậm, “cốc tai”…
Một đời việc nước không sai tấc lòng

» Xem/Đóng đáp án

45

Ôm chân, liếm gót người
Dẫm đạp chẳng chừa nơi
Xưa trơn da, phổng mũi
Giờ há mõm, vều môi

» Xem/Đóng đáp án

46

Nào ai che mắt ai đâu
Gần xa, mờ tỏ giúp nhau đấy mà
Chắn gió bụi, che nắng lòa
Ra đường “dâm” chút, về nhà hết “dâm”

» Xem/Đóng đáp án

47

Biết gì mà nghĩ?
Thì gật lắc thôi!
Đít bằng gang đúc
Chẳng buông chỗ ngồi
Bụng to, đầu rỗng
Rõ là đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

48

Đầu là đầu mượn, đầu thuê
Đông tây kim cổ cà kê đủ điều
Hết vua kịch, lại hề chèo
Toàn là chuyện đặt rất nhiều người tin

» Xem/Đóng đáp án

49

Mùi thiền đã bén từ lâu
Chẳng ưa thì bảo có sâu có dòi
Tôi rầu là bởi thế thôi
Người chê, người lại mê tôi hơn chồng
Xuân sang, giầu có mặc lòng
Bỏ gì thì bỏ, khó lòng bỏ tôi

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về trường học (sáng tác, 28 câu) 4.75/5 (4)

1

Mặt tròn, rõ da thú
Thân trụ, rõ thân cây
Ruột, gan… thiếu đủ thứ
Người đặt tên cho mày
Mày cố tình bưng bít
Oan ức gì nữa đây?
Mang mày ra, người đánh
Mày kêu động trời mây!

» Xem/Đóng đáp án

Cái trống
Có 4 câu cần giải thích: câu 3 và câu 4 giải thích tại sao có tên là cái “trống”. “ Trống” cũng có nghĩa là “rỗng”. Câu 5 và câu 6 muốn nói sự mâu thuẫn giữa tên cái trống và cái “trống” được bưng rất “kín”.

2

Có chân mà chẳng biết đi
Luận đàm mà chẳng nói gì thế ư?

» Xem/Đóng đáp án

Cái bàn
Ở bài này, dùng lối chơi chữ, dùng các từ đồng âm dị nghĩa: danh từ “bàn” là chỉ vật dụng để ngồi quanh ăn uống hoặc hội họp; động từ “bàn” là bàn luận, bàn bạc. Cái vật tên là “bàn” nhưng lại không biết nói. Cũng nhắc ta trước khi đi họp bàn nên chuẩn bị trước ý kiến để phát biểu.

3

Như thể con lừa khom bốn vó
Quanh năm ngửa mặt để người ngồi
Phương Tây lãi nhất buôn hàng đó
Lừa bạn phản thầy bởi nó thôi

» Xem/Đóng đáp án

Ghế
Hai câu đầu tả hình dạng cái ghế dựa. Mặt ghế chính là chỗ để ngồi. Hai câu sau, chữ “ghế” được dùng theo nghĩa bóng chỉ địa vị, quyền chức. Ở phương Tây, nơi đồng tiền quyết định tất cả, mọi thứ trên đời kể cả vật chất lẫn tinh thần đều trở thành hàng hóa thì việc “buôn quan, bán chức” là ngành kinh doanh thu nhiều lợi nhất và vì vậy cũng dẫn đến nhiều điều thất nhân tâm, vô đạo đức nhất.

4

Người lau, người đánh phấn
Mặt tôi vẫn đen nhèm
Nhưng nếu mặt tôi trắng
Người chớ ngại bôi đen
Bao hồng hào sáng láng
Ở mặt ngời nhìn lên

» Xem/Đóng đáp án

Tấm bảng (trong lớp học)
Hai câu đầu nói về bảng đen với các động tác lau bảng, viết phấn lên bảng; hai câu tiếp nói về tấm bảng mica trắng phải dùng bút mực màu sẫm (xanh hoặc đen) viết mới rõ nét. Hai câu cuối nói về các gương mặt học sinh sáng láng thêm khi tiếp nhận các kiến thức mới được trình bày trên bảng.

5

Em đây phận trắng, tấm thân tròn
Vì nghiệp trăm năm chẳng sợ mòn
Vạch giữa đêm đen làn chớp sáng
Cho ngời những cặp mắt tơ non

» Xem/Đóng đáp án

Viên phấn
Câu 1 tả viên phấn về hình dáng, màu sắc và vẻ đẹp tinh thần của nó. Câu 2 nhắc lời Bác: “Vì lợi ích mười năm trồng cây / Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Nghiệp trăm năm ở đây là sự nghiệp giáo dục. Nét phấn trắng viết trên bảng đen như nét chớp sáng trong đêm tối. “ Mắt tơ non” là mắt sáng các em học sinh.

6

Rõ ràng lọ nước
Nào phải suốt tơ
Bút kéo thành sợi
Dệt thành văn thơ

» Xem/Đóng đáp án

Lọ mực
Khi viết chữ, cây viết giống như chiếc thoi, viết ra chữ giống như những sợi tơ dệt thành bài văn, bài thơ.

7

Đôi chân dài ngoẵng
Đầu mình nhỏ thon
Theo bàn chân lượn
Mọc vầng trăng con

» Xem/Đóng đáp án

Kom pa

8

Nghe tên rõ một nhà văn
Viết không được, chỉ rình nhằm người sai
Xóa bôi chẳng nể sợ ai
Một mai ruột rỗng, nghiệp đời còn chi?

» Xem/Đóng đáp án

Cây bút xóa
Nhà văn cũng hay được gọi là “cây bút”. Cây bút xóa không để lại chữ. Tất nhiên cây bút xóa là vật rất cần thiết khi có sự viết sai.

9

Ta tuy nhỏ bé tí teo
Thông tường toán pháp, ai theo cho bằng
Ta đi giúp chị bán hàng
Sinh viên hỏi toán, ta làm như chơi
Nhưng đừng nhầm nhe, bạn ơi:
Ta đâu thay được óc người nghĩ suy

» Xem/Đóng đáp án

Máy tính bỏ túi
Chỉ có hai câu cuối cần lưu ý: học “toán” khác hẳn với học “tính”. Không nên ỷ lại kỹ thuật tính toán mà ảnh hưởng đến phương pháp suy nghĩ, tìm hiểu bản chất của các công thức, các qui luật trong toán học.

10

Tính sao, tên làm vậy
Chết đứng lúc bình yên
Bị người xô, kẻ đẩy
Lại bất ngờ khỏe lên

» Xem/Đóng đáp án

Con lắc
Câu đố này là một bài thơ của Đặng Hấn có tên “con lắc” với câu đầu : “lạ thay cái con lắc”. Nhà thơ Hoài Anh bình : Đặng Hấn đưa ra nghịch lý, rồi chứng minh ngược lại thấy là rất thuận lý. Chỉ có gian nan mới làm tỏ tài anh hùng, có trắc trở mới kích thích cho người ta phải phấn đấu, để giành lấy thành công, bởi vì: “chiến đấu gian lao thì thắng trận mới vinh hiển”.

11

Không phải lắc ngọc, vòng vàng
Đừng nhầm tôi để khoe sang, khoe giàu
Tôi đong đo thứ không màu
Không mùi, không vị, không đầu, không đuôi
Thứ làm nên mọi cuộc đời

» Xem/Đóng đáp án

Đồng hồ đeo tay
Bài thơ nhắc nhở mọi người sử dụng đúng chức năng của chiếc đồng hồ. Trong bài Tản mạn quanh chiếc đồng hồ trên THT số đầu năm 1999, Đặng Hấn đã có nhận xét: số đồng hồ trong xã hội càng tăng thì kỷ luật về giờ giấc càng giảm. Nhất là trong các sinh hoạt tập thể: đám cưới, họp hành… kể cả các buổi học ở nhiều trường Đại Học hiện nay.

12

Của tin gọi một chút này
Trăm năm duyên số từ đây định rồi
Cũng khi chỉ để đẹp thôi
Hoặc là để nhắc nhở người bền gan

» Xem/Đóng đáp án

Nhẫn
Nhẫn thường được trao nhau để đính hôn; nhẫn cũng có thể để chỉ mang cho đẹp (thường phụ nữ hay mang hơn nên hay gọi là “nữ trang”). “Nhẫn” có nghĩa là “nhẫn nại”, “kiên nhẫn”. Nhiều người mang nhẫn (hay “buộc chỉ cổ tay”) để nhắc mình nhớ một điều gì đó.

13

Số tôi đã chẳng hợp ai
Đường đi ngắn cũng hóa dài, nhọc công
Tôi đưa bạn đến mọi vùng
Chông gai tôi nhận, lạnh lùng tôi che

» Xem/Đóng đáp án

Đôi giày
Câu 1 nhắc một thành ngữ dân gian : “Giày dép còn có số”. Câu 4 cho ta thấy đây là giày, chứ không phải dép, mới giữ cho ấm chân.

14

Núp tôi họ né tránh trời
Dùng tôi quy chụp khiến người thấm đau
Cần tôi họ đội lên đầu
Hết cần họ bỏ tôi sầu cô đơn!

» Xem/Đóng đáp án

Cái mũ
Câu 1 : dùng mũ che mưa nắng. Câu 2 : “quy chụp” là “chụp mũ”, qui kết sai cho người khác. Câu 3 : “Đội lên đầu” còn có ý là tâng bốc, luồn cúi người khác. Câu cuối nhắc ta phải biết quý trọng những gì giúp ta ngay cả khi ta không còn cần nữa, phải biết nhớ ơn những ai ta đã mang ơn.

15

Nhìn đầu: Châu Á
Nhìn cả hóa Âu
Khi dài, khi ngắn
Khi trắng, khi màu
Nuốt người nhưng vẫn chừa đầu người ra.

» Xem/Đóng đáp án

Áo
Hai câu đầu là “chiết tự” chữ “áo” : Phần đầu là chữ Á, toàn bộ là “Áo”– tên một nước ở Châu Âu. Ở câu 3: “áo ngắn” là chỉ tầng lớp bình dân: “Dân áo ngắn”, “Áo cộc, quần manh”, “Áo ngắn giũ chẳng nên dài”. Trong câu 3 “áo trắng” thường chỉ nữ sinh – Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong (Huy Cận), Áo trắng là áo trắng ơi! (Nguyễn Duy). Câu cuối nhắc thành ngữ Áo mặc sao qua khỏi đầu.

16

Sắc như dao
Sáng như sao
Mở ra là thực
Khép vào là mơ

» Xem/Đóng đáp án

Mắt thanh xuân
Câu đầu lấy ý ca dao: Con dao vàng rọc lá trầu vàng / Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa. Hai câu cuối mắt sáng nhìn tỏ rõ mọi vật, khi nhắm lại là cả một thế giới mộng mơ, hồi ức, tưởng tượng hiện ra trong trí óc.

17

Xay gạo ngày, giã gạo đêm
Chùa nhà chưa chắc, vái thêm bụt ngoài
Cà phê đặc để… ngáp hoài
Cái hôn ư? hết năm nay, xin chờ!

» Xem/Đóng đáp án

Mùa thi
Câu 1 nói học “gạo” suốt ngày, suốt đêm. Câu 2 nói học ở trường mình chưa cảm thấy chắc ăn phải học thêm ở trường khác. Câu 3: bằng mọi cách chống buồn ngủ mà không được. Câu 4: nhắc thơ Xuân Diệu Mùa thi sắp tới! – Em thơ / Chiếc hôn âu yếm xin chờ năm sau.

18

Tê đầu, rồi hắt xì hơi
Lại i như thế!
Trời ơi khó vào!

» Xem/Đóng đáp án

Học thi
Hai câu đầu chiết tự chữ “thi” có chữ “tê” ở đầu đến chữ “hắt” rồi “I như thế” là nói chữ “I”. Câu thứ 3 là nói học quá nhiều môn một lúc nên rất khó thuộc, khó “vào”. Cả bài thơ toát lên không khí mệt mỏi, căng thẳng trong những kỳ học để chuẩn bị thi.

19

Bảo xem thì quẳng cho xa
Cấm xem lén lút mở ra mà nhìn

» Xem/Đóng đáp án

Tài liệu học tập của học sinh lười, kỷ luật kém.
Lúc thầy bảo về nhà xem thì quẳng tài liệu sách vở để đi chơi. Lúc thi, cấm xem thì lén lút mở nhìn trộm.

20

Không ở gà hoặc vịt bông
Và không nổ được vì không có ngòi
Không đi câu, chẳng đi bơi
Lại theo những học sinh lười đi thi.

» Xem/Đóng đáp án

Phao
Câu đầu nói ở gà hay vịt đều có bộ phận gọi là “phao câu”. Câu 2 nói chữ “phao” là chữ “pháo” bị mất dấu sắc (cái ngòi). Phao cũng có ở cần câu và để đi bơi. Qua câu cuối biết đây là “phao cứu hộ” của học sinh không chịu học bài trong phòng thi.

21

Bạn mang tâm sự trong bao
Có chúng tôi vào, mọc cánh bay xa
Nhẹ thì bớt chúng tôi ra
Nặng thêm vào nữa, gấp ba bốn lần!

» Xem/Đóng đáp án

Con tem thư
“Tâm sự trong bao” là lá thư để trong phong bì. Thư có dán tem mới được chuyển đi. Thư càng nặng càng phải dán nhiều tem.

22

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trăm vuốt, ngàn ve vẫn chẳng mòn
Quân tử có thương đừng đập, giật
Cứ nâng, xứ xoáy mặc ai nhòm.

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bàn
Bài này nhại theo bài vịnh Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương : Thân em vừa trắng lại vừa tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non / Rắn nát mặt dầu tay kẻ nặn / Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Các từ “vuốt”, “ve”, “giật”, “đập”, “líp”, “xoáy”, “nâng”, … đều là các động tác trong khi đánh bóng bàn. “Mặc ai nhòm” ở câu cuối là nói dù khán giả xem đánh bóng bàn đông, cũng không nên mất bình tĩnh thì đánh mới tốt.

23

So bề to khỏe chẳng thua ai
Khẽ chạm vô chân, té sõng soài!
Mấy trẻ ầm ào vào trận giỡn
Toàn cầu sửng sốt phục tài trai!

» Xem/Đóng đáp án

Bóng đá
Câu 1 và 2 nói về đặc điểm các cầu thủ : to khỏe nhưng cũng rất hay “ăn vạ” để trọng tài phạt đối phương. Đến các danh thủ như Marađôna … cũng nhiều lần bị trọng tài phạt vì “té xạo”. Hai câu cuối : bóng đá là trò chơi của tuổi trẻ nhưng cũng được cả thế giới mê thích, các cầu thủ xuất sắc được rất nhiều người mến phục.

24

Khó thành họa sĩ vì ngắm nhiều tranh
Hết thành nhà văn vì xem nhiều truyện
Nhà văn lão luyện, họa sĩ có danh
Nhờ lộc mày ban, trổ tài … trượt tuyết.

» Xem/Đóng đáp án

Truyện tranh dỏm
Hai câu đầu nói tác hại của truyện tranh dỏm đến thẩm mỹ và thị hiếu của bạn đọc trẻ. Hai câu sau nói tác hại đối với các tác giả, chạy theo lợi nhuận làm giảm dần khả năng sáng tạo của mình, chỉ còn khả năng sao chép hoặc quá dễ dãi về nghệ thuật. (Nhớ rằng ở dây chỉ nói truyện tranh dở chứ không nói truyện tranh hay, được các nhà xuất bản có uy tín chọn in một cách nghiêm túc)

25

Chân dài chỉ một sợi thôi
Cái đầu nhẹ thếch, thích trồi lên cao
Dáng thì dáng bí dáng bầu
Xanh xanh đỏ đỏ rõ màu đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bay

26

Tưởng vật lý hay tin học
Té ra chỉ là trò chơi
Tất nhiên là hấp dẫn lắm
Nhưng vừa vừa chứ bạn ơi
Lúc đầu là “khùng không nhẹ”
“Cái chết” nằm ở phần đuôi

» Xem/Đóng đáp án

Trò chơi điện tử
Câu 1 : Điện tử là một ngành của vật lý học, chơi điện tử cần có máy vi tính như làm tin học. Hai câu cuối là bàn về chữ Điện : “Điên nặng” tức là “Khùng không nhẹ” và “tử” còn có nghĩa là “chết”.

27

Thân tròn, mình trắng, đuôi vàng
Người càng cố kéo, nó càng ngắn hơn
Đời người cũng ngắn theo luôn!

» Xem/Đóng đáp án

Điếu thuốc lá
Câu đầu tả hình dáng điếu thuốc lá. Câu hai, do chữ “kéo” nghĩa là làm dài một vật gì đó ra lại hay được dùng để thay cho chữ “rít”, chữ “hút” : “Kéo một hơi (thuốc)” nên đã tạo ra một “mâu thuẫn” giả. Câu 3 nhắc một sự thật : hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ và sinh nhiều bệnh về đường hô hấp.

28

Người gọi “trắng”, người : “bóng đen”
Nghề tôi có tiền, nhưng “hậu” thì không
Bạn ham một phút “thượng đồng”
Suốt đời sẽ được sống cùng quỉ ma.

» Xem/Đóng đáp án

Ma túy
Ma túy hay được gọi là “hàng trắng”, là “bạch phiến”. Do nó gây tai họa lén lút nên cũng gọi là “bóng đen” đặc biệt hay nói “bóng đen xâm nhập học đường”. Câu hai : buôn ma túy lãi nhiều nhưng không bị vào tù cũng bị bọn maphia thanh toán để bịt đầu mối. 2 câu cuối : bạn tò mò hút, chích thử để “thưởng thức” cảm giác đê mê của ma túy thì dù chỉ một vài lần là sẽ trở nên nghiện ngập, sống cùng bọn xì ke trộm cướp, bị cách ly khỏi cộng đồng.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về chữ (sáng tác, 56 câu)

1

Để nguyên khi khuyết, khi tròn
Cắt cho ngắn, lại thành con vật dài

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Khi cắt bớt đuôi sẽ thành con trăn.

2

Thân, đuôi giống hệt của heo
Vừa thôi không “hát”, bé teo không ngờ
Bớt nửa giữa lại phình to
Rành rành thứ ấy để thờ eo ôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Theo
“Không hát” tức là bỏ chữ “h”. Ở câu cuối, “thờ eo” là đánh vần chữ “theo”

3

Vừa nhút nha nhút nhát
Chỉ chạy trốn là tài
Hết tê đầu, mang nón
Đã hùng hổ ra oai

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thỏ
Hết tê đầu, tức là bỏ chữ “tê” ở đầu, và thêm dấu “^” sẽ thành chữ “hổ”.

4

Rõ to, quả có tiếng đồn
Bớt đi cọng cỏ, chỉ còn cái đinh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đình
Cọng cỏ ở đây là dấu huyền

5

Chặt đầu mới hối
Tha tội quấy hôi
Xóa dấu, chặt đuôi
Văng lời thô tục

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thối

6

Bên trái rõ thực chúng mình
Bên phải mười một rành rành chẳng sai
Bớt mười lập tức vảnh tai
Cần thì gọi, tội đường dài ngại chi

» Xem/Đóng đáp án

Chữ TAXI
“Ta” là chúng mình. “Ngại chi” là chạy taxi đường dài hơi tốn tiền.

7

Trên đầu ta là nó
Là nó lúc mất đuôi
Lật ngược để xuôi vẫn là nó

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nón
Nón tất nhiên đội trên đầu

8

Một nét đầu rơi, thoảng gió nồm
Mắt huyền vừa nhắm, đã “em” ôm
“Em” sau, “em” trước, ồ vui nhỉ
Nhìn ngược nhìn xuôi chỉ thấy mồm.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mồm
Một nét đầu rơi là chữ “m” bỏ một nét đầu thành chữ “n”. Mắt huyền nhắm là bỏ dấu huyền đi. “Em” là đọc lướt của chữ “ em mờ”

9

Ăn chay nên thích trái cây
Mỗi năm thêm một, ai vay được trời

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tuổi
Ăn chay là tu, trái cây ở đây là Ổi

10

Suốt đời em bị ngờ oan
Trước sau mọi việc vẹn toàn siêng năng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ngoan
Ngờ oan là đánh vần chữ ngoan

11

Để nguyên tăm tối mầu than
Chém ngang một nhát, sáng choang cửa nhà

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đèn
Chém ngang một nhát là đánh dấu huyền

12

Không ngờ lại được tha
Che đầu vào hang trốn
Thôi hát, hết leo cao
Mời ò e cờ phướn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thang
Thôi hát là bỏ chữ “h” không còn là chữ thang nữa mà thành chữ tang nghĩa là có đám ma.

13

Đầu bò, mình rắn, đuôi ngan
Tên bay, đạn nổ, tin sang cho mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bắn
Trong chữ “ Bò” thì phần đầu là chữ cái “b”, trong chữ “rắn” thì phần giữa là chữ “ắ”; trong chữ ngan phần đuôi là chữ “n”. Ở câu 2 bắn có thể là bắn tên (bằng cung), bắn đạn (bằng súng) và “bắn tin” : bắn tin sang mụ Tú bà (Kiều).

14

Nửa đầu đựng sữa, pha trà
Toàn phần còn có nghĩa là “ngó trông”
Rau suông, hến, cá, cua đồng…
Chở xe hơi (chọn loại không ô đầu)

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Canh
Nửa đầu chữ canh là “ca”. Chữ “canh” có nghĩa là canh gác hoặc ngó trông. Câu 3 kể một số loại canh. Câu 4 : canh đựng trong tô (từ chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu)

15

Đợi o một kiếp chẳng nề
Suốt đời ta chẳng nhận về mảy may

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cho
“Đợi” nghĩa là “chờ”. “chờ o” là đánh vần chữ “cho”. Chữ cho ngược nghĩa với chữ “nhận”./toggle]

[tabby title="16"]Không đầu, không dấu thì ưa
Không đuôi, không dấu hóa thừa thãi ra
Không đầu đuôi, cứ ậm à…
Để nguyên ngon ngọt, rõ là trái cây[toggle]Chữ Dưa, Dừa, Dứa
Ở câu thứ 3: ư, ừ, ứ… có thể xem là “ậm à ậm ừ!”. Câu cuối có thể coi vừa đố, vừa giảng./toggle]

[tabby title="17"]Chặt đầu, cất tiếng kêu thương
Cắt đuôi lại hóa to xương, lớn người
Muốn dùng, cắt cả đầu đuôi
Che mưa gió, che nắng nôi trên đầu
Nguyên lành giữ trọn trước sau
Sẽ thành một cặp bên nhau khó rời![toggle]Chữ Đôi
“Ôi” là tiếng kêu thương; “đô” là to con, lớn người; “Ô” (hay dù) để che mưa nắng. “Đôi” cũng có nghĩa là một cặp.

18

Chặt đuôi thì ho
Che đầu thì khóc
Đầu đuôi, giấu hết
Đẻ trứng tròn vo
Giữ nguyên vẹn cho
Nở xòe cánh đẹp

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hoa
Ở câu 4 muốn nhắc : O tròn như quả trứng gà.

19

Lấy ca mà để đầu em
Nóng ăn thì lạnh, nhịn thèm thì tan

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Kem
Chữ cái K cũng được đọc là “ca”; chữ “nóng ăn” ở câu 2 có nghĩa là ăn vội, ăn ngay.

20

Bóc vỏ: củ hóa thành hoa!
Lột lần vỏ nữa: hiện ra trứng tròn
No cơm, ọ ẹ…, khen ngon
Gặp miền đất lạ: xòn xòn đẻ sai
Nướng thì thơm, bỏ ruột thì… khai!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoai
Chữ “Khoai” bỏ K và i là chữ hoa; Bỏ h và a còn chữ O (O tròn như quả trứng gà). 3 câu tiếp nhắc các thành ngữ: No cơm tẻ, ọ ẹ khoai lang; Khoai đất lạ, mạ đất quen; Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng (rất thơm). Chữ “Khoai” bỏ chữ o ở giữa còn lại chữ khai

21

Chặt đuôi Miền Bắc gọi vừng
Bỏ giữa Bờm mừng đổi được nắm xôi
Che đầu : èo uột khó nuôi
Để nguyên bắt chuột hoặc ngồi đống tro

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mèo
Miền Bắc gọi là “Vừng” (muối vừng), Miền Nam gọi là “mè”. Bỏ chữ è còn lại “mo”(thằng Bờm có cái quạt mo…). Các phần khác đã rõ.

22

Phải o có nón tàng hình
O vừa đứng đó đã thành cái ô
Nếu cầm thêm một lá cờ
O đàng trong lại hóa o đàng ngoài.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ O
Miền trong gọi O (em hoặc chị của bố) thì Miền Bắc (đàng ngoài) gọi là cô. O đội nón vào thì chỉ còn là cái ô; nếu thêm chữ C (chữ “cờ”) lại thành chữ cô.

23

Dù che trước, dù che sau
Chẳng may mất đầu thì lấy đựng canh
Bởi chưng tê mẩy, tê mình
Chạy đôn chạy đáo kêu inh cả làng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ôtô
“Ô” cũng có nghĩa là “dù”. Chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu còn lại là chữ “tô”, dụng cụ để đựng canh hay phở … Giữa (mình ) chữ ôtô là chữ “t”đọc là “tê” (tê buốt). Ôtô thường chạy đây chạy đó, tiếng động cơ và tiếng còi xe kêu inh ỏi.

24

Không tin là bởi nửa sau
Đem rán nửa đầu xem có thơm không
Khi nhà ở, lúc lông bông
Bạn nào chưa biết, rờ ông biết liền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Rông
“Nửa đuôi” là “ng”, thường được đánh vần là”ngờ” tức không tin. Nửa đầu nhắc thành ngữ “Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng” tức là rất thơm. “Nhà rông” để ở, “chạy rông” là đi lông bông. Câu cuối đánh vần chữ “rông”. Câu đố này thuộc loại “vừa đố vừa giảng”, dân gian hay sử dụng.

25

Đã sờ còn tức ách gì
Khi chia đôi có sá chi đợi chờ

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Sách
Câu đầu là đánh vần chữ “sách”. Chữ sách chia đôi có 2 phần : “sá” (sá chi) và “ch” đọc là “chờ” (đợi chờ).

26

Giấu đầu thì hỏi
Giấu đuôi : trả lời
Giấu cả đầu đuôi
Reo lên vui thích
Không hề bưng bít
Thin thít lắng nghe

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tai
Chữ “ai?” là để hỏi; chữ “ta!” là để trả lời; chữ “a!” hay được kêu lên khi vui thích ngạc nhiên. Không che đi chữ cái nào, ta lại có chữ “tai” là bộ phận trong cơ thể con người và động vật dùng để nghe.

27

Bỏ nón: thành bánh
Để nón: xuân sang
Có nón hay không nón
Vẫn bạn với mai vàng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Chữ “tết” bỏ dấu “^” thành chữ “tét”; mai vàng và bánh tét là những thứ gần như không thể thiếu trong gia đình người Miền Nam vào dịp tết nguyên đán.

28

Tê đầu tê đuôi
Ê mình ê mẩy
Bia rượu mềm môi
Phong lưu biết mấy

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Hai câu đầu (lấy từ câu đố dân gian Việt Nam) chiết tự chữ “tết” và cũng nói cảm giác mệt mỏi do hoạt động nhiều vào dịp tết. Hai câu sau nhắc thơ Tú Xương: Phong lưu đệ nhất ba ngày tết / Túng kiết như ai cũng rượu chè.

29

Còn đầu thì tóc mọc ra
Cắt đuôi, búi tó, vậy mà lại xinh
Xem ra đệ nhất tài tình
Mất đầu mà óc rành rành còn nguyên

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tóc

30

Bỏ đầu mọc răng
Chặt đuôi hóa rắn
Muốn được lời khuyên
Đầu đuôi bỏ hẳn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Chỉ cần nói thêm chữ “răn” là “khuyên răn”, “răn dạy”.

31

Dấu đầu lại hở râu ra!
Cắt đuôi, xóa dấu: đem mà thả ao
Vì thiếu dấu mới xa cau
Quanh năm đồng cạn đồng sâu nhọc nhằn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trâu
Chữ “trâu” bỏ chữ “u” và xóa dấu”^” là chữ “Tra” một loại cá gần giống cá trê nhưng có màu trắng, có nhiều ở Miền Tây Nam Bộ. Nếu chữ “Trâu” có thêm dấu huyền sẽ thành “Trầu” và khi đó sẽ gần với cau. Câu cuối nhắc câu ca dao Trên đồng cạn, dưới đồng sâu / Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

32

Hai đầu giải tỏa cả
Vạn mét vuông có ngay
Chỉ một đầu giải tỏa
Dẫu sao cũng còn hay
Để nguyên vẹn hơi găy
Chỉ ngồi chơi xơi nước!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khay
Vạn mét vuông là một hécta, viết tắt là “ha”. Khay là đồ dùng trong bộ uống trà.

33

Cắt đuôi : chim hóa thú
Đuôi ngắn lại thì hôi
Chia hai phần lớn nhỏ
Kìa: thú y đến rối!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thúy
Chim thúy, cũng có nơi gọi là chim trả vì thúy cũng có nghĩa là mầu xanh ngọc. Thay chữ y bằng chũ i, chữ thúy thành chữ “thúi”

34

Lo làm thơm đẹp mặt người
Chính mình hết đẹp, kẻ cười rằng hôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Phấn
Hết đẹp tức là mất sắc, phấn sẽ thành phân

35

Chẵn lẻ âm dương vốn tự nhiên
Vờ ngu giả ngốc để cầu yên
Lăn quay một cái thành ra họ
Thề thốt để khoe có mắt huyền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nguyên
Các số nguyên gồm các số tự nhiên, các số tự nhiên mang thêm dấu âm và được phân chẵn và lẻ. Chữ Nguyên do chữ “ngu” và chữ “yên” tạo thành.Thêm dấu ngã (lăn quay) thành họ Nguyễn. Nếu thêm dấu huyền thành nguyền (thề nguyền, thề thốt)

36

Trông kìa : ca hát oang oang
Giấu đầu kỹ mấy, con hoang biết liền
Mặt hoa da phấn ngỡ tiên
Không ngờ có hỏi, nó liền thoát y

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoang
Ca hat oang là đánh vần chữ khoang. Nhìn thẳng vào mặt chữ khoang, ta nhìn thấy ngay chữ “hoa”. Không “ngờ” là bỏ chữ “ng”, có hỏi là đánh dấu “?” sẽ được chữ “khỏa” là khỏa thân, thoát y.

37

Vắng ông : quay tít thò lò
Ông về càng tệ: không rồ cũng điên
U đi vắng tưởng đâu yên
Điếc tai hàng xóm những chiêng với cồng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cuồng
Chữ cuồng bỏ chữ ông còn chữ cù là con quay. Bản thân chữ cuồng là điên khùng. Bỏ chữ u còn chữ “cồng” trước kia hay đánh để truyền lệnh, hay đi bộ với chiêng.

38

Mang dấu gì tội cũng to
Trước lo sau mới ấm no, an nhàn.
Vốn dòng chim quí, chim sang
Mất đuôi hò hét oang oang tối ngày

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Loan
Loạn hay loàn (lăng loàn) đều có nghĩa xấu. Loan = lo + an. Loan là con chim phượng hoàng mái, loài chim sang trọng. Bỏ chữ n còn lại là cái loa nên mới hò hét oang oang.

39

Muốn anh đến, hãy đừng chờ
Mong cha về, lại hết nhờ. Chua thay.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chanh
Chờ là “ch”, nhờ là “nh”. Chanh tất nhiên là chua.

40

Chàng không ngờ dấu bị rơi
Vậy là chàng đã đổi đời làm cha

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chàng
Không ngờ là bỏ “ng”, dấu bị rơi là bỏ dấu huyền.

41

Có em thư báo đi về
Không em chỉ có tái tê một mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tem
Tái tê là nói chữ “T”

42

Này này chẳng phải mày đâu
Thiếu đầu đừng hỏi nông sâu cho phiền
Nếu mà có gậy chỉ thiên
Sẽ như phép lạ: hóa liền trái cây

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tao
Khi nói đến ao, người ta hay quan tâm nông hay sâu. Gậy chỉ thiên là muốn nói dấu sắc./toggle]

[tabby title="43"]Mới vừa chê ủng chê ôi
Cho ăn bánh hỏi, lại đòi trái cây[toggle]Chữ Ôi
Bánh hỏi là dấu hỏi. Trái cây ở đây là trái ổi.

44

Một xu thì cũng ân tình
Đừng ham mang dấu mà thành hết khôn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Xuân
Chữ xuân nếu thêm dấu thì chỉ có dấu hỏi là có nghĩa. Nhưng khi đó thành xuẩn là ngu xuẩn, xuẩn ngốc, tức hết khôn.

45

Rành rành bà ấy mẹ tôi
Về già hết đẹp, nhát người đi đêm

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Hết đẹp là mất sắc, tức mất dấu sắc. Có câu tục ngữ: Đi đêm lắm ắt có ngày gặp ma

46

Có mắt huyền lại tưởng lòa
Không mắt huyền hóa kiêu sa mơ màng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Mắt huyền ở đây là dấu huyền

47

Rõ rành rành đấy bố tôi
Cớ sao có hỏi, trả lời rằng không?

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cha
Chữ chả nhiều địa phương sử dụng như từ phủ định : Chả phải, chả có…

48

Xuất thân từ bác áo xanh
Thôi nghề bốc vác lại thành gió trăng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thợ
Áo xanh là áo thợ. Nghề bốc vác là nghề mang nặng, tức dấu nặng. Gió trăng là vẻ đẹp thiên nhiên nên cũng hay biểu tượng cho thơ Đề huề lưng túi gió trăng

49

Gan chả hơn thỏ mấy
Đã đợi vẫn làm eo
“Trứng” rơi còn lo đậy
Cắt “cờ” mập thành heo.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cheo
Cheo là một loài thú giống hươu nhưng cỡ rất nhỏ, chạy nhanh và rất nhát. Nhát như cheo. Trứng rơi là bỏ chữ o đi

50

Đầu bò đuôi gắn đầu trâu
Thân mình mập ú, giúp nhau học hành

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bút

51

Yêu là yêu cả loài người
Cớ sao mang tiếng để đời: gạ cô.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạo

52

Ra ga mang nặng rồi chờ
Công trình lớn nhỏ đều nhờ đến anh
Cũng từ đất cát mà thành
Mầu hồng do lửa, dáng xinh do người

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạch

53

Chờ được thêm trái quả
Rồi đi quét cửa nhà
Bỏ đầu thừa đuôi thẹo
Chúa sơn lâm hiện ra

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chổi
Chổi = chờ + ổi.Bỏ hai phía, chữ chổi thành chữ hổ.

54

Cắt đuôi đem bán hoài không được
Mất sắc eo ôi, ngó rõ ghê!
Thì quẳng nón, xông vào sông nước
Bán buôn, câu cá hoặc chèo thuê

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ghế
Phần đuôi là chữ ế tức không bán được. Bỏ dấu sắc thành chữ ghê. Bỏ tiếp dấu “^” thành chữ ghe tức thuyền

55

Tội đốt lửa rõ mười mươi
Thôi không hỏi tội đã cười như hoa
Đem roi dọa đánh: xin hòa
Bắt mang nặng, xin ở nhà vẽ tranh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hỏa
Đem roi dọa đánh tức là đánh dấu huyền.

56

Đang ngồi yên chỗ tụng kinh
Bởi ham thay dấu, đời mình cũng thay
Đang đồ điện, hóa đồ cây
Vừa vui đỗ đạt, đã tay mang còng.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tu
Ngồi yên chỗ tụng kinh là tu. Đồ điện là tụ (điện), đồ cây là tủ. Đỗ đạt là tú (đỗ tú tài)

Chia sẻ bài này:

Câu đố về danh nhân lịch sử (sáng tác, 21 câu)

1

Kiếm gãy, nhổ tre làm vũ khí
Dấu chân ngựa để những hồ ao
Lên ba dẹp giặc lo còn trễ
Bay chín tầng mây hận chửa cao!

» Xem/Đóng đáp án

THÁNH GIÓNG
Hai câu ba và bốn là dịch thơ Cao Bá Quát : “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn / Đằng vân do hận cửu thiên đê”

2

Tên đẹp – hoa sen đẹp
Đức hiền – hạt gạo hiền
Người cha – đôi mắt mẹ
Tóc trắng – tóc ông tiên

» Xem/Đóng đáp án

Phác họa BÁC HỒ
Câu đầu nhắc thơ Bảo Định Giang : “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Câu hai nhắc thơ Xuân Diệu :“Bác hiền như hạt gạo thôi / Chí no thiên hạ, tình nuôi đồng bào”. Câu ba nhắc thơ Tố Hữu : “Ôi người cha đôi mắt mẹ, hiền sao!”. Câu bốn nhắc thơ Phạm Tiến Duật viết khi Bác đi xa:”Bác là ông tiên tóc trắng / Mặt trời lặn, mặt trời mang theo nắng / Bác ra đi, để ánh sáng cho đời…”

3

“Tam tộc tru di”, máu đỏ làng
Bình Ngô muôn thuở giọng còn vang
Hỡi ơi Thị Lộ – gương tầy… chiếu
Tài sắc mà chi để lụy chàng.

» Xem/Đóng đáp án

Vài nét NGUYỄN TRÃI
Câu 1 nhắc vụ án “Lệ Chi Viên” về cái chết của vua Lê Thái Tôn dẫn đến thảm họa cho Nguyễn Trãi. Câu 2 nhắc ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ cũng là nhắc đến tài đức và công lao của Nguyễn Trãi đối với dân tộc và triều đình nhà Lê. Ở câu 3 “gương tầy chiếu” là sửa lại thành ngữ “gương tầy liếp” nghĩa là gương lớn. Gương ở đây là muốn nói đến gương “tài mệnh tương phương” tức là tài và mệnh làm hại lẫn nhau, thường xảy ra trong chế đệ phong kiến cũ. Chữ “chiếu” là muốn nhắc đến giai thoại làm quen nhau của Nguyễn Trãi và Thị Lộ : Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cả câu 3 lẫn câu 4 muốn nhắc đến cái chết của vua Thái Tôn ắt hẳn có nguyên nhân (hay nguyên cớ) từ tài sắc của Thị Lộ. Và vì cái chết đó mà triều đình dàn cảnh hãm hại Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê Hà Đông, mất năm 1442.

4

Năm trăm năm. Hỏi đã là lâu?
Mây trắng. Kìa ai tóc trắng đầu
Thơ phú tiên tri – lời sấm trạng
Văn chương giáo huấn lẽ nông sâu…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên hiệu là BẠCH VÂN cư sĩ. Ông sinh năm 1491, quê Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên (1535). Ông được vua Mạc Phúc Hải phong tước Trình Truyền Hầu (1544) (ý so sánh với anh em Trình Di, Trình Hạo ở Trung Quốc giỏi lý số) rồi sau lại phong Trình Quốc Công nên người ta gọi ông là Trạng Trình. Ông có nhiều câu thơ tiên đoán được sự biến động của các triều đại nên sau người đời hay gọi các câu thơ đó là “sấm Trạng Trình”. Ông có để lại cuốn BẠCH VÂN THI TẬP gồm khoảng 100 bài thơ Nôm và khoảng 100 bài thơ chữ Hán. Thơ ông nặng tính giáo huấn nói về nhân tình thế thái (Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến / Gang không mật mỡ kiến bò chi…), đọc xong ta có thể bắt chước cụ Yên Đổ mà thốt lên : “Lạ nhỉ, người xưa cũng thế ư!”. Sau đây xin chép ba bài thơ “không đề” của ông để làm rõ “xuất xứ” các câu thơ của bài “thơ chân dung” này.
Bài 1 : Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dù ai vui thú nào / Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao / Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao / Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.
Bài 2 : Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt cay chua lẫn ngọt bùi / Còn bạc còn tiền còn đệ tử / Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi / Xưa nay đều trọng người chân thực / Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi / Ở thế mới hay nguời bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
Bài 3 : Làm nguời có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn / Khôn được ích mình, đừng rẻ dại / Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn / Khôn mà hiểm độc là khôn dại / Dại vốn hiền lành ấy dại khôn / Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại / Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585.

5

Thương đều thập loại chúng sinh
Đầm đìa dòng lệ chảy quanh thân Kiều
Chữ TÂM vằng vặc gương treo
Sầu tuôn đứt nối còn nhiều trăm năm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DU
Câu đầu nhắc VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du. Câu hai nhắc câu thơ của Tố Hữu : Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều có thể xem là câu thơ thuộc loại hay nhất viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Câu thứ ba nhắc câu Kiều : Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài đồng thời cũng muốn nói chính Nguyễn Du là tấm gương sáng về chữ TÂM. Câu cuối muốn nhắc câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Xuân Diệu dịch : Ba trăm năm nữa mơ màng / Thế gian ai đó khóc chàng Tố Như ). Có lẽ còn nhiều (chứ không phải chỉ ba) trăm năm nữa vẫn còn nhiều người thương khóc Nguyễn Du. Sầu tuôn đứt nối là chữ của Nguyễn Du tả Thúy Kiều thương khóc Đạm Tiên : Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Nguyễn Du (tên hiệu là Tố Như ) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm 1765 mất năm 1820. Sự nghiệp văn chương chủ yếu dành cho thơ chữ Hán, Truyện Kiều không phải là phần tinh túy nhất của thiên tài Nguyễn Du nhưng vì viết bằng chữ Nôm nên được phổ biến rộng sâu hơn.

6

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Cha mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH : Sáng lên Hoành Sơn trông / Chiều xuống Bàn Thạch tắm / Nhặt hòn đá hai nơi / Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3,4 nhắc thơ Cao Bá Quát : Thập tải giao luân cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” (người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp / Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời. Và Một chiếc cùm lim chân có đế / Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh, Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

7

Mắt lòa, lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Câu 1 nói Nguyễn Đình Chiểu là người anh minh sáng suốt, tuy bị mù lòa, nhưng ông luôn nhìn rõ mọi lẽ phải trái; phân biệt kẻ xấu người tốt, không vì một lợi ích cá nhân nào làm lu mờ được đức trung thực, lòng yêu nước thương dân của ông. Câu 2 và 3 nhắc hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, tuyên ngôn về quan niệm sáng tác văn học của ông : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu cuối là nguyên văn câu thơ nổi tiếng của ông nói về lẽ ghét thương : Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre, sinh năm 1822, mất năm 1888.

8

Trong lồng sáo hót
Cần trúc trên vai
Mũ nồi đội lệch
Liên lạc rất tài
Giờ về làm sách
Cho thiếu nhi coi

» Xem/Đóng đáp án

KIM ĐỒNG
Bốn câu đầu nhắc lại hình ảnh Kim Đồng (Nông Văn Dền) đi làm liên lạc trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua các truyện kể và phim ảnh về anh. Câu cuối nhắc tên nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bản lớn nhất nước chuyên xuất bản sách cho thiếu nhi.

9

Bồn chồn nghe sấm, nhớ mưa
Nghe gà gáy, nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ đất, hiến thân
Tên anh – dáng đứng mùa xuân, con đường.

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ANH XUÂN
Câu đầu nhắc bài thơ NHỚ MƯA QUÊ HƯƠNG – Giải thưởng báo Văn Nghệ 1961, trong đó có câu Ôi, tiếng sấm từ xa đang rền vang rộn rã cũng là tiếng súng, tiếng trống trận ở Miền Nam thôi thúc nhà thơ. Từ “bồn chồn” cũng muốn nhắc câu thơ Lê Anh Xuân viết về Sài Gòn thời chiến tranh : Cái quầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về!. TIẾNG GÀ GÁY báo hiệu bình minh cách mạng giải phóng và HOA DỪA là tên các tập thơ của Lê Anh Xuân. GIỮ ĐẤT là tên tập văn xuôi của Lê Anh Xuân viết ở chiến trường Miền Nam. Tên thật của tác giả là Ca Lê Hiến (quê ông ở Bến Tre) khi về chiến đấu ở Miền Nam, ông lấy bút danh Lê Anh Xuân và đã hy sinh. Ở TPHCM, hiện có đường Lê Anh Xuân, một con đường nhỏ nhưng đẹp, ngay trung tâm quận I. Chữ “dáng đứng” cũng muốn nhắc bài thơ DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM của Lê Anh Xuân : Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng anh gượng đứng lên, tỳ súng trên xác trực thăng / và anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng / Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng / Có thằng sụp xuống chân anh lánh đạn / Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm / Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công /…/ Vẫn đứng lên im như bức thành đồng / Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Lê Anh Xuân sinh năm 1940 tại Bến Tre. Hy sinh năm 1968 tại Long An ven Sài Gòn./toggle]

[tabby title="10"]Bỏ kiếp sống mòn, nửa đêm vào rừng kháng chiến
Những cánh hoa tàn nở thắm lại theo
Đôi mắt ngạo cười Lý Cường, Bá Kiến
Bát cháo hành thơm tình Thị Nở-Chí Phèo[toggle]NAM CAO
Câu 1 nhắc 3 tác phẩm : SỐNG MÒN (tiểu thuyết); NỬA ĐÊM (tập truyện), Ở RỪNG (nhật ký). Câu 2 nhắc tập truyện NHỮNG CÁNH HOA TÀN; Câu 3 nhắc tập truyện ĐÔI MẮT và tập truyện CƯỜI. Hai câu cuối cùng nhắc tác phẩm CHÍ PHÈO và một số chi tiết của truyện.
Nam Cao có tên khai sinh là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 ở làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân Nam Hà; hy sinh năm 1951 tại Ninh Bình.

11

Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Chẳng chia ly cùng bạn đọc bao giờ
Con đuờng ấy nắng ngân vang ngàn chuông nhỏ
Xanh mơ màng đẹp mãi giấc anh mơ.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN MỸ
Câu 1, 2 nhắc bài thơ CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ (chép ở sau). Bài thơ ấy cũng như tên tuổi của tác giả không bao giờ “chia ly” với bạn yêu thơ. Câu 3 nhắc bài CON ĐƯỜNG ẤY : Con đường nhỏ / Đi giữa hai hàng cây / Cái con đường ấy mình đầy bóng râm / Con hươu sao đã ruỗi nằm / Để nghe những tiếng thì thầm ở trên / Đôi bên là nắng / Thu đã đượm vàng / Nắng bay từng giọt / Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông…Câu cuối nhắc bài GIẤC MƠ XANH : …Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi / Là Ô Loan, đầm Mẹ sáng ngời / Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi / Nâng dải mơ lên tới đỉnh trời.

Bây giờ xin chép bài CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ : Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng / Trưa một ngày sắp ngả sang Đông / Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ / Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ / Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa / Chồng của cô sắp sửa đi xa / Cùng đi với nhiều đồng chí nữa / Chiếc áo đỏ rực như than lửa / Cháy không nguôi trước cảnh chia ly / Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia / Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy / Không che được nước mắt cô đã chảy / Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời / Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi / Và rạng đông đã bừng trên nét mặt / Một rạng đông với màu hồng ngọc / Cây si xanh gọi họ đến ngồi / Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai / Ngày mai sẽ là ngày xum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi / Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế / Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ / Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào / “Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” / Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy / Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi / Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người / Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp / Một làng xa giữa đêm giá rét… / Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi / Như không hề có cuộc chia ly.

Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 ở Tuy An, Phú Yên, hy sinh năm 1971 ở Trà My, Quảng Nam

12

Anh là ai? Một sinh viên
Tên anh niềm ước bình yên quê nhà
Nghĩa đời đâu chỉ đô la
Trái bom đánh giặc chính là trái tim.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THÁI BÌNH
Nguyễn Thái Bình còn có tên là Việt Thái Bình, một sinh viên xuất sắc của Miền Nam du học ở Mỹ trong những năm giặc Mỹ đánh phá đất nước ta. Trong thời gian học tại Mỹ, Nguyễn Thái Bình là một sinh viên đấu tranh tích cực chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã gạt bỏ mọi danh vọng tiền tài mà kẻ thù đưa ra mua chuộc, để chống lại kẻ thù của dân tộc ngay trên đất nước chúng. Anh bị đưa về giết hại ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 2 tháng 7 năm 1972. Trong bức thư ngỏ gửi nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, có đoạn anh viết: “Trái bom của tôi chỉ là trái tim của tôi. Nó có thể nổ tung để thức tỉnh lương tâm của mọi người…”

13

Thanh hỏi, thanh ngã, thanh không
Thanh nào cũng một tấm lòng vì dân
Phút thiêng gọi Bác ba lần
Gửi tên làm nhịp cầu xuân vĩnh hằng

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VĂN TRỖI
Tin anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường được truyền ra Bắc bằng vô tuyến nên ít nhiều bị nhiễu. Hơn nữa, tiếng Miền Nam đôi khi không phân biệt dấu hỏi với dấu ngã khi phát âm, nên tên anh được báo chí đăng khác nhau : Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Trôi. Sau này, bộ Văn hóa đã có quy định bằng văn bản là tất cả các sáng tác dù dùng tên gì vẫn có giá trị. Câu thứ ba muốn nhắc bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu :”Hồ Chí Minh muôn năm / Hồ chí Minh muôn năm / Hồ Chí Minh muôn năm /Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần!” Câu bốn nhắc “cầu Công Lý” đã được đổi tên là cầu Nguyễn Văn Trỗi.Và cũng muốn nhắc câu thơ Tố Hữu: “Anh đã chết rồi / Anh còn sống mãi / Chết như sống, anh hùng, vĩ đại”

14

Quan văn không phạm hơi đồng
Một cây quốc trụ vàng ròng mười mươi!

» Xem/Đóng đáp án

Cố Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG
Câu đầu nhắc đôi câu đối lưu truyền trong dân gian: “Ba mươi năm kháng chiến cầm quân, mừng tướng Võ vẫn Nguyên áo Giáp / Cả một đời lo toan việc nước, phục quan Văn không Phạm hơi Đồng”. Câu hai nhắc một giai thoại : Hồi ở chiến khu Việt Bắc, Quanh bàn làm việc của Bác ở nhà sàn có bốn cột, ở đó treo bốn ống bương. Bác gửi công văn cho các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh (Quân, Dân, Chính, Đảng) và Bác nói vui: Đó là tứ trụ của Bác.

15

Chiến sĩ Việt Nam tiến về Hà Nội
Buồn tàn thu gửi lại Suối Mơ
Cứ ngỡ Thiên Thai mà làng tôi đó
Tiến quân ca tôi hát giữa ngày mùa

» Xem/Đóng đáp án

VĂN CAO
CHIẾN SĨ VIỆT NAM, TIẾN VỀ HÀ NỘI, BUỒN TÀN THU, SUỐI MƠ, THIÊN THAI, LÀNG TÔI, TIẾN QUÂN CA, NGÀY MÙA là các ca khúc tiêu biểu của Văn Cao được nhắc đến trong bài.
Văn Cao họ Nguyễn. Ông sinh năm 1923 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định, mất năm 1995 tại Hà Nội.

16

Tướng Võ có tên Văn
Từng tam khí Đờ lát
Lừng lẫy trận chín năm
Vẫn lành nguyên áo giáp.

» Xem/Đóng đáp án

VÕ NGUYÊN GIÁP
Câu đầu nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp có biệt danh là “Văn”. Câu hai nhắc bài thơ TAM KHÍ ĐỜLÁT- ĐỜTÁTXINHI của Tú Mỡ: “Tướng giặc tên Đờlát / Họ Đờtátxinhi / Vùa chết bệnh não gì? / Chẳng qua vì ức đó /…/ Chẳng hay trước khi chết / Tướng có kêu sầu bi / Trời sinh Tátxinhi /Sao sinh Võ Nguyên Giáp!” Câu ba nhắc cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy về quân sự, thơ Tố Hữu : “Chín năm làm một Điện Biên / Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Câu cuối là nhắc tên Đại tướng.

17

Du kích Sông Thao hát bài ca du kích
Hành quân xa vì chiến thắng Điện Biên
Vui mở đường, ta lại vào chiến dịch
Cho Việt Nam –Quê hương tôi thống nhất hai miền.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ NHUẬN
Trong bài nhắc tên các ca khúc của Đỗ Nhuận rất quen biết với nhiều người: Du kích sông Thao, Bài ca du kích, Hành quân xa, Chiến thắng Điện Biên, Vui mở đường và Việt Nam quê hương tôi. Đỗ Nhuận sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (đã mất).

18

Lên ngàn mát lá xanh che
Có anh chiến sỹ lắng nghe nhạc rừng
Giữa vui lòng bỗng rưng rưng
Nghe giông bão nổi giữa chừng bài ca

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG VIỆT
Hai câu đầu nhắc các nhạc phẩm: Lên ngàn, Lá xanh, Nhạc rừng. Hai câu thơ cuối nhắc nhạc phẩm:Tình ca (…Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu quê xa / Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba…). Câu này cũng muốn nói Hoàng Việt đã hy sinh đúng lúc tài năng đang độ chín gây nhiều thương tiếc cho người thân và người yêu nhạc. Hoàng Việt sinh năm 1928 tại Tiền Giang. Hy sinh ở chiến trường miền Nam năm 1967 (tên khai sinh là Lê Chí Trực)

19

Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Lên đàng hay xuống đường cũng vì giải phóng miền Nam
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch quân cướp nước
Phía chân trời bình minh reo vang

» Xem/Đóng đáp án

LƯU HỮU PHƯỚC
Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Xuống đường, Giải phóng miền Nam, Tiến về Sài Gòn, Bình minh reo vang là các nhạc phẩm nổi tiếng của Lưu Hữu Phước. Ông còn có các bút danh khác như Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Hồng Chí … Là một nhạc sỹ hàng đầu về thể loại hành khúc của Việt Nam. Sinh năm 1921 tại Cần Thơ (đã mất)

20

Huyền thoại mẹ hát bên đèn
Mưa rơi rơi, dáng mẹ hiền nghiêng che
Trái tim lớp lớp người nghe
Mãi còn một cõi đi về thong dong
Tay trong tay nối lớn vòng…

» Xem/Đóng đáp án

TRỊNH CÔNG SƠN
Hai câu thơ đầu nhắc một bài hát nổi tiếng của Trịnh Công Sơn là Huyền thoại mẹ và một vài chi tiết về lời ca. Hai câu tiếp được các bạn dự thi giải thích theo hai hướng :1. Những bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Một cõi đi về, sẽ mãi mãi còn sống trong trái tim những người yêu nhạc của ông. 2. Trịnh Công Sơn sẽ còn được bạn yêu nhạc nhớ mãi và trái tim họ chính là cõi đi về của ông. Câu cuối nhắc ca khúc Nối vòng tay lớn. Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Đaclak (quê ở Huế), mất năm 2001 tại TP. Hồ Chí Minh.

21

Xuân chiến khu đã đẹp rồi
Xuân thành phố đẹp gấp mười lần hơn
Chim ơi, đừng hót để… hôn!
Hoa xuân mãi mãi sẽ còn hồng tươi.

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN HỒNG
Câu 1 nhắc bài hát Xuân chiến khu, câu 2 nhắc bài hát Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh là mùa xuân đẹp nhất quê mình). Câu 3 nhắc bài hát Mùa xuân bên cửa sổ: Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau / … / Chim ơi đừng bay nhé, hoa ơi hãy tỏa hương / … / Cho đôi bạn trẻ đón xuân về…. Câu cuối muốn nhắc tên nhạc sĩ Xuân Hồng. Tên khai sinh là Nguyễn Xuân Hồng, sinh năm 1928 tại Tây Ninh (đã mất)

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần A-B-C)

01

Anh ĐứcTrong hòn đất cất anh hùng
Làm nên sóng gió một vùng biển xanh
Chị Tư nhân hậu, hiền lành
Đứa con của đất đức tình vẹn hai
(Trẻ trung nhảy bổng bay dài
Nên nay ông lão mơ hoài bóng chim?)

» Xem/Đóng đáp án

ANH ĐỨC (nhà văn)
Anh ĐứcCâu 1 nhắc tác phẩm HÒN ĐẤT rất nổi tiếng của Anh Đức và tập truyện LÃO ANH HÙNG DƯỚI HẦM BÍ MẬT. Câu 2 nhắc các tập: BIỂN ĐỘNG, BIỂN XA, MIỀN SÓNG VỖ. Câu 3 nhắc tác phẩm MỘT TRUYỆN CHÉP Ở BỆNH VIỆN sau đổi là CHỊ TƯ HẬU khi dựng thành phim, có sự tham gia diễn xuất của nghệ sĩ Trà Giang. Câu 4 nhắc tiểu thuyết ĐỨA CON CỦA ĐẤT, đồng thời ĐứcTình ở câu này là muốn nhắc tên khai sinh của nhà văn là Bùi Đức Ái. Hai câu cuối nhắc tập truyện GIẤC MƠ CỦA ÔNG LÃO VƯỜN CHIM.

Nhà văn Anh Đức sinh năm 1935 tại Châu Thành, Kiên Giang. Hiện đang sống và viết tại Tp. Hồ Chí Minh.

02

Bằng ViệtThơ tình – Luật lý đâu hơn?
Bàng hoàng nhìn đất xanh rờn sau mưa
Trái tim mình trở lại chưa?
Nghe như sống mũi đến giờ còn cay!
Bốn mươi năm trước hăm hai…

» Xem/Đóng đáp án

BẰNG VIỆT (nhà thơ)
Bằng ViệtCâu đầu muốn nói nhà thơ Bằng Việt vốn tốt nghiệp Đại học Luật tại Liên Xô. Câu 2, nhắc tập thơ ĐẤT SAU MƯA. Chữ  bàng hoàng là lấy từ câu thơ Bằng Việt trong bài NGHE NHẠC BÊ -THÔ- VEN từng làm bàng hoàng nhiều bạn thơ và bạn yêu thơ : Tiếng trống thúc bàng hoàng hai thế kỷTrái tim lớn mang niềm đau khổ lớn / Trái tim trải những vòng sóng gợn / Lan truyền đi mãi mãi đến tương lai… Cả hai câu đầu có bạn dự thi nhắc một ý thơ của Goethe : Mọi lý luận đều  xám, nhưng cây đời thì mãi mãi xanh tươi. Câu 3 nhắc bài thơ TRỞ LẠI TRÁI TIM MÌNH của Bằng Việt, từng được giải nhất của Hội văn học nghệ thuật Hà Nội. Câu tiếp nhắc một câu trong bài thơ BẾP LỬA của Bằng Việt : Lên sáu tuổi cháu đã quen mùi khói /…/ Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay !. Câu cuối là chúng tôi muốn cập nhật một thông tin về tác giả : ông vừa tục huyền với một cô gái rất trẻ. Chúng tôi muốn dùng câu thơ Nguyễn Công Trứ để chúc mừng ông.

Nhà thơ Bằng Việt tên khai sinh là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê Hà Tây. Hiện sống và viết tại Hà Nội. Hiện ông là chủ tịch hội đồng thơ của Hội Nhà văn Việt Nam.

03

Bích KhêHỡi ơi đúng độ xuân hồng
Tỳ bà nhạc tắt, ngô đồng lá rơi
Tinh hoa gửi lại cho đời
(Xưa tinh huyết đã tặng “người khỏa thân”?)
Vừa khai mào cuộc duy-tân
Mà lời tuyệt mệnh mộ phần đã ghi!

» Xem/Đóng đáp án

BÍCH KHÊ (nhà thơ)
Bích KhêTrong bài nhắc hai tập thơ chính của Bích Khê là TINH HOA và TINH HUYẾT. “Tinh huyết” đã được in năm 1939 còn “Tinh hoa” là tập tác giả dồn hết tâm lực để sáng tác thì mãi năm1997 NXB Hội Nhà văn mới cho ra mắt bạn đọc. Nhiều bài thơ xuất sắc của tác giả được đề cập : XUÂN HỒNG, TỲ BÀ, NHẠC, TRANH LÕA THỂ, DUY TÂN, LỜI TUYỆT MỆNH… bài “tỳ bà”  có 7 khổ 4 câu 7 chữ gồm toàn những từ vần bằng: Nàng ơi! Tay đêm đương giăng mềm / Trăng đan qua cành muôn tơ êm / Mây nhung pha màu thu trên trời / Sương lam phơi màu thu muôn nơi /…/ Cây đàn yêu đương làm bằng thơ / Dây đàn yêu đương run trong mơ / Hồn về trên môi kêu : em ơi / Thuyền hồn không đi lên chơi vơi… Hai câu cuối của bài này được Hoài Thanh  đánh giá là hay nhất trong nền thi ca Việt Nam: Ô hay buồn vương cây ngô đồng / Vàng rơi ! vàng rơi ! thu mênh mông “Tranh lõa thể” cũng là một tuyệt tác của tác giả: Dáng tầm xuân uốn trong tranh tố nữ / Ô tiên nương! nàng lại ngự nơi này? / Nàng ở mô xiêm áo bỏ đâu đây ? / Đến triển lãm cả tấm thân kiều diễm, / Nàng là tuyết: làn da nàng tuyết điểm / Nàng là hương: nhan sắc mộng lên hương / Mắt ngời châu rung ánh sáng nghê thường; / Lệ tích lại sắp tuôn hàng đũa ngọc./ Đêm u huyền ngủ mơ trên mái tóc / vài chút trăng say đọng ở làn môi / Ô run run mấy nét vú phong đồi / Chừng đây đó gót sen vàng xây động… “Lời tuyệt mệnh” còn đề ở bia mộ tác giả: Thân bệnh : ngô vàng mưa lá rụng / Bút thần: sông lạnh ánh sao rơi / Sau nghìn thu nữa trên trần thế / Hồn vẫn về trong ánh nguyệt soi.

Bích Khê tên khai sinh là Lê Quang Lương sinh ngày 24/3/1916 ở Sơn Tịnh, Quảng Ngãi, mất ngày 17/1/1946 trong khi bao dự định “duy-tân” thơ: đưa vào thơ các yếu tố tượng trưng, siêu thực, thơ cấu trúc, “thơ lõa thể”… vừa được nhen nhóm.

04

Bùi Chí VinhChàng trai ơi, nhớ lắm thay
Như rượu đế nhớ thịt cầy, nhớ ghê !
Như ca-ra nhớ ô-kê
Như sấm sét bỗng nhớ về thu lôi!
Em không bé bỏng, lớn rồi
Anh đang bắt rắn, hay ngồi điểm danh?

» Xem/Đóng đáp án

BÙI CHÍ VINH (nhà thơ)
Bùi Chí VinhBốn câu đầu nhại theo bài THIẾU NỮ (Cô gái ơi, anh nhớ em/ như con nít nhớ cà rem vậy mà/ như con dế trống đi xa/ Một hôm nhớ đến quê nhà gáy chơi/ Con dế thì gáy một hơi/ Còn anh gáy suốt một thời con trai…). Câu 4 nhắc bài SỰ  TÍCH CỘT THU LÔI (tuyển thơ lục bát Việt Nam) (Không hề cháy thịt cháy da/ Vậy mà thân thể tan ra dễ dàng/ Lặng im hết hệ tuần hoàn/ Chỉ còn đứng giữa trần gian hai người/ Chỉ còn môi thật là môi/ Mắt thật là mắt, có lời bên trong/ Đáng gì cái lạnh mùa đông/ Gió càng mang rét, càng hồng má thêm/ Một người nhỏ nhẹ xưng em : / Mở đầu tiếng sét có tên “ái tình” / Bầu trời đột ngột bình minh/ Chôn chân anh đứng một mình… thu lôi). Câu 5 nhắc bài BÉ… BỎNG (Bé bỏng trong tim bé bỏng trong thơ / Em bé bỏng trong tay anh bé bỏng/ Viên sỏi lăn trên vỉa hè rất nóng/ Viên sỏi là em, còn anh hóa vỉa hè/ / Anh không cần chờ đợi một vòm me / Che sao được buổi trưa đang chết khát/ Cứ lồ lộ, anh không cần râm mát/ Bé bỏng chừng nào nướng chín thịt da anh). Câu 6 nhắc bài ÔNG GIÀ BẮT RẮN (Riêng ta đi kiếm dây thòng lọng/ Đợi nàng rắn cái lén đi qua…) và bài ĐIỂM DANH (Bích ơi, Dung ơi, Thảo ơi / Phượng ạ, Giang ạ, Kim ạ / Các em có mặt như những điếu thuốc lá / Để vành môi anh thở ra những sương mù…).

Bùi Chí Vinh sinh năm 1954 tại Sài Gòn (quê Nam Định). Hiện sống và viết tại Tp.Hồ Chí Minh.

05

Bùi GiángÔng giằng búi tóc. Ông khóc ông cười…
Còn hai con mắt khóc người một con
Ngàn thu rớt hột mưa nguồn
Đêm trăng ngắm lá hoa cồn hiện lên
Từ duy lý tới ngẫu nhiên
Câu thơ vớ-vẩn mà nên thần-sầu!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI GIÁNG (nhà thơ)
Bùi GiángGiằng búi bà Bùi Giáng (nói lái). Đây là phát hiện của chính Bùi Giáng. Rứt tóc, bứt tai, cười khóc vô cớ là đặc điểm của những người bị bệnh tâm thần : Người điên cái bóng cũng điên / Người khùng cái mộng oan khiên cũng khùng… Câu 2 là thơ Bùi Giáng (MẮT BUỒN). Câu 3 và 4 nhắc các tập thơ : NGÀN THU RỚT HỘT, MƯA NGUỒN, ĐÊM NGẮM TRĂNG, LÁ HOA CỒN. Câu 5: Bùi Giáng từng có những sách khảo luận về triết khá nổi tiếng, nhưng thơ ông như được sáng tác bằng máy tính điện tử nhờ phương pháp Monte – Carlo. Để rõ câu cuối, xin trích lời nhà văn Đặng Tiến trong bài Nhớ Bùi Giáng (Hồng Lĩnh xuân 1999) : “Nhà thơ Bùi Giáng ra đi, để lại cho đời những câu thơ vớ-vẩn-thần-sầu”. Xin trích một số câu : Xưa kia tôi đã có lần / Và bây giờ đã có phần tôi quên. Hay : Hỏi rằng người ở quê đâu? / Thưa rằng tôi ở rất lâu quê nhà. Hoặc : Hỏi tên? Rằng biển xanh dâu / Hỏi quê? Rằng mộng ban đầu đã xa. Hay nữa : Nhớ em từ trước đến sau / Từ đầu ríu rít tới đau cuối cùng. Hoặc nữa : Em đi thể diện nhu mì / Mắt ngơ ngẩn ngó, tai tùy nghi nghe…

Bùi Giáng sinh năm 1925 tại quê Quảng Nam, mất năm 1998 tại Sài Gòn.

06

Bùi Hoàng TámĐã từng thịt chó lá mơ
Chống tình lệch nhịp, nuôi thơ, giữ hồn
Vội gì lo giải Quí Đôn
Hãy kiếm xị cồn lưng lửng chiều nay…

» Xem/Đóng đáp án

BÙI HOÀNG TÁM (nhà thơ)
Bùi Hoàng TámBùi Hoàng Tám đã từng mở quán bán thịt chó để ổn định kinh tế đặng có thể yên tâm theo đuổi nàng thơ. Dù ông tỏ ra dứt tình với thơ : Thà rằng thịt chó lá mơ / Còn hơn làm những câu thơ tầm thường, nhưng lúc nào cũng bần thần ngơ ngẩn làm ảnh hưởng đến công việc hàng họ. Vợ ông đã phải bực mình: “Thơ! Thơ với chả thẩn! Có mà dí l… vào thơ!”. Trong một bữa nhậu với bạn bè máu me thơ phú, Bùi Hoàng Tám đã thấm say, trầm ngâm đọc: Vợ tôi nửa dại nửa khôn / Một ngày mấy bận dí l… vào thơ. Một bạn thơ (Xuân Đam?) vừa thông cảm với bạn, vừa chạnh nghĩ cảnh mình liền đọc nối: Vợ tôi dở tỉnh dở mơ / Một ngày mấy bận dí thơ vào l… (Còn vài bạn thơ góp thêm nhiều câu khác, song không tiện chép ra đây). Giải thưởng Lê Quí Đôn là giải thưởng của Hội Văn Nghệ Thái Bình.
Trong bài thơ trên nhắc hai tác phẩm của Bùi Hoàng Tám từng trúng giải thơ Lục Bát báo Giáo Dục và Thời Đại: LỆCH NHỊP: … Éo le chắc lép là Trời / Bắt tôi lệch nhịp với người tôi yêu / Em là sáng, tôi là chiều / Ban trưa ở giữa với nhiều nhớ mong / Biết rồi em sẽ lấy chồng / Tôi về sống nốt cho xong một đời / Thương chồng em, thương vợ tôi / Thương bao đôi lứa trên đời lệch nhau – và bài ANH CÒN LƯNG LỬNG CHIỀU NAY : Nào em – em rót nữa đi / Uống vì còn sống / Uống vì còn say / Nếu không có buổi chiều nay / Thì anh biết buộc chuỗi ngày vào đâu? / Chén này đã đổ sang nhau / Cho kỳ mặt rượu nát nhàu thì thôi / Cho kỳ lẫn lộn buồn vui / Cho câu thấp thoáng – cho lời trăm năm / Cho kỳ bóng nắng sủi tăm / Cho xâm xẩm nhớ – Cho đằm đặm quên / Cho kỳ tốc áo em lên / Ném đời anh xuống cho quên ngọn ngày / Anh còn lưng lửng chiều nay / Và còn lưng lửng chén này / Nào em ! Bùi Hoàng Tám chưa cho in tập thơ riêng nào (dù ông đã cho in báo chí địa phương và trung ương khá nhiều). nhưng chỉ đọc đôi bài của ông ta đã thấy ông quả là thi sĩ.

Bùi Hoàng Tám sinh năm 1958 tại Thái Bình, mấy năm nay ông làm phóng viên “Nhà báo và công luận” ở Hà Nội.

07

Bùi Minh QuốcCầm chùm cúc gọi tên niềm hạnh phúc
Nhớ mắt em…
Nhớ góc vườn hầm mẹ cỏ lên xanh.
Máu thấm đất nuôi ta thành dũng sĩ
Đâu phải chỉ qua nhau đi lướt vô tình!

» Xem/Đóng đáp án

BÙI MINH QUỐC (Dương Hương Ly – nhà thơ)
Bùi Minh QuốcCâu một nhắc BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC (tưởng nhớ Xuân Quý): …Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép/ Con sông Giằng gầm réo miên man/ Nước lũ về… Trang giấy nhỏ mưa chan/ Em vẫn viết, lòng dạt dào cảm xúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc/ …/ Trong một góc vườn cháy khét na-pan/ Em sửng sốt gặp một chùm hoa cúc/ Và em gọi đó là hạnh phúc… Câu 2 nhắc Bài MẮT EM: Lạ kỳ đôi mắt của em / Ngước nhìn như thể mắt chim dịu dàng/ Mà sao trút lửa nồng nàn / Phút đầu tiên ấy bàng hoàng lòng anh/ Ôi em đôi mắt trong lành / Mở cho anh thấy cao xanh tâm hồn/ Như trời xanh nắng tươi non/ Thoáng nhìn nhau đã vẹn tròn tình yêu. Hai câu tiếp nhắc tập MẢNH ĐẤT NUÔI TA THÀNH DŨNG SĨ (Nơi hầm tối là nơi sáng nhất/ Nơi con nhìn ra sức mạnh Việt Nam). Câu cuối nhắc bài CÓ KHI NÀO… được nhiều người thuộc: Có khi nào trên đường đời tấp nập/ Ta vô tình đã đi lướt qua nhau/ Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất/ Một tâm hồn ta đợi đã từ lâu?…

Bùi Minh Quốc sinh năm 1940 tại Hà Tây, hiện sống ở Đà Lạt.

08

Bút NgữQuê ta nước úng, nước cường
Đêm về sáng, thức bên giường, lo mưa…
Thời loạn lạc đã qua chưa?
Vẫn còn đây: pháo đài xưa Đồng Bằng

» Xem/Đóng đáp án

BÚT NGỮ (nhà văn)
Bút NgữTrong bài nhắc các tác phẩm chính trong rất nhiều tác phẩm của Bút Ngữ: BÊN ĐỒNG NƯỚC ÚNG (tập truyện), ĐÊM VỀ SÁNG (tiểu thuyết), NHỮNG NGÀY NƯỚC CƯỜNG (tập truyện), NHỮNG THỜI LOẠN (tiểu thuyết lịch sử ) và PHÁO ĐÀI ĐỒNG BẰNG. Ngoài thành tựu sáng tạo văn học, Bút Ngữ còn đóng vai trò trụ cột cho việc tổ chức, chăm lo xây dựng nền văn học của tỉnh Thái Bình trong nhiều năm trước đây.

Bút Ngữ tên khai sinh là Phan Đình Khương, sinh năm 1931 tại Vũ Thư, Thái Bình. Hiện ông cư ngụ tại thị xã Thái Bình.

09

Bút TreQuê hương thi sĩ Phú Thò
Chè xanh, cọ biếc, mập to trái chuồi
Lòng còn nhớ mãi cái buôi
Đầu làm phân bắc, chăn nuồi đàn bo
Cu Ba lông mượt giống to
Cách màng văn hóa đất tô lại càng…

» Xem/Đóng đáp án

BÚT TRE (nhà thơ)
Bút TreTrong bài nhắc một số tập thơ của Bút Tre: RỪNG CỌ ĐỒI CHÈ, QUÊ HƯƠNG PHÚ THỌ, PHÚ THỌ LỚN LÊN, MỘT NGÀY CỦA PHÚ THỌ. Các từ trái chuồi, cái buôi, phân bắc, chăn nuôi, cách màng, văn hóa, lại càng… là muốn nhắc các câu thơ “Bút Tre” được lưu truyền trong dân gian: Liên hoan có một trái chuồi/ Ra về nhớ mãi cái buôi hôm này; Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh/ Anh về phân bắc phân xanh đầy đồng; Chăn nuôi mấy cậu gầy nhom / Làm đàn heo nái xòn xòn đẻ sai; Chú đi công tác bảo tàng/ Cũng là công việc cách màng giao cho; Bây giờ đang đứng trưởng ty/ Bút Tre thơ phú tôi thì có sau/ Cuối cùng xin nhắc một câu/ Văn hóa quần chúng là đầu chúng ta!; Những con đường rộng thênh thang/ Thái Nguyên Yên Bái lại càng Lào Cai.

Trong tập Chân dung nhà văn (hý họa) này chúng tôi đưa Bút Tre vào vì cuốn sách ít nhiều có tính giải trí. Tuy nhiên cũng muốn qua đây, một lần nữa làm rõ “hiện tượng thơ Bút Tre” này.

Bút Tre tên khai sinh là Đặng Văn Đăng sinh 23/8/1911 tại Đồng Lương, Sông Thao, Vĩnh Phú, mất ngày 18/5/1987. Ông nguyên là trưởng ty Văn hóa Vĩnh Phú, một cán bộ có tâm huyết, có kiến thức rộng, sống thanh bạch, lạc quan. Ông sáng tác nhiều thơ ký là Bút Tre. Thơ ông là thơ trữ tình, thơ chính luận, thơ thời sự để phục vụ sự nghiệp cách mạng. Hoàn toàn không có ý biếm hài. Nhưng khả năng làm thơ quá kém nên trở nên dớ dẩn và buồn cười. Cụm từ “Thơ Bút Tre” đã được dùng thay cho cụm từ “Thơ con cóc” để chỉ sự dở của thơ. Đọc thơ ai, thấy dở, trước kia người ta thốt lên: “Thơ con cóc!” thì bây giờ người ta kêu là “Thơ Bút Tre!”. Lúc đầu người ta tìm các câu thơ dở của ông, “nhuận sắc” cho dớ dẩn hơn, tục tĩu hơn và bảo là thơ của ông. Sau dần người ta tạo ra thơ mới, lấy cái dớ dẩn nực cười làm “mục tiêu sáng tạo” và gọi luôn đó là “Thơ Bút Tre”. “Nghệ thuật thơ Bút Tre” chủ yếu là ở 3 điểm: 1. đặt sai ngữ pháp; 2. do bí vần hay thanh bằng trắc mà đánh dấu “huyền”, “hỏi”, “sắc”, “nặng”, “ngã” tùy tiện; 3. do số từ trong câu đã quy định (chủ yếu là trên 6 dưới 8 của thể Lục-bát) mà ngắt xuống dòng vô lối, bẻ gẫy một từ thành nửa trên nửa dưới. Trong khi áp dụng 3 “thủ pháp” trên cố gắng tạo ra hoặc hướng người đọc nghĩ tới các từ tục tĩu để gây cười.

Bút Tre Đặng Văn Đăng hoàn toàn không có ý thức khơi nguồn một dòng thơ nào cả. Thơ Bút tre nói như Nguyễn Văn Toại là cái họa (chứ không phải cái phúc) của một đời cầm bút. Các câu như: Anh đi công tác Pờ lây/ cu dài dằng dặc biết ngày nào ra; Chị em phụ nữ đánh cầu / Lông bay vun vút trên đầu anh em; Không đi không biết Cửa Lò/ Đi về mới biết nó to hơn cửa mình… đều do “dân gian… lận” đặt ra. Có bài lần trước nghe: Không đi không biết Tam Đao/ Đi thì chẳng biết nơi nào mà ngu/ Một giường nhốt những hai cu/ Sướng khô đành chịu đến chu nhật về. Lần sau nghe đọc lại thì câu cuối đã đổi thành: Gối không đủ gối lấy mu gối đầu.

Hiện tượng Thơ Bút Tre là hiện tượng vô hại. Nó góp một tiếng cười vui mà cả từ người làm nghề văn chương nghệ thuật đến người xa lạ với nghề văn cũng thấy vui thú nên chắc chắn còn được duy trì và phát triển.

10

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Đù mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT (nhà thơ)
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán/ Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH: Sáng lên Hoành Sơn trông/ Chiều xuống Bàn Thạch tắm/ Nhặt hòn đá hai nơi/ Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3, 4 nhắc thơ Cao Bá Quát: Thập tải giao luân cầu cổ kiếm/ Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” ( người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp/ Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời.Một chiếc cùm lim chân có đế/ Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

11

Cao Xuân SơnHắn từng là chiếc ghế gẫy
Đặt chỗ nào nhìn cũng nghiêng
Từng tiễn Kinh Kha xuất ngọai
Không thích – khách đâu, thích tiền!Mới vừa qua đêm giã biệt
Cánh cửa hắn đã khép hờ
Hắn gióng hồi chuông… xỏ lá
Coi chừng! Các bé ngây thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Đùa với CAO XUÂN SƠN (nhà thơ)
Cao Xuân SơnHai câu đầu nhắc bài THƠ VUI GIỮA CHUỖI NGÀY BUỒN với khổ kết Chẳng bù cho những lúc/ Hét vợ con… như điên/ Giờ như chiếc ghế gẫy/ Đặt đâu nhìn cũng nghiêng!. Hai câu tiếp nhắc bài TIỄN EM TRAI ĐI HÀN QUỐC (…Con thơ, vợ dại thương suông, ích gì/ Áo cơm nặng lắm đi đi/ Cái ba lô cũ thích thì cứ mang/ Dặn em sức vóc là vàng/ Đừng đem vắt kiệt giá băng xứ người/ Rủi may ai biết hở trời?/ Đêm nay… anh rót rượu mời Kinh Kha). Bốn câu cuối nhắc tên ba tập thơ của Cao Xuân Sơn: ĐÊM GIÃ BIỆT (Rụng xuống trái còn xanh/ là tại trời bão nổi/ Chiếc lá vàng lìa cành/ là mùa thu có lỗi / / Sông cạn dòng nước chảy / tại đất nhiều bể dâu/ Trăng khuyết vẹt đỉnh đầu/ tại trời đêm nguyệt thực/ / Tất cả đều hiểu được/ duy chỉ một điều này/ sao không là ai khác/ mà em – vừa chia tay?), CÁNH CỬA KHÉP HỜ (Anh khép hờ cánh cửa phòng anh/ có thể gió bất ngờ đưa hương tới…) và CHUÔNG LÁ (Không gió không mưa lá chiều cứ rụng/ Giọt giọt chuông/ buông/ sầm sậm mặt ngày…)

Cao Xuân Sơn sinh năm 1961 tại Hà Nam, hiện công tác tại chi nhánh NXB. Kim Đồng tại TP. Hồ Chí Minh.

12

Chế Lan ViênHỡi những ma Hời trong đêm sờ soạng
Giữa điêu tàn ta dựng nguy nga
Ta là tháp Bay-on bốn mặt
Ta làm ra ánh sáng phù saTừ rối cạn đổi đời làm… rối nước!
Trên đá trồng hoa, trên dây làm xiếc
Dẫu Châu – Thành là chuyện trời ơi
Ta cũng đã đẻ ra đàn tuấn mã cho đời!

» Xem/Đóng đáp án

CHẾ LAN VIÊN (nhà thơ)
Chế Lan ViênHai câu đầu nhắc tập thơ ĐIÊU TÀN vừa ra đời đã làm rạng tên tuổi tác giả. Cảnh ma sờ soạng, máu chảy xương rơi, sọ dừa lăn lóc… có tần suất xuất hiện rất cao trong tập thơ này. Câu 3 nhắc bài THÁP BAY-ON BỐN MẶT: Anh là tháp Bay-on bốn mặt/ Giấu đi ba, còn lại đấy là anh/ Chỉ mặt đó mà nghìn trò cười khóc/ Làm đau ba mặt kia trong cõi ẩn hình. Câu 4 nhắc tập ÁNH SÁNG VÀ PHÙ SA tập thơ từng làm chấn động văn đàn. Những câu thơ không có ý học mà thuộc thường là ở tập này như Khi ta ở chỉ là nơi đất ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn hay Xa mẹ mười năm đi khắp nước/ Trăm quê chưa dễ thực quê nhà/ Sáng nay mới thực về quê nhỉ: Bóng mẹ già ai giống mẹ ta. Câu thứ 5 nhắc bài RỐI CẠN VÀ RỐI NƯỚC: Anh đẽo tâm hồn anh thành con rối để yêu em/ Anh hóa gỗ, hóa dây hóa dại khờ ngũ sắc/ Tuồng tích ấy chú rối mình đủ khóc/ Cần chi bàn tay nào đến giật dây thêm/ * / Anh rối nước muốn lên bờ thành rối cạn/ Em đi xa ao thương nhớ hóa đầy/ Anh đứng giữa lệ mình trơ không dám khóc/ Vui nỗi gì khán giả vỗ ran tay. Câu 6 nhắc tập HOA TRÊN ĐÁ và bài XIẾC (2): Anh lên cao chả có dây an toàn nào thắt ở sau lưng/ Trừ em ra – -đóa hồng trên mặt đất-/ Chỉ lơ đễnh buông tay là đi đứt/ Lên cao làm chi? Là để hái cành hồng. Ở đây cũng muốn nói tài thơ, tài sử dụng ngôn từ của Chế Lan Viên cũng giống như nhà ảo thuật làm xiếc vậy. Hai câu cuối nhắc bài ANH NHƯ NGƯỜI NGHE CÓ CHÂU THÀNH XA: Anh như người nghe có châu thành xa liền đẻ ra giống ngựa để đi tìm/ Đến nơi chả có châu thành nào cả/ Nhưng đã đẻ ra giống ngựa/ Toàn tuấn mã/ Mà nếu đem châu thành ra trả giá/ Có người yêu ngựa sẵn sàng đem.

Chế Lan Viên tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, sinh năm 1920 tại Quảng Trị, mất năm 1989 tại Tp. Hồ Chí Minh.

13

Chim TrắngTên anh dí dỏm vô cùng
Đồng bằng, miền núi khắp vùng yêu thương
Ngoại ơi, một góc quê hương
Tình yêu gọi, những ngả đường hướng theo!

» Xem/Đóng đáp án

CHIM TRẮNG (nhà thơ)
Chim TrắngCâu 1 nhắc tập thơ TÊN EM RỰC RỠ VÔ CÙNG. Chúng tôi sửa chữ em thành chữ anh vì “Chim Trắng” cũng rực rỡ lắm chứ! Nó là biểu tượng của Hòa Bình, ai chả yêu! Câu 2 nhắc tập thơ ĐỒNG BẰNG TÌNH YÊU. Câu 3 nhắc tập MỘT GÓC QUÊ HƯƠNG (Bơi ngược dòng sông tìm lại một bến đò/ Tìm lại một cuộc đời có đời tôi trong đó/ Hơi bàn tay ấm đưa ra, đêm đen không nhìn thấy/ Gió chướng rong thơm giữa chiến trường…) và bài thơ HOA CAU QUÊ NGOẠI: Mẹ lấy chồng xa/ Lâu lâu mới dẫn con về quê ngoại/ Chưa bước vào nhà/ Đã thấy đầy sân hoa trắng rụng/ Hương cau thoang thoảng/ Thơm như là tuổi thơ/ …/ Thương ngoại nên thương luôn hàng cau/ Thương cả dây trầu mẹ tưới, mẹ vun/ Thương con nước lớn đầy sông/ Chở hoa cau trắng xuôi dòng. Về đâu?/ Thương sao câu hát ngọt ngào/ Giữa trưa bỏm bẻm nhai trầu mẹ ru… Câu cuối nhắc tên hai tập thơ KHI TÌNH YÊU LÊN TIẾNG và NHỮNG NGẢ ĐƯỜNG.

Tên khai sinh của nhà thơ là Hồ Văn Ba sinh năm 1938 tại Bến Tre. Hiện ông là Tổng biên tập báo Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh.

14

Chu VănTrâu bạc: ngòi bút tớ cầy!
Đã qua bão biển, đường lầy chẳng thua!
Vốn dân đất mặn đồng chua
Văn hay chữ tốt, từng “vua” xứ người!

» Xem/Đóng đáp án

CHU VĂN (nhà văn)
Chu VănTrong bài nhắc một số tác phẩm tiêu biểu làm nên tên tuổi Chu Văn: CON TRÂU BẠC, BÃO BIỂN, CON ĐƯỜNG LẦY, ĐẤT MẶN. Câu đầu lấy ý từ câu đố dân gian về ngòi bút: Không phải bò/ chẳng phải trâu/ Uống nước ao sâu/ Lên cày ruộng cạn. Hai câu cuối: Nhà văn Chu Văn vốn quê Thái Bình (xứ  đồng chua nước mặn) và ông đã từng là chủ tịch Hội Văn Nghệ Hà-Nam-Ninh. Tên khai sinh của ông là Nguyễn Văn Chữ.

Chu Văn sinh năm 1922 tại Đông Hưng Thái Bình, mất năm 1994 tại Hà Nội.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần D-Đ)

15

Dư Thị HoànMười năm khóc
Tự hành hình
Thơ văng ra với máu mình văng ra!
Phải đâu mẫu giáo ê a
Rủi may lối nhỏ thoắt ra đường dài

(Em ơi anh chẳng như ai
Vui xong khuy áo – ngực cài rất nhanh!)

» Xem/Đóng đáp án

DƯ THỊ HOÀN (nhà thơ)
Dư Thị HoànCâu 1 nhắc bài thơ dài MƯỜI NĂM KHÓC THẦM. Câu 2 lấy ý từ bài TĨNH LẶNG: Nụ cười em lãnh đạm/ đôi mắt em lơ đãng/ Đâu phải cho anh mà để tự hành hình/ Chớ dừng chân/ Khi vô tình gặp em anh nhé/ Em mang bản án chung thân gái đã có chồng. Câu 3 nhắc bài thơ Thanh Tùng tặng Dư Thị Hoàn (khi chùm thơ đầu của chị xuất hiện trên báo Văn Nghệ): Việt Nam hay Trung Hoa/ Chị chỉ thấy lòng mình xanh ngắt/ chị ôm cả hai tổ quốc của mình/ Trong vòng tay mảnh dẻ// Những ngày vắng ánh mặt trời/ Bao bất hạnh như rễ cây ngang dọc/ Chị xông ra vấp vào chính trái tim mình / Máu văng ra và thơ văng ra. Câu 4 nhắc tập thơ BÀI MẪU GIÁO SÁNG THẾ ( Giáo đường cách xa con đường bụi đỏ/ Không tháp chuông/ Không tượng chúa/ Cô giáo sĩ truyền đạo đang nhảy múa/ Đám tín đồ hài nhi theo nhịp bi bô/…/ Em có đôi bàn tay trắng xinh…/ Cầu nguyện cho bàn tay đừng ám muội… ). Câu 5 nhắc tập thơ LỐI NHỎ: Có lối nhỏ chia đôi thảm cỏ/ Em thả bước chán chường Có lối nhỏ gập ghềnh sỏi đá/ Gót chân em nện xuống dữ dằn/ Có lối nhỏ vương cây xấu hổ/ Em sợ nó khép cánh/ Biết làm sao bây giờ/ Chính lối này đưa em tới anh… Hai câu cuối nhắc bài TAN VỠ khá đặc trưng phong cách thơ Dư Thị Hoàn: Mở ngăn kéo rồi anh bỏ ngỏ/ Bút viết xong không đậy nắp bao giờ/ Ôi anh yêu lơ đãng đến là/ Con nai rừng của em…/ / Tất cả rồi sẽ qua đi, qua đi/ Chúng mình sẽ thành vợ thành chồng/ Nếu không có một lần…/ Một lần như đêm nay/ Sau phút giây/ Êm đềm trên ghế đá/ Anh không cài lại khuy áo ngực cho em. Chúng tôi kết thúc bằng bài thơ này cũng muốn giảm nhẹ sự căng thẳng tinh thần khi nghĩ tới con đường đến với thơ của Dư Thị Hoàn.

Dư Thị Hoàn gây ấn tượng lạ lùng ngay từ những bài thơ xuất hiện đầu tiên. Điều đó dễ gây cảm giác tác giả đã gặp may trong văn nghiệp. Thực ra thơ của nữ sĩ là kết tinh của máu, của nước mắt, được thai nghén trong những năm bão tố của cuộc đời. Những năm tháng cam go cả về vật chất lẫn tinh thần tưởng không thể vượt qua, từng phải đương đầu với cả cái chết.

Dư Thị Hoàn tên khai sinh là Vương Oanh Nhi, sinh năm 1947. Quê gốc ở Quảng Tây, Trung Quốc, sống ở Hải Phòng, mới về Hà Nội vài năm nay.

16

Đàm Chu VănSóng Đồng Nai ấm phù sa
Ngỡ đâu Trà Lý quê nhà trong mơ
Một bông hoa dại đơn sơ
Và em chợt hiện thành thơ. Dịu dàng…
Dòng sông ngại chảy mơ màng
Đá chồng Định Quán luận đàm thi văn.

» Xem/Đóng đáp án

ĐÀM CHU VĂN (nhà thơ)
Đàm Chu VănCâu đầu nhắc tập thơ NẮNG ẤM PHÙ SA (tập thơ đầu tác giả in chung với Vũ Xuân Hương và Phan Từ Đăng) và cũng nhắc tập thơ THEO SÓNG ĐỒNG NAI do ông tuyển chọn của nhiều tác giả. Câu 2 nhắc quê ông ở Thái Bình. Câu 3 nhắc bài HOA DẠI: Chễm chệ trên bàn tiệc, hội hè/ Những-bông-hoa-giả/ em/ khuất mình dưới cỏ/ Lặng lẽ sắc màu/ lặng lẽ hương. Câu 4 nhắc tập thơ VÀ EM CHỢT HIỆN với bài EM: Em ngấm vào anh/ như dòng sông ngấm bài ca/ mặt đất ngấm nắng trời/ nét duyên dáng/ sự dịu hiền thùy mị/ giọt mồ hôi hóa ngọc giữa sen hồng… Câu 5 nhắc tập thơ DÒNG SÔNG NGẠI CHẢY. Câu cuối nhắc tên tác giả và cũng nhắc bài thơ khá “nặng ký” của tác giả là ĐÁ CHỒNG ĐỊNH QUÁN : Hỏi tuổi ư? / Đá cười/ Cổ thụ nghìn năm ne nép/ như trò chơi của thần Mặt Trời, Mặt Trăng/ rải ô ăn quan trên mặt đất/ như trẻ con cõng em trên lưng/ túm tụm chơi cùng chúng bạn/…/ Hỏi tuổi ư?/ đá cười/ chỉ về miền cao ngất/ ta là con của trời xanh/ anh em của suối khe/ hiền lành/ người tình của đá/ áp tai nghe ta thở/ nhịp trầm sau núi rừng/ ta khô ran trong nỗi nhớ rừng/ rắn đanh lời đá/ lắng tai nghe ta kể/ một thời rừng thần thoại vây che/ một thời yêu cuồng nhiệt đam mê/ đến giờ còn lăn lóc.

Đàm Chu Văn sinh năm 1958 tại Thái Bình. Hiện công tác tại Biên Hòa, Đồng Nai.

17

Đặng HấnVào làng qua cầu chữ Y
Nhẹ tình, nặng ý, thơ ỳ chữ câu
Thần tiên giả , trái chín sâu
Không gian – thương, lấy tiền đâu đi hoài?

» Xem/Đóng đáp án

ĐẶNG HẤN (nhà thơ – Chân dung tự họa)
Đặng HấnSau tập thơ  CẦU CHỮ Y ( Giải nhất cuộc thi do Hội Nhà văn, Báo Văn nghệ và NXB. Kim Đồng phối hợp tổ chức), Đặng Hấn đã được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam (Cầu nào cũng chữ Y/ Nhưng chỉ là I ngắn/  Cầu quê em lạ lắm/ Làm hẳn chữ Y dài/ Xoáy nước tung bọt cười/ Xuồng ghe trôi như hội/ Đoàn người xe vồi vội/ Chẳng lạc lối khi nào/ Ô, người đi trên chữ/ Chữ nâng người lên cao); NHỮNG CHUYỆN THẦN TIÊN, HOA THƠM TRÁI CHÍN là các tập thơ thiếu nhi. KHÔNG GIAN THƯƠNG là thuật ngữ trong toán học hiện đại được Đặng Hấn lấy làm tựa đề cho tập thơ tình, nhưng nếu tách hai chữ “gian – thương” ra lại có ý nghĩa khác. Đặng Hấn rất mê đi du lịch nên bạn bè hay đọc câu vè về Thái Bình quê hắn: Thái Bình là đất ăn chơi/ Tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành và Đặng Hấn thường đọc lại: Gậy ta đó đòn xoay chế độ/ Bị ta đây cờ đỏ truyền đơn. Đặng Hấn là tay nịnh vợ “bậc siêu”. Sự nghiệp thơ văn của hắn chủ yếu là để nịnh vợ con. Hãy đọc vài bài hắn viết về vợ con: EM THÈM CHUA: Sáng chòi me ở đầu hiên/ Chiều về ghé bạn em xin trái điều…/ Em ăn chua chát bao nhiêu/ Mà mang dịu ngọt, thương yêu đầy lòng; EM THÌ AI TRÔNG: Bạn bè rủ đi chơi xa/ Còn em trông nhà, có ngại ngần chi/ Nhưng rồi anh lại không đi/ Vì anh chợt nghĩ: em thì ai trông?; CON : Giống cha, giống mẹ như in/ Khuôn mắt của mẹ, cái nhìn của cha/ Giống mình xưa, khác mình xa/ Cái ta đã mất, mãi ta vẫn còn…

Đặng Hấn sinh năm 1942, hiện đang giảng dạy toán tại ĐH. Kinh tế Tp. Hồ Chí Minh

18

Đặng Nguyệt AnhVừa “ca” mẹ, đã ru ai…
Chiều bâng khuâng lắm nhành mai mới gầy
Thôi đừng trách gió heo may
Nếu anh biết được thì gầy… cành đa!

» Xem/Đóng đáp án

ĐẶNG NGUYỆT ANH (nhà thơ)
Đặng Nguyệt AnhCâu 1 nhắc các tập TRƯỜNG CA MẸ và RU LỜI NGÀN NĂM: Ru em sáng tỏ đêm rằm/ Tóc xanh gối đất, êm nằm rừng xa/ Thịt da con gái nõn nà /…/ Ôm em đất hát “ơi à…” ngàn năm! Câu 2 nhắc tập thơ BÂNG KHUÂNG CHIỀU, câu 4 nhắc tập thơ NẾU ANH BIẾT ĐƯỢC. Các câu 2, 3, 4 dựa trên bài tứ tuyệt có tứ… tuyệt lạ: Nếu anh biết được chiều nay/ Gió từ đâu đến thổi gày nhành mai/ Một đời gió có vì ai/ Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

Đặng Nguyệt Anh có nhiều câu thơ về mùa thu rất dễ nhớ. Ví như Vàng thêm chút nữa thu ơi/ Trong thêm chút nữa khoảng trời quê hương hay Gửi đi một chút heo may/ Để bên ấy biết bên này thu sang.

Ngoài 4 tập thơ kể trên, Đặng Nguyệt Anh còn có tập SÔNG NINH, dòng sông trên quê Trực Ninh của nhà thơ: Ngày đi xa/ Ta gửi lại nửa vừng trăng dưới đáy sông Ninh/ Gửi lại nửa đời con gái/ Gửi lại dấu chân ta thơ dại/ Trên bãi với phù sa/ Con cáy, con còng chui vào làm tổ…

Nữ sĩ Đặng Nguyệt Anh sinh năm 1948 tại Ninh Cường, Trực Ninh, Nam Định. Hiện ở tại 112 Nguyễn Thị Minh Khai Q3 Tp. Hồ Chí Minh. ĐT 9304329- Một địa chỉ khá quen thuộc với các văn nhân Trung, Nam, Bắc.

19

Đinh HùngĐường vào tình sử bao xa?
Bài ca man rợ, khúc ca mê hồn
Đời nhiều chớp bể mưa nguồn
Kỳ nữ đừng buồn, xin hãy yêu tôi.

» Xem/Đóng đáp án

ĐINH HÙNG (nhà thơ)
Đinh HùngCâu 1 nhắc tập thơ ĐƯỜNG VÀO TÌNH SỬ (…Chúng ta đi vào lá hoa tình sử/ Hơi thở em hòa sương khói Đường thi…). Câu 2 nhắc tập MÊ HỒN CA và bài BÀI CA MAN RỢ trong tập đó (Tôi thèm ăn một chút hoa man dại). Câu 3 nhắc bài CHỚP BIỂN MƯA NGUỒN (Có kẻ nghe mưa, chạnh mối sầu/ Vắt tay chờ mộng suốt canh thâu/ Gió từ sông lại, mưa từ biển/ không biết người yêu nay ở đâu). Câu 4 nhắc bài KỲ NỮ (Ta từng có những buổi sầu ghê gớm/ Ở bên Em – ôi biển sắc, rừng hương!/ Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm/ Em đến đây như đến tự thiên đường…) và bài XIN HÃY YÊU TÔI được nhiều người nhớ: Xin hãy yêu tôi, những lòng thiếu nữ !/ Tôi chép thơ ca tụng miệng hoa cười/ Ôi những nàng như liễu, mắt xa xôi !/ Yêu tôi nhé, tôi vốn người mê đắm!/ Xin hãy yêu tôi, những lòng hoa thắm!/ Xuân đã hồng, thu biếc, tôi  làm thơ/ Cửa lòng tôi giăng lưới nhện mong chờ/ Buồn phơ phất mới trông chiều, ngóng gió /…/ Em có má hồng dạo lòng qua đó / Bởi vô tình không biết đấy mà thôi:/ Trời của tôi, mà thu cũng của tôi/ Để em tới, em làm người khách lạ/ Miệng kia xinh, sao tình lơ đãng quá!/ Tôi không yêu sao có má em hồng?/ Tôi không buồn, sao có mắt em trong?/ Tôi không mộng sao có lòng em đẹp?

Đinh Hùng sinh năm 1920 tại Hà Đông, mất ở Sài Gòn 1967.

20

Đinh Thị Thu VânThay cho lời hát ru anh
Áo người yêu vẫn để dành ấm êm
Nhờ anh bộ đội dán tem
Trái tim rao bán ngày thêm đắt hàng.

» Xem/Đóng đáp án

ĐINH THỊ THU VÂN (nhà thơ)
Đinh Thị Thu VânTHAY CHO LỜI HÁT RU ANH là tên một tập thơ của Đinh Thị Thu Vân. Câu 2 nhắc bài ÁO NGƯỜI YÊU: Sợi vải nào thương anh giữa đêm/ Sợi vải nào vương hơi thở mềm?/ Sợi vải nào nhớ vừng ngực ấm/ Có sợi nào tương tư áo em? Câu 3 nhắc bài thơ CON TEM QUÂN ĐỘI: Anh về từ chiến trường xa/ Con tem quân đội, làm quà trao em/ Tay em năm ngón dẫu mềm/ Vẫn e chưa đủ dịu êm khi cầm/ … / Dấu bưu điện sẽ in tròn/ Con tem chắp cánh tâm hồn nó bay/ Thư em quen viết không dài/ Xin anh nhớ hiểu những lời phía sau. Đinh Thị Thu Vân được giải thưởng thơ tạp chí VNQĐ với chùm thơ có bài CON TEM QUÂN ĐỘI và trở thành nhà thơ có tên tuổi từ đó. Câu cuối nhắc bài TRÁI TIM RAO BÁN (… Em sẽ đem trái tim mình bán đi /bán đi/ cho bất cứ người đàn ông nào bước vào số phận/ trừ một người duy nhất/ là anh.)

Đinh Thị Thu Vân sinh năm 1955, quê Long An. Hiện là tổng biên tập tạp chí Văn Nghệ Long An.

21

Định HảiBài ca trái đất mê say
Én vui, én hát – đu quay, quay tròn
Chồng hoa chồng nụ lạ hơn:
Tưởng nụ gì hóa nụ hôn học trò!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỊNH HẢI (nhà thơ)
Định HảiCâu đầu nhắc tên bài thơ BÀI CA VỀ TRÁI ĐẤT đã được nhạc sĩ Trương Quang Lục phổ nhạc khá nổi tiếng: Trái đất này là của chúng mình/ Quả bóng xanh bay giữa trời xanh/ Bồ câu ơi, tiếng chim gù thương mến/ Hải âu ơi, cánh chim vờn sóng biển/ Cùng bay nào cho trái đất quay! / Cùng bay nào cho trái đất quay!/ /Trái đất trẻ của bạn trẻ năm châu/ Vàng, trắng, đen… dù da khác màu/ Ta là nụ, là hoa của đất/ Gió đẫm hương thơm, nắng tô thắm sắc/ Màu hoa nào cũng quý cũng thơm/ Màu da nào cũng quý cũng thơm/ / Khói hình nấm là tai họa đấy/ Bom H bom A không phải là bạn ta/ Tiếng hát vui giữ bình yên trái đất/ Tiếng cười ran cho trái đất không già/ Hành tinh này là của chúng ta!/ Hành tinh này là của chúng ta!. Câu hai nhắc tập thơ ÉN HÁT VÀ ĐU QUAY, Câu thứ ba nhắc tập thơ CHỒNG NỤ CHỒNG HOA. Đây là các tập thơ khá nổi tiếng của Định Hải viết cho thiếu nhi. Câu thứ tư nhắc tác phẩm NỤ HÔN HỌC TRÒ gồm 2 tập thơ viết cho tuổi mới lớn của Định Hải (NXB Thanh niên). Chữ  “lạ” ở câu thứ 3 là nhắc tên tập thơ viết cho thiếu nhi của Định Hải: BAO NHIÊU ĐIỀU LẠ.

Định Hải (tên khai sinh là Nguyễn Biểu) sinh năm 1937, quê Thanh Hóa. Hiện ông sống và viết tại Hà Nội.

22

Đoàn Thị Lam LuyếnCánh cửa nhớ bà, phải cháu nhớ đâu
Lửa không châm, cháu đi châm khói
Trầu không têm, cháu têm bã trầu.
Xem ra cháu dại hơn Vân dại?
Cứ dại yêu hoài, nhấn mãi sâu!

» Xem/Đóng đáp án

Ghẹo ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN (nhà thơ)
Đoàn Thị Lam LuyếnCâu  thứ nhất nhắc bài thơ CÁNH CỬA NHỚ BÀ trong tập thơ cùng tên viết cho thiếu nhi: Ngày cháu còn thấp bé/ Cánh cửa có hai then/ Cháu chỉ cài then dưới/  Nhờ bà cài then trên/ Mỗi năm cháu lớn thêm/ Bà lưng còng cắm cúi/ Cháu cài được then trên/ Bà chỉ cài then dưới/  Nay cháu về nhà mới/ Bao cánh cửa ô trời/ Mỗi lần tay đẩy cửa/ Lại nhớ bà khôn nguôi. Câu thứ hai nhắc tập thơ CHÂM KHÓI (Giải thưởng hội nhà văn 1995) (Ngoài bốn chục chưa khỏi điều non nớt/ Cả tin nghe, cả tin nói, cả tin cười/ Que diêm mảnh cứ châm bờ rạ ướt/ Khói lửa nào đắng đót trái tim tôi). Câu thứ 3 nhắc tập thơ CHỒNG CHỊ CHỒNG EM (Chị thản nhiên mối tình đầu/ Thản nhiên em nhặt bã trầu về têm). Hai câu cuối nhắc tên bài thơ VÂN DẠI (Vân cứ dại thêm một nghìn năm nữa/ Cho mai ngày đôi lứa diụ dàng hơn) và tập thơ DẠI YÊU (Từ hôm cha nằm xuống/ lòng con không được yên/ Ngày nào con cũng nguyện/ Đêm nay cha về bên/ / Lại được nghe cha mắng/ Và trách con thật nhiều/ Như khi bé dại của/ Lớn rồi lại dại yêu/…/ Đàn bà lừa nẻo bạc/ Đàn ông dối nẻo tình/ Phận con như sấu đá/ Làm sao cất nổi mình…)

Đoàn Thị Lam Luyến sinh năm 1953, quê Hưng Yên. Hiện ở Hà Nội, công tác tại Hội Nhà văn Việt Nam.

23

Đoàn Vị ThượngYêu tha thiết cánh phượng hồng
Cũng là yêu trẻ hết lòng đấy thôi
Linh hồn như bụi phấn rơi
Trộn tôi lẫn với mọi người. Và em…

» Xem/Đóng đáp án

ĐOÀN VỊ THƯỢNG (nhà thơ)
Đoàn Vị ThượngCâu 1 nhắc bài thơ NGÔI TRƯỜNG HOA PHƯỢNG: Tôi thương cây phượng nhu mì/ Nở đâu kịp với học kì đã qua/ Năm nào cũng chịu cách xa/ Năm nào cũng đứng đơm hoa một mình. Câu 2 nhắc tạp chí Yêu trẻ, nơi Đoàn Vị Thượng gắn bó với văn học thiếu nhi nhiều năm nay. Câu 3 nhắc bài thơ BỤI PHẤN, bài thơ tâm đắc nhất của tác giả từng đoạt giải văn học của Hội Nhà văn TP. Hồ Chí Minh và có lẽ còn sống mãi trong lòng tác giả và nhiều bạn đọc dù tác giả từ lâu đã rời khỏi môi trường sư phạm: Viên phấn ơi, sao chỉ nhỏvà gầy/ Như ngón tay nằm trong bàn tay tôi đấy/ Nào ai nỡ đánh rơi nữa chừng, hay toan bẻ gẫy/ Sợ năm ngón tay kia thôi sẽ hết hồng. Câu cuối nhắc bài thơ MỌI NGƯỜI rút từ tập THƠ ĐOÀN VỊ THƯỢNG : Tôi lẫn vào mọi người đến không còn rứt ra được nữa/ Hai cổ tay cũng buộc vào điệu múa/ Của cha ông, vốn vậy, tự bao giờ/ Ngay em đã lánh mặt tôi nghìn bữa/ Cũng cứ về, như thật, ở trong mơ// Tôi lẫn vào mọi người như thể mất tự do/ Như thể thiếu mọi người thì tôi không sống được/ Tôi nô lệ tiếng cười chào quen thuộc/ Đi đâu xa mặt mũi thẩn thờ rồi/…/ Mọi người ơi, xin hãy chớ tin tôi/ Nếu tôi chẳng thật lòng tin tất cả/…/ Này, có thật em từng đã lẫn vào tôi / Sao em vội rứt ra nhẹ nhàng như rứt cỏ?/ Em rứt cả một mảng đời tôi đó/ Cái chỗ tôi khuyết em bỗng có mọi người đầy…

Đoàn Vị Thượng tên khai sinh là Trần Quang Đoàn, sinh năm 1959, quê Thừa Thiên Huế. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

24

Đỗ Lai ThúyBằng cái nhìn văn hóa
Mắt thơ chẳng hề ngây
Hương xuân tình phồn thực
Chân trời người vút bay!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ LAI THÚY (nhà lý luận phê bình)
Đỗ Lai ThúyTrong bài thơ nhắc 4 tác phẩm chính của Đỗ lai Thúy: TỪ CÁI NHÌN VĂN HÓA, MẮT THƠ  (bàn về thi pháp thơ mới, đã được tái bản khá nhiều lần), HỒ XUÂN HƯƠNG-SỰ HOÀI NIỆM PHỒN THỰC và CHÂN TRỜI CÓ NGƯỜI BAY (viết về sáu nhà lý luận phê bình, sáu giáo sư  thầy học của tác giả). Đỗ lai Thúy đóng góp vào nền lý luận phê bình Việt Nam một giọng điệu sắc sảo, có chiều sâu, cung cấp nhiều kiến thức mà không bị rơi vào hiện tượng khoe chữ, khoe kiến thức, một giọng nói lịch lãm tài hoa. Về Hồ Xuân Hương, trước ông người ta hay né tránh cái tục hoặc giải thích theo quan điểm xã hội, đấu tranh giai cấp… khá khiên cưỡng. Đỗ Lai Thúy tiếp cận bằng nhiều quan điểm đặc biệt là dựa trên văn-hóa-phồn-thực, đi thẳng vào cái tục để tìm ra chân giá trị thơ Hồ Xuân Hương.

Đỗ Lai Thúy sinh năm 1948, quê Quốc Oai, Hà Tây. Hiện là phó tổng biên tập tạp chí Văn Hóa Nghệ Thuật.

25

Đỗ Trọng KhơiThấm buồn, cúc trổ đoá vàng
Hệt như đốm nắng gọi làng thu ơi!
Chim thiêng không đỗ yên nơi
Vẫn bay, đẩy khoảng xa khơi sang mùa!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ TRỌNG KHƠI (nhà thơ)
Đỗ Trọng KhơiTrong bài nhắc hai tập thơ của Đỗ Trọng Khơi: CON CHIM THIÊNG VẪN BAY (tập thơ đầu) và GỌI LÀNG (tập thơ thứ ba). Đỗ Trọng Khơi bị liệt hai chân từ khi học lớp bốn. Tuy vậy, với đôi cánh thi ca, anh đã bay tới văn đàn và thơ anh cùng với tên tuổi anh đã đến với trái tim nhiều bạn yêu thơ trong cả nước. Thơ Khơi như từ nỗi buồn khơi dậy. Hình như không khí mùa thu ở miền Bắc dễ hòa hợp với tâm hồn anh nên anh có nhiều câu thơ về mùa thu rất sâu xa, tinh tế và có sức gợi cảm mạnh: Xòe tay tính đốt thời gian/ Kịp không hay đã muộn màng thu ơi ?/ Đêm trong như một làn hơi/ Như không gì cả mà bời bời thu… hoặc Đã tràn ngân nỗi mong manh/ tiếng chim đẩy khoảng trời xanh sang mùa/ Vàng như tự nắng tự mưa/ Tự lòng đất, tự trời xưa nhuốm về/ Xanh lên đã kiệt sức hè/ Nắng nồng theo lối hồn ve lìa ngàn/ Vườn chiều rộn lá thu sang/ Heo may ngậm mảnh trăng vàng rong chơi. Anh cũng vừa cho ra mắt bạn đọc tập thơ CẦM THU. Hai câu cuối cũng muốn nhắc tên tác giả.

Đỗ Trọng Khơi sinh ngày 17 tháng 7 năm 1960, quê Trần Xá, Văn Cẩm, Hưng Hà, Thái Bình

26

Đỗ Trung QuânNgỏ tình đầu, phượng đơm hoa
Đa tài: nhạc họa, thơ ca đều sành
Sóng xô vào mạnh, ra nhanh
Quê hương nên nhạc, người thành thi nhân.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ TRUNG QUÂN (nhà thơ)
Đỗ Trung QuânCâu 1 nhắc bài thơ CHÚT TÌNH ĐẦU hay PHƯỢNG HỒNG gì đó đã được phổ nhạc khá nổi tiếng : Những chiếc giỏ xe chở đầy hoa phượng/ Em chở mùa hè của tôi đi đâu/ Chùm phượng vĩ em cầm là tuổi tôi 18/ Thuở ai hay thầm lặng mối tình đầu. Câu 2: Đỗ Trung Quân thuộc loại đa tài: Viết báo, làm thơ, vẽ bìa, minh họa sách báo… Câu 3 nhắc bài thơ BIỂN, NÚI, EM VÀ SÓNG:Anh làm núi đứng một đời ngóng biển/ Một tình yêu chạm đến đỉnh trời/ Em là sóng, nhưng xin đừng như sóng/ Đã xô vào, xin chớ ngược ra khơi. Tình yêu của ông với nghệ thuật vẫn còn là đơn phương. Chỉ khi bài thơ QUÊ HƯƠNG được Giáp Văn Thạch phổ nhạc rất thành công, làm rung động  trái tim bao người Việt Nam ở trong và ngoài nước, bạn đọc mới xem ông như một nhà thơ. Bài thơ đậm đà chất cải lương với nhiều chi tiết hơi… sáo: Quê hương là con diều biếc/ … / Mẹ về nón lá nghiêng che… Nhưng có những câu hay vì thật giản dị tự nhiên mà khẳng định được chân lý, làm điểm tựa, điểm phát sáng cho toàn bài: Quê hương mỗi người chỉ một  Như là chỉ một mẹ thôi!

Đỗ Trung Quân sinh 1945 tại Sài Gòn. Hiện ở Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh.

27

Đỗ Vĩnh BảoGió miền châu thổ tái tê
Bông hoa lửa trắng nắng hè chói chang

Thị trường tiền tệ sang trang
Giữa chiều muộn lại rỡ ràng ngày vui
Hồng Kông, Băngkok… đủ mùi
Quẳng dao, nắm bạc, thôi đòi quyền yêu!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ VĨNH BẢO (nhà văn)
Đỗ Vĩnh BảoTrong bài thơ trên nhắc đến 7 tác phẩm của Đỗ Vĩnh Bảo : GIÓ MIỀN CHÂU THỔ (tập truyện), BÔNG HOA LỬA TRẮNG (tập truyện), CON DAO NẮM BẠC (truyện dài), CHIỀU MUỘN (tập truyện), QUYỀN ĐƯỢC YÊU (tiểu thuyết) và hai tác phẩm mới nhất là ĐÊM HỒNG KÔNG(ký sự) và NGỠ NGÀNG BĂNGKOK (ký sự). Câu thứ 3 cho biết tác giả đã chuyển sang công tác tại báo “Thị trường-Tài chính-Tiền tệ” ở Hà Nội nhiều năm nay.

Đỗ Vĩnh Bảo sinh năm 1943 tại Vũ Thư, Thái Bình, từng là Tổng biên tập báo Thái Bình, Tổng biên tập tập san Văn nghệ Thái Bình, phó chủ tịch Hội Văn nghệ Thái Bình.

28

Đức HậuCúc biển, hay “cúc trời” rồi cũng úa
Vùng đất mới hôm qua nay cũng cũ rồi
Hạnh đã lớn, chẳng còn mê truyện kể
Bạn bè sau chiến tranh rơi rớt lại mấy người?
May mắn gặp người-đàn-bà-ám-ảnh
Mới nên cơ nên nghiệp của nhà ngươi!

» Xem/Đóng đáp án

ĐỨC HẬU (nhà văn)
Đức HậuTrong bài có nhắc năm tác phẩm chính của Đức Hậu: BÔNG CÚC BIỂN, VÙNG ĐẤT MỚI, CHUYỆN KỂ CỦA BÉ HẠNH, BẠN BÈ SAU CHIẾN TRANH và NGƯỜI ĐÀN BÀ ÁM ẢNH. Đức Hậu đã nhận nhiều giải thưởng văn học với các tập truyện: BẠN BÈ SAU CHIẾN TRANH, CHUYỆN KỂ CỦA BÉ HẠNH, LẠC BƯỚC. Nhưng phải đến NGƯỜI ĐÀN BÀ ÁM ẢNH ông mới chứng tỏ mình là một cây bút truyện ngắn thực thụ, không phụ lòng mong mỏi của bạn đọc yêu văn ông.

Đức Hậu liên tiếp nhiều năm nay là Chủ tịch Hội Văn Nghệ Thái Bình. Nhà văn họ Vũ, sinh năm 1947, quê Thái Thụy, Thái Bình.

Chia sẻ bài này:

Chân dung nhà văn (bút danh vần G-H)

29

Giang NamKể từ tháng Tám ngày nào
Người giồng tre dựng chiến hào quê ta
Giữa tiền tuyến lửa xông pha
Một vầng sáng hiện dần ra chân trời…
Quê hương có khế ngọt rồi
Máu xương đã khuất, đòn roi quên dần.

» Xem/Đóng đáp án

GIANG NAM (nhà thơ)
Giang NamTrong bài thơ nhắc một số tác phẩm của Giang Nam : THÁNG TÁM NGÀY MAI (thơ), NGƯỜI GIỒNG TRE (truyện ký), QUÊ HƯƠNG (thơ), TIỀN TUYẾN LỬA (truyện ký), VẦNG SÁNG PHÍA CHÂN TRỜI (thơ). Bài thơ QUÊ HƯƠNG từng “vang bóng một thời”, làm nên tên tuổi của nhà thơ : Thuở còn thơ ngày hai buổi tới trường / Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ / “Ai bảo chăn trâu là khổ” / Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao  / Những ngày trốn học / Đuổi bướm cầu ao / Mẹ bắt được… / Chưa đánh roi nào đã khóc ! / Có cô bé nhà bên / Nhìn tôi cười khúc khích…/…/ Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm / Có những ngày trốn học bị đòn, roi / Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi. (1960)
Giang Nam (tên khai sinh là Nguyễn Sung) sinh năm 1929 tại Khánh Hòa. Hiện công tác tại Khánh Hòa.

30

Hà Khánh LinhTrăng đâu cứu rỗi được người
Chân mây, bọt bóng, nụ cười… xa ra!
Ước lần “góa phụ” cùng ta
Giữa hai người chỉ còn là… số không !

» Xem/Đóng đáp án

HÀ KHÁNH LINH (nhà văn)
Hà Khánh LinhCâu 1 nhắc tập thơ TRĂNG CỨU RỖI. Câu 2 nhắc 3 tác phẩm : VŨNG CHÂN MÂY (tập truyện), NHỮNG BỌT BÓNG MÀU (thơ) và NỤ CƯỜI ÁP-XA-RA (truyện). Câu 3 nhắc tác phẩm GÓA PHỤ PARIS. Câu cuối nhắc một chi tiết chủ đạo trong truyện ngắn CON SỐ 1 TÀI HOA : Tác giả suy ngẫm, xoay đi lật lại lời của một người thủ trưởng cũ : “chúng ta cùng làm việc, cùng chia sẻ khó khăn nặng nhọc và vinh quang, rất thương yêu quí trọng nhau nhưng luôn giữ con số O ở giữa…”. Theo ý chúng tôi giữa nam và nữ đạt tới số O thì quả là “siêu thoát” vậy!
Hà Khánh Linh tên khai sinh là Nguyễn Khoa Như Ý, sinh năm 1945 ở Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Hiện là thư ký tòa soạn tạp chí Sông Hương.

31

Hà Văn ThùyDiệt mối bằng thuốc trừ sâu
Mối chết. Sợ độc ngấm lâu, đành chào!
Dùng văn diệt mọt xem sao
Mọt không chết, chỉ lao đao thân gầy
Lúa nổi giận! Nghiệt ngã thay!
Thời gian gom nhặt, đợi ngày buông neo.

» Xem/Đóng đáp án

HÀ VĂN THÙY (nhà văn)
Hà Văn ThùyHai câu đầu nhắc Hà Văn Thùy vốn tốt nghiệp Đại học Tổng hợp nghành sinh học và về Ty lương thực Thái Bình lo việc diệt mối mọt trong nhiều năm, sau chuyển hẳn sang viết văn. Trong bài nhắc tên các tác phẩm của ông : BÔNG LÚA NỔI GIẬN, SỰ NGHIỆT NGÃ CỦA NGHỀ NGHIỆP và tập thơ THỜI GIAN GOM NHẶT với bài CHIẾC NEO được in trong tuyển thơ Việt Nam 1975 – 2000 : Nhỏ bé – lớn lao / yếu mềm – mạnh mẽ / Con / chiếc neo / Đỡ cha giữa đời bão gió !…
Hà Văn Thùy vừa cho in tập TRẤN HÀ TIÊN VÀ THI ĐÀN CHIÊU ANH CÁC.
Hà Văn Thùy sinh năm 1944 tại Thái Bình. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

32

Hải NhưTừng đứng lặng thầm canh Bác ngủ
Tin trái đất mai này còn lại tình yêu
Tim cháy rực cùng màu phượng đỏ
Lại bâng khuâng theo sim tím biển chiều
Man mác trước nỗi buồn hoa bất tử
Với người xưa trò chuyện ước thêm nhiều.

» Xem/Đóng đáp án

HẢI NHƯ (nhà thơ)
Hải NhưCâu đầu nhắc bài thơ: CHÚNG CHÁU CANH GIẤC BÁC NGỦ, BÁC HỒ ƠI một trong những bài thơ hay nhất viết trong những ngày tiễn Bác đi xa (… Chúng ta hãy bước nhẹ chân, nhẹ nữa / Trăng ơi trăng hãy yên lặng cúi đầu / Trọn cuộc đời, Bác có ngủ yên đâu / Nay Bác ngủ, chúng cháu canh giấc ngủ / Hỡi ai đó, cắn chặt môi, hãy cố / Đừng để cho tiếng nấc động tai người / Bác Hồ vừa chợp mắt ngủ đó thôi… ). Câu 2 nhắc tên tập thơ Hải Như dành viết riêng về Bác: TRÁI ĐẤT MAI NÀY CÒN LẠI TÌNH YÊU (Viết về Người tôi không viết về một con nguời siêu phàm / Với những câu thơ chải chuốt / Người không cần. Và đó không phải công việc thơ tôi / Thân thế sự nghiệp Người. Những chặng đường đất nước / Đúng? Sai?Người dắt dìu / Đánh giá từng bước đi xin nhường sau đây người làm sử / Tôi viết về một con người như mỗi chúng ta nhưng lại khác chúng ta...VIẾT VỀ NGƯỜI). Câu thứ 3 nhắc bài thơ THÀNH PHỐ HOA PHƯỢNG ĐỎ viết về Hải Phòng đã được phổ nhạc khá nổi tiếng. Câu thứ 4 nhắc bài TÌNH CA MÀU TÍM  đã được phổ nhạc : …Không có hoa hồng, mỏ toàn hoa sim tím / Màu tím thủy chung, màu tím đợi chờ / Khi chưa yêu, chưa biết nhìn màu tím / có biết nhìn màu tím mới nên thơ… Câu thứ 5 nhắc tên tập thơ NỖI BUỒN HOA BẤT TỬ  (Khao khát vĩnh hằng con người đặt tên cho ta / Hoa bất tử / Ta không muốn tự huyễn hoặc mình / … / Buồn sao con người không nhìn thẳng kiếp phù sinh). Câu cuối nhắc tác phẩm TRÒ CHUYỆN VỚI NGƯỜI XƯA. Trong tập này tác giả chọn dịch một số thơ chữ Hán của ba thi hào : Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và Cao Bá Quát.
Như Hải tên khai sinh là Vũ Như Hải. Nhà thơ sinh năm 1923, quê Nam Định, hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

33

Hải TriềuNghệ thuật vì cuộc sống
Nghệ thuật vì tình yêu
Duy tâm hay duy vật …
Hạt giống đầu người gieo
Thân dù nhập đại hải
Văn vẫn dâng thủy triều

» Xem/Đóng đáp án

HẢI TRIỀU (nhà lý luận phê bình)
Hải Triều4 câu đầu nhắc những bài bút chiến của Hải Triều và những tác phẩm DUY TÂM HAY DUY VẬT, CHỦ NGHĨA MÁC … Viết một cách nhạy cảm và tâm huyết  về những vấn đề cốt lõi của văn học nghệ thuật ở nước ta vào những năm 30 thế kỷ XX là những “viên đá” xây dựng nền móng cho tư duy lý luận văn học hiện đại Việt Nam. Hai câu cuối nói nhà văn đã mất cách đây gần 50 năm (1954). Nhưng ông như vẫn luôn có mặt trong công cuộc xây dựng nền văn học nghệ thuật tiến bộ vì nhân dân, luôn sống trong lòng các nhà văn và bạn đọc văn nghệ. Đồng thời cũng muốn nhắc bút danh Hải Triều và tên thật nhà văn Nguyễn Khoa Văn.
Nhà văn Hải Triều sinh năm 1908 tại thành Huế, mất năm 1954 tại Thanh Hóa.

34

Hàn Mặc TửThân cùi, mật đắng, thơ điên
Trúc che ngang mặt chữ điền vẫn xanh
Mùa xuân chín ngọt trên cành
Gái quê bẽn lẽn… rợn mình thi nhân!

» Xem/Đóng đáp án

HÀN MẶC TỬ (nhà thơ)
Hàn Mặc TửTrong bài nhắc ba tập thơ của Hàn Mặc Tử : MẬT ĐẮNG, THƠ ĐIÊN và GÁI QUÊ. Câu thứ hai nhắc bài ĐÂY THÔN VĨ DẠ : Sao anh không về chơi thôn Vĩ? / Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên / Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chữ điền // Gió theo lối gió, mây đường mây / Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay / Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay // Mơ khách đường xa, khách đường xa / Áo em trắng quá nhìn không ra / Ở đây sương khói mờ nhân ảnh / Ai biết tình ai có đậm đà?
Câu thứ ba nhắc bài MÙA XUÂN CHÍN : Trong làn nắng ửng, khói mơ tan / Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng / Sột soạt gió trên tà áo biếc / Trên giàn thiên lý bóng xuân sang // Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời / Bao cô thôn nữ hát bên đồi / Ngày mai trong đám xuân xanh ấy / Có kẻ theo chồng, bỏ cuộc chơi // Tiếng ca vắt vẻo lưng chừng núi / Hổn hển như lời của nước mây / thầm thĩ với ai ngồi dưới trúc / Nghe ra ý vị và thơ ngây.// Khách xa gặp lúc mùa xuân chín / lòng trí bâng khuâng sực nhớ làng / Chị ấy năm nay còn gánh thóc / Dọc bờ sông trắng nắng chang chang.
Bài BẼN LẼN : Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu / Đợi gió đông vể để lả lơi / Hoa lá ngây tình không muốn động / Lòng em hồi hộp, chị Hằng ơi / / Trong khóm vi vu rào rạt mãi / Tíếng lòng ai nói? Sao im đi / Ô kìa bóng nguyệt trần truồng tắm / Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe.// Vô tình để gió hôn lên má / Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm / Em sợ lang quân em biết được / Nghi ngờ tới cái tiết trinh em.
Chữ rợn mình là từ bài NỤ CƯỜI : … Một người con gái trông xinh xinh / ống quần vo xắn lên đầu gối / Da thịt, Trời ơi ! trắng rợn mình.
Hàn Mặc Tử tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22-9-1912 tại Đồng Hới và mất năm 1940 (11-11) tại Qui Hòa (mộ ở Đèo Son). Bệnh phong đã cướp đi thi thể nhà thơ, cướp đi một tài thơ đang sung mãn.

35

Hoài AnhTừ hương đến mật thì nhanh
Mua một bao thuốc phải dành chín năm
Chúa chổm 36 tàn vàng
Chín mươi chín ngọn, ta sang hơn nhiều!

» Xem/Đóng đáp án

HOÀI ANH (nhà thơ)
Hoài AnhCâu đầu nhắc tên tập thơ TỪ HƯƠNG ĐẾN MẬT. Câu 2 nhắc bài thơ NHỚ NGÀY HÀ NỘI KHÁNG CHIẾN khá nổi tiếng của Hoài Anh với những câu thơ được nhiều người nhớ : Một người bạn tôi gặp trong đêm ấy / Ra phố mua một bao thuốc lá / Chín năm sau anh mới trở về nhà / Ta mang ba mươi sáu phố phường đi kháng chiến / Chín năm rừng, lòng vẫn thủ đô. Câu thứ 3 là tên một tiểu thuyết lịch sử của Hoài Anh : CHÚA CHỔM 36 TÀN VÀNG. Câu cuối nhắc tập thơ 99 NGỌN với nhiều câu, nhiều bài thơ viết khá lạ và trẻ trung, ví như Mỗi thằng một nỗi trớ trêu / Mỗi thằng có một người yêu phụ tình (GẶP BẠN Ở HÀ NỘI ). Hoặc bài HOANG (Giao hoan tỉnh mơ / Đẻ hoang câu thơ / Quẳng ra bụi bờ / Đọc báo thơ người/ Thấy câu thơ tốt / Anh rước về nuôi / Đến khi về già / Muốn làm chúc thư / Đi tìm con đẻ/ Con ơi / Thơ ơi /Con người,con ta/Thơ ma, thơ người). Câu cuối cũng muốn nói: Các lĩnh vực sáng tạo văn học của Hoài Anh thật phong phú: Kịch, thơ, dịch, biên soạn, tiểu thuyết, lý luận phê bình, sách danh nhân… Có lẽ cũng đến 99 ngọn thật ! Riêng năm 2001 vừa qua ông đã cho ra đời một loạt sách : CHÂN DUNG THƠ, CHÂN DUNG NHÀ VĂN (1500 trang), TÌM HOA QUÁ BƯỚC (hơn 500 trang), THƠ TÌNH HOÀI ANH, TẦNG NGÀY (thơ), THƠ ĐƯỜNG CHỌN LỌC, BẢY THẾ KỶ THƠ PHÁP (song ngữ), CHÂN DUNG CÁC NHÀ VIẾT KỊCH…
Hoài Anh tên khai sinh là Trần Trung Phương sinh năm 1938 tại Bình Lục, Hà Nam. Hiện ở TP. Hồ Chí Minh.

36

Hoài ThanhChẳng phê ai, chỉ bình văn
Mắt xanh tìm kiếm thi nhân cho đời
Cũng vì quyền sống con người
Chuyện thơ kháng chiến nói lời tri âm

» Xem/Đóng đáp án

HOÀI THANH (nhà lý luận phê bình)
Hoài ThanhCâu thứ 2 nhắc tác phẩm THI NHÂN VIỆT NAM , được xem như tác phẩm sáng giá nhất, làm nên tên tuổi Hoài Thanh, được nhiều người yêu thích. Nhiều nhà thơ nhờ ông đưa vào sách cùng với đôi lời phẩm bình như được công nhận là thi sĩ của đất nước. Câu thứ nhất nói đặc điểm của cuốn sách chủ yếu là tìm ra cái hay của các nhà thơ. Hoài Thanh viết : Hai chữ phê bình sao nghe nó khó chịu quá ! Nó khệnh khạng như một ông giáo gàn. Bình thì còn được. Nhưng phê ? Sao lại phê ?  Câu 3 nhắc tập tiểu luận QUYỀN SỐNG CỦA CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN KIỀU. Câu 4 nhắc tập tiểu luận NÓI CHUYỆN THƠ KHÁNG CHIẾN (1951)  được phát qua sóng đài tiếng nói Việt Nam nhiều kì trong và sau những năm chống Pháp.
Tên khai sinh của nhà văn Hoài Thanh là Nguyễn Đức Nguyên. Ông sinh năm 1909, quê gốc Nghệ An, mất năm 1982 tại Hà Nội.

37

Hoàng CầmBắt sông Đuống chảy thành thơ
Về kinh Bắc, nhớ ngẩn ngơ trong lòng
Còn mơ tìm lá diêu – bông
Lá đa chả phải, lá vông không vừa

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG CẦM (nhà thơ)
Hoàng CầmTrong bài nhắc mấy tác phẩm khá tiêu biểu của Hoàng Cầm: BÊN KIA SÔNG ĐUỐNG dòng sông đã được tạc vào văn học  Việt Nam, được đưa vào sách giáo khoa, là một trong những bài thơ thuộc loại hay nhất của văn thơ cách mạng thời chống Pháp (Em ơi buồn làm chi / Mai anh đưa em về bên kia sông Đuống / Ngày xưa cát trắng phẳng lì / Sông Đuống trôi đi / Một dòng lấp lánh / Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ / Xanh xanh bãi mía bờ dâu / Ngô khoai biêng biếc / Đứng bên này trông sao nhớ tiếc / Sao xót xa như rụng bàn tay / Bên kia sông Đuống / Quê hương ta lúa nếp thơm nồng / Tranh Đông Hồ gà lợn nét tươi trong / Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp…); tập thơ VỀ KINH BẮC và tập LÁ DIÊU BÔNG (Váy Đình Bảng buông chùng cửa võng / Chị thẩn thơ tìm / Đồng chiều / Cuống rạ… / Chị bảo / – đứa nào tìm được lá diêu bông / từ nay ta gọi là chồng / / Hai ngày / Em tìm thấy lá / Chị chau mày / – đâu phải lá diêu bông // Mùa đông sau / Em tìm thấy lá / Chị lắc đầu / trông vãn nắng bên sông / Ngày cưới chị / Em tìm thấy lá / Xòe tay phủ mặt / Chị không nhìn / */ Từ thuở ấy / Em cầm chiếc lá / đi đầu non cuối bể / Gió quê vi vút gọi / – Diêu bông hời… / … ơi Diêu bông…!
Hoàng Cầm sinh năm 1922, quê Bắc Ninh, hiện ở Hà Nội.

38

Hoàng LộcXông pha vào cuộc trường chinh
Trong hoàng hôn ánh bình minh đã ngời
Còn sống mãi búp vàng tươi
Xưa anh viếng bạn, nay người viếng anh.

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG LỘC (nhà thơ)
Hoàng LộcCâu 1 nhắc tờ báo XÔNG PHA, nơi Hoàng Lộc công tác trong những ngày đầu tham gia cách mạng. Câu 2 nhắc tập thơ TỪ HOÀNG HÔN TỚI BÌNH MINH Hoàng Lộc sáng tác ngay từ khi còn đi học. Câu 3 nhắc tên nhà thơ Hoàng Lộc (Búp vàng tươi), Còn sống mãi là muốn nhắc lời văn hào Lỗ Tấn : “Người ta chỉ thật chết khi không còn sống trong lòng người sống nữa” được nhà giáo Phạm Thúy (bạn cùng công tác với Hoàng Lộc ở báo Xông Pha) dẫn ra để nói về Hoàng Lộc trong bài viết về anh (đã in “Kiến thức ngày nay”). Câu cuối nhắc bài VIẾNG BẠN của Hoàng Lộc : Hôm qua còn theo anh / Đi ra đường quốc lộ / Hôm nay đã chặt cành / Đắp cho anh dưới mộ /…/ Khóc anh không nước mắt / Mà lòng đau như cắt / Gọi anh chẳng thành hơi / Mà hàm răng dính chặt / Ở đây không gỗ ván / Gói anh bằng mảnh chăn / Của đồng bào Cửa Ngăn / Tặng tôi ngày phân tán…/ Súng nào bắn anh đó? / Đứa nào nhắm trúng anh? / Khôn thiêng xin chỉ mặt / Gọi tên nó ra anh / Nó là thằng thổ phỉ? / Hay là đứa Việt gian? / Đó là quân đế quốc / Lũ phát xít bạo tàn…/ Mai mốt bên cửa rừng / Anh có nghe súng nổ / Là chúng tôi đang cố / Tiêu diệt kẻ thù chung…
Hoàng Lộc sinh năm 1920 tại Hải Dương, hy sinh năm 1949 trên trận địa biên giới.

39

Hoàng Phủ Ngọc TườngSông Hương, Cửa Việt dẫn đầu
Ngôi sao đỉnh Phu Văn Lâu tỏa hồng
Đêm nằm lo đặt tên sông
Sớm ra lo hái phù dung… Tội tình!
Rất nhiều ánh lửa lung linh
Tới miền gái đẹp ngỡ mình còn trai!
(So bề học vấn thua ai:
Mỗi dòng văn Việt chêm vài chữ Tây!)

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG (nhà văn)
Hoàng Phủ Ngọc TườngHoàng Phủ Ngọc Tường từng làm tổng biên tập Sông Hương, Cửa Việt. Câu  2 nhắc tập ký NGÔI SAO TRÊN ĐỈNH PHU VĂN LÂU. Câu 3 nhắc tập bút ký AI ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG. Câu 4 nhắc tập thơ NGƯỜI HÁI PHÙ DUNG (Anh hái cành phù dung trắng / Cho em niềm vui cầm tay / Màu hoa như màu ánh nắng / Buổi chiều chợt tím không hay / Nhìn hoa bâng khuâng anh nói : / -Mới thôi, mà đã một ngày./.). Câu 5 nhắc tập bút ký RẤT NHIỀU ÁNH LỬA. Nhà văn Nguyễn Tuân, chủ soái của thể bút ký Việt Nam đã dùng tựa đề này để nhận xét về bút ký của Hoàng Phủ Ngọc Tường, ý nói : “nối được ta sau này, may chỉ có Tường thôi!”. Câu 6 nhắc tập bút ký TỚI MIỀN GÁI ĐẸP (Miền Tuyên Quang : chè Bắc Thái – gái Tuyên Quang). Hai câu cuối nói một nét đặc điểm nhỏ nhưng thấy rõ ở văn Hoàng Phủ Ngọc Tường.
Nhà văn sinh năm 1937 tại Huế, hiện mấy năm nay bị bệnh, phải đi bằng xe lăn nhưng vẫn sáng tác đều.

40

Hoàng Thị Minh KhanhBâng khuâng quá, tháng giêng hai…
Một mùa hoa thắm vội phai sao đành?
Quyết lòng không tiếc ngày xanh
Để vườn thơ mãi không thành bờ hoang!

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG THỊ MINH KHANH (nhà thơ)
Hoàng Thị Minh KhanhCâu 1 nhắc tập thơ BÂNG KHUÂNG và tập THÁNG GIÊNG HAI. Câu 2 nhắc tập thơ MỘT MÙA HOA. Câu 3 nhắc bài thơ KHÔNG TIẾC NGÀY XANH được nhiều người thuộc, nó phản ánh lý tưởng sống đẹp của lứa thanh niên thời tác giả : Tay tôi rồi yếu đường gân / Trán tôi sẽ gợn nếp hằn già nua / Mắt tôi ngày mỗi thêm mờ / Chân tôi cũng sẽ thẩn thờ chậm hơn / Nhưng tôi không tiếc tuổi buồn / Những ngày xanh đẹp trong vườn hoa tươi / Vì tôi đã sống cho đời / Hơn là đã sống cho tôi rất nhiều / Tôi không buồn những buổi chiều / Vì tôi đã sống rất nhiều ban mai…
Bài thơ tuyệt vời nhất là ở 2 câu cuối. Nghe nói đã có bạn thơ của chị chữa lại : Tôi không buồn những buổi chiều / Vì tôi đã sướng rất nhiều ban đêm. Nếu xét về mặt nhại thơ thì quả là “tuyệt chiêu” vì sửa rất ít : chỉ có chữ sống thành sướng âm điệu lại cũng từa tựa mà đối lại chỉnh hơn (buồn đối với sống là ép), chữ mai thành đêm lại cũng là “ban” cả, không hề gượng ép, nghĩa thì cũng… sướng lắm ! hợp lý lắm vậy ! Câu 4 nhắc cặp lục bát tác giả dùng để tỏ lòng yêu thơ của mình : Trăm năm thề chẳng bao giờ / Để vườn thơ trở thành bờ cỏ hoang. Kể ra tác giả cũng hơi lo xa chứ “vườn” rộng sao có thể thành “bờ” hẹp được. Hay nhà thơ lo vườn thơ của mình ở mặt tiền bị rơi vào vùng qui hoạch mở rộng lộ giới?
Nhà thơ Hoàng Thị Minh Khanh sinh năm 1941, hiện đang sống và sáng tác tại quê Hà Nội.

41

Hoàng Trung ThôngĐường ta đi như trong mơ
Ngả nghiêng đầu sóng, lắc lư cánh buồm
Cần gì sỏi đá thành cơm
Chai còn rượu, thơ còn thơm hương mùa.

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG TRUNG THÔNG (nhà thơ)
Hoàng Trung ThôngTrong bài nhắc tên năm tập thơ chính của Hoàng Trung Thông là : 1. ĐƯỜNG CHÚNG TA ĐI (Trong tập này tôi còn thuộc bài ĐỌC THƠ BÁC : Con đọc trăm bài trăm ý đẹp / Ánh đèn tỏa rạng mái đầu xanh / Vần thơ của Bác vần thơ thép / Mà vẫn mênh mang bát ngát tình hay bài BỘ ĐỘI VỀ LÀNG : …Các anh về xôn xao làng tôi bé nhỏ / Nồi cơm nấu dở / bát nuớc chè xanh…); 2. NHƯ ĐI TRONG MƠ; 3. ĐẦU SÓNG; 4. NHỮNG CÁNH BUỒM; 5. HƯƠNG MÙA THƠ. Cách sắp xếp các tập thơ trong bài này cũng muốn tạo ra hình dáng cử chỉ của người say. Hoàng Trung Thông nghiền rượu loại nặng. Trong bài “Gửi ông Trạng Thông họ Hoàng”, Chế Lan Viên cũng nói nhiều về ý đó : Ông thì hay say,/ Tôi thì quá tỉnh / Mà ông đằm tính, / Tôi thì hay gây…Ở đây cũng nhắc BÀI CA VỠ ĐẤT nổi tiếng của Hoàng Trung Thông : … Đường xa ta tới đây / rên đồi cây khát nắng / Giữa hai dòng suối vắng / Đoàn ta vui cấy cày / Bàn tay lao động / Ta gieo sự sống / Trên từng đất khô / Bàn tay cần cù / Mặc dù nắng cháy / Khoai trồng thắm rẫy / Lúa cấy xanh rừng; / Hết khoai ta lại gieo vừng / Không cho đất nghỉ không ngừng tay ta./…/ Bàn tay ta làm nên tất cả / Có sức người sỏi đá cũng thành cơm…
Hoàng Trung Thông sinh năm 1925 tại Nghệ An, mất năm 1993 tại Hà Nội.

42

Hồ DzếnhTrời không mưa, không nắng
Ngập ngừng gió heo may
Quê ngoại xa thăm thẳm
Chân trời cũ mây bay…
Đứa con nuôi nước Việt
Trên đường về, nhớ đầy…

» Xem/Đóng đáp án

HỒ DZẾNH (nhà thơ)
Hồ DzếnhCâu 1 nhắc cặp lục bát được nhiều người nhớ trong bài MÀU THU NĂM NGOÁI : Trời không nắng cũng không mưa / Chỉ hiu hiu rét cho vừa nhớ nhung. Câu 2 nhắc bài thơ NGẬP NGỪNG, một tuyên ngôn về tình yêu của Hồ Dzếnh. Có nhiều ý kiến ngợi ca và phê phán trái ngược có lẽ chỉ bởi vì nó… đúng quá. Nó là một trong những bài thơ được nhiều thế hệ thanh niên thuộc : … Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé / Em tôi ơi, tình có nghĩa gì đâu / Nếu là không lưu luyến buổi sơ đầu / Buổi ân ái mong manh như nắng lụa / Hoa bướm ngập ngừng, cỏ cây lần lữa / Hẹn ngày mai mùa đến sẽ vui tươi / Chỉ ngày mai mới đẹp, ngày mai thôi /…/ Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé / Tôi sẽ trách, cố nhiên, nhưng rất nhẹ / Nếu trót đi em hãy gắng quay về / Tình mất vui lúc đã vẹn câu thề / Đời chỉ đẹp khi hãy còn dang dở / Thơ viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ / Cho ngàn sau lơ lửng với ngàn xưa. Hai câu tiếp nhắc hai tập truyện : QUÊ NGOẠI và CHÂN TRỜI CŨ. Câu 5 nhắc một giai thoại : Cha Hồ Dzếnh là người Hoa sang Thanh Hóa gặp cô lái đò, vào ngủ nhờ rồi sau nấn ná yêu cô lái đò… Vợ Hồ Dzếnh mất sớm để lại đứa con mới 4 tháng. Bà Nguyễn Thị Hồng Nhật có chồng là thi sĩ Trần Trung Phương cũng mất sớm để lại cho vợ đứa con 5 tháng. Hồ Dzếnh và bà Hồng Nhật đã cảm thông và tiến tới hôn nhân. Trong buổi họp mặt cùng thân thích có người ra vế đối : Vợ góa nhà thơ lấy nhà thơ góa vợ và có người khác đối lại : Con nuôi nước Việt nhờ nước Việt nuôi con. Câu cuối là một câu trong bài CHIỀU đã được phổ nhạc : Trên đường về nhớ đầy / Chiều chậm đưa chân ngày / Tiếng buồn vang trong mây /…/ Nhớ nhà châm điếu thuốc / Khói huyền bay lên cây.
Hồ Dzếnh sinh 1916 tại Quảng Xương Thanh Hóa, mất năm 1991 tại Hà Nội.

43

Hồ Xuân HươngChuông sầu, mõ thảm, miếng trầu hôi
Thân trắng, lòng son, phận bánh trôi!
Quân tử mân mê mu múi mít
Hiền nhân ngó ngoáy lỗ trôn tôi
Tục tằn vạch thói thanh tao dỏm
Cười cợt che buồn duyên hẩm ôi
Muốn đổi làm trai lòng chẳng nỡ
Quen che mát mặt trượng phu rồi!

» Xem/Đóng đáp án

HỒ XUÂN HƯƠNG (nhà thơ)
Các bài thơ của Hồ Xuân Hương được nhắc đến là : TỰ TÌNH (Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom / Oán hận trông ra khắp mọi chòm / Mõ thảm không khuơ mà cũng cốc / Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om / Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ / Sau giận vì duyên để mõm mòm / Tài tử văn nhân ai đó tá / Thân này đâu đã chịu già tom); MỜI TRẦU (Quả cau nho nhỏ, miếng trầu hôi / Này của Xuân Hương đã quệt rồi / Có phải duyên nhau thời thắm lại / Đừng xanh như lá, bạc như vôi ); BÁNH TRÔI NƯỚC (Thân em thì trắng, phận em tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non / Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn / Mà em vẫn giữ tấm lòng son); VỊNH QUẢ MÍT (Da nó sù sì, múi nó dầy / Quân tử có thương thì đóng cọc / Xin đừng măn mó nhựa ra tay); VỊNH ỐC NHỒI (Quân tử có thương thì bóc yếm / Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi); LẤY CHỒNG CHUNG (Năm thì mười họa hay chăng chớ / một tháng đôi lần có cũng không / Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm…); ĐỀ ĐỀN SẦM NGHI ĐỐNG (Ví đây đổi phận làm trai được / Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu); VỊNH CÁI QUẠT (Vành ra ba góc da còn thiếu / Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa / Mát mặt anh hùng khi tắt gió / Che đầu quân tử lúc sa mưa…)
Hồ Xuân Hương quê Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An, chưa rõ năm sinh và mất.

44

Hồng NguyênRụng lâu rồi vẫn hồng nguyên
Bởi thơ bảo nhớ lòng quên không đành!

» Xem/Đóng đáp án

HỒNG NGUYÊN (nhà thơ)
Hồng NguyênHồng Nguyên mất cách nay đã hơn nửa thế kỷ mà tên tuổi nhà thơ vẫn không hề bị lãng quên. Tác giả gần như chỉ để lại một bài thơ NHỚ. Bài thơ mang đậm những nét tiêu biểu về dáng dấp, cách nói năng sinh hoạt và tâm hồn của anh bộ đội thời chống Pháp : Lũ chúng tôi / Bọn người tứ xứ / Gặp nhau từ hồi chưa biết chữ / Quen nhau từ buổi “một hai” / Súng bắn chưa quen / Quân sự mươi bài / Lòng vẫn cười vui kháng chiến / Lột sắt đường tàu / Rèn thêm dao kiếm / Áo vải chân không / Đi lùng giặc đánh / Ba năm rồi gửi lai quê hương / Mái lều gianh / Tiếng mõ đêm trường / Luống cày đất đỏ/ Ít nhiều người vợ trẻ / Mòn chân bên cối gạo canh khuya / Chúng tôi đi / Nắng mưa sờn mép ba lô / Tháng năm bạn cùng thôn xóm / Nghỉ lại lưng đèo / Nằm trên dốc nắng / Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng / Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa / -Đằng nớ có vợ chưa ? / – Đằng nớ? / – Tớ còn chờ độc lập / Cả lũ cười vang bên ruộng bắp / Nhìn o thôn nữ cuối nương dâu…
Hồng Nguyên có tên khai sinh là Nguyễn Văn Vượng sinh năm 1924 tại Thanh Hóa và mất năm 1951 do trọng bệnh; khi đó là Trưởng ty Thông tin tuyên truyền Thanh Hóa.

45

Huy CậnTrời mỗi ngày lại sáng tỏ
Lửa thiêng sẵn đó thắp đèn!
Hạt lại gieo, hoa đất nở…
Nhờ có hai bàn tay em.

» Xem/Đóng đáp án

HUY CẬN (nhà thơ)
Huy CậnTrong bài nhắc các tác phẩm chính của Huy Cận : TRỜI MỖI NGÀY LẠI SÁNG, LỬA THIÊNG, HẠT LẠI GIEO, ĐẤT NỞ HOA và HAI BÀN TAY EM. Huy Cận có nhiều tập thơ với một số bài thơ hay ví như : CÁC VỊ LA HÁN CHÙA TÂY PHƯƠNG, ĐOÀN THUYỀN ĐÁNH CÁ, ANH VIẾT BÀI THƠ… Với nhiều câu thơ hay nổi tiếng đặc biệt là những câu mang hồn vũ trụ. Ví như : Biển lặng em nằm trong gió êm / Anh là bóng thức của hồn em / Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng / Từng cặp nhân vàng trong trái đêm; hay : Ta ngồi mảng sáng giữa đêm khuya / Vở hết trang rồi, viết đến bìa / Nhìn thẳm ra đêm trang vũ trụ / Chữ vàng sao rụng ném lia thia. Hay nữa : Đậu cành vũ trụ sao đêm / Chùm sao vũ trụ có thêm bồi hồi. Hoặc là : Dậy sớm tưởng trời vừa tạo lập / Gió hây hây thổi tựa chùm sao / Cây chưa có bóng, ngày chưa ấp / Sông ẵm thuyền êm chửa động sào; hoặc như : Trời xanh ran lá biếc / Biển chóa ngợp buồm vàng / gió thổi miền bất diệt / Mây tạnh đất hồng hoang.
Tuy nhiên, nếu lấy đơn vị là tập thì hoàn chỉnh nhất là LỬA THIÊNG và HAI BÀN TAY EM. Xin dẫn từ mỗi tập một bài. BUỒN ĐÊM MƯA : Đêm mưa làm nhớ không gian / Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la… / Tai nương nước giọt mái nhà / Nghe trời nặng nặng, nghe ta buồn buồn / Nghe đi rời rạc trong hồn / Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi… / Rơi rơi… dìu dịu rơi rơi… / Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ… / Tương tư hướng lạc phương mờ…/ Trở nghiêng gối mộng hững hờ nằm nghe / Gió về, lòng rộng không che / Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư… CON CHIM CHIỀN CHIỆN : Con chim chiền chiện / Bay vút, bay cao / Lòng đầy yêu mến / Khúc hát ngọt ngào /…/ Tiếng ngọc trong veo / Chim gieo từng chuỗi / Lòng chim vui nhiều / Hát không biết mỏi / / Chim bay, chim sà / Lúa tròn bọng sữa / Đồng quê chan chứa / Nhũng lời chim ca / / Bay cao bay vút / Chim biến mất rồi / Chỉ còn tiếng hót / làm xanh da trời…
Huy Cận họ Cù, sinh năm 1919 quê Hương Sơn Hà Tĩnh. Hiện sống ở Hà Nội.

46

Hữu LoanĐẹp như nơi hò hẹn
Những làng đi qua ơi
Hoa lúa trắng lên tóc
Hoa sim tím lịm… đời!

» Xem/Đóng đáp án

HỮU LOAN (nhà thơ)
Hữu LoanHai câu đầu nhắc bài thơ NHỮNG LÀNG ĐI QUA (… Một làng xa nho nhỏ / Đẹp như nơi hẹn hò / Có đôi lòng gắn bó / Nhưng lời chưa nói ra). Câu 3 nhắc bài thơ HOA LÚA đã được phổ nhạc, một trong những bài thơ nổi tiếng hay trong thời chống Pháp (Em là em gái đồng xanh / Tóc dài vương hoa lúa / Đôi mắt em mang chân trời quê cũ / Giếng ngọt / Cây đa…). Câu này cũng muốn nói nhà thơ Hữu Loan về già có mái tóc dài và trắng rất đẹp. Câu 4 nhắc bài thơ MÀU TÍM HOA SIM (Nàng có ba người anh đi bộ đội / Những em nàng có em chưa biết nói / Tôi người vệ quốc quân / Yêu nàng như tình yêu em gái / … / Tôi về, không gặp nàng / … / Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương / … / Chiều hành quân qua những đồi hoa sim / Những đồi hoa sim dài trong chiều không hết / Màu tím hoa sim tím chiều hoang biền biệt)
Hữu Loan sinh năm 1916 tại quê Nga Sơn, Thanh Hóa. Hiện ở Thanh Hóa.

47

Hữu ThỉnhĐường tới thành phố còn kia
Năm anh em, một chiếc xe, một lòng
Thơ ở biển, thư mùa đông
Hỏi: -Người sống có đẹp không với người?

» Xem/Đóng đáp án

HỮU THỈNH (nhà thơ)
Hữu ThỉnhĐƯỜNG TỚI THÀNH PHỐ là trường ca của Hữu Thỉnh nhận giải thưởng Hội Nhà văn 1980. NĂM ANH EM TRÊN MỘT CHIẾC XE TĂNG là bài thơ của Hữu Thỉnh được phổ nhạc rất nổi tiếng. THƠ VIẾT Ở  BIỂN là bài thơ tình được rất nhiều bạn yêu thơ thuộc, nhiều nhà phê bình tán tụng và được phổ nhạc với những câu: Anh xa em / Trăng cũng lẻ / Mặt trời cũng lẻ / Biển vẫn cậy mình dài rộng thế / Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn / Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím…THƯ MÙA ĐÔNG là tập thơ được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1995 và sau đoạt giải thưởng văn học Đông Nam Á. Câu cuối cùng nhắc bài thơ HỎI rất nổi tiếng của Hữu Thỉnh. Xin chép để các bạn tham khảo: Tôi hỏi đất: /-Đất sống với đất như thế nào ? / Chúng tôi tôn cao nhau /– Tôi hỏi nước: /-Nước sống với nước như thế nào? / -Chúng tôi làm đầy nhau / Tôi hỏi cỏ: /-cỏ sống với cỏ như thế nào? / Chúng tôi đan vào nhau / Làm nên những chân trời / Tôi hỏi người: /- Người sống với người như thế nào?/. Tôi hỏi người: /- Người sống với người như thế nào?/Tôi hỏi người:/-Người sống với người như thế nào?
Nhà thơ Hữu Thỉnh họ Nguyễn, sinh năm 1942 tại Tam Đảo, Vĩnh Phúc. Hiện sống ở Hà Nội, là Chủ tịch hội Nhà văn, Tổng biên tập báo Văn Nghệ.

Chia sẻ bài này: