Câu đố về thiên nhiên – tình cảm (sáng tác, 41 câu) 1/5 (1)

1

Đi là nắng, về là trăng
Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… và thơ!

» Xem/Đóng đáp án

Ánh mặt trời chiếu thẳng đến ta là ánh nắng. Ánh mặt trời gặp mặt trăng, phản hồi lại ta là ánh trăng. Tất cả: Lá xanh, hoa thắm, lúa vàng… đều do năng lượng ánh sáng mặt trời mà có. Ánh bình minh, ánh hoàng hôn, ánh trăng… là nguồn cảm hứng vô tận của bao thế hệ nhà thơ.

2

Không roi, vách núi phải mòn
Vén mây để lộ khuôn tròn trăng chơi
Reo lên lồng lộng nghĩ, cười
Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

» Xem/Đóng đáp án

Gió
Câu 1 nhắc thơ Hữu Thỉnh Gió không phải là roi mà vách núi phải mòn / Em không phải là chiều mà nhuộm anh đến tím. Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Du: Trời còn để có hôm nay / Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời / Hoa tàn mà lại thêm tươi / Trăng tàn mà lại hơn mười rằm xưa. Câu 3 nhắc thơ Trần Mai Ninh : Ơ cái gió Tuy Hòa / Cái gió chuyên cần và phóng túng / Gió đi ngang đi dọc / Gió trẻ lại lừng chừng / Gió nghĩ, gió cười / Gió reo lên lồng lộng (Nhớ máu). Câu cuối nhắc thơ Đặng Nguyệt Anh : Gió từ đâu đến thổi gầy nhành mai / Một đời gió có vì ai / Xô ngang chiều tím ra ngoài hoàng hôn.

3

Vàng mơ như thể mỡ gà
Nhuộm trăm tờ lá đều ra xanh rờn

» Xem/Đóng đáp án

Ánh nắng
Ánh nắng có màu “vàng mơ”. Lá cây nói chung không có ánh nắng chiếu vào, không thể có màu xanh tươi được.

4

Chang chang nắng hạ đường dài
Mày theo tao, chẳng chịu rời một ly
Tối đèn tắt lửa mày đi
Để tao đơn độc lấy gì làm vui
Thắp đèn cầy, mở sách coi
Ô kìa, mày lại về ngồi bên tao.

» Xem/Đóng đáp án

Cái bóng người
Chỉ cần chú ý thêm hai câu cuối : Thắp đèn dầu hay đèn cầy (nến) thường mới rõ bóng của người. Đèn điện sáng mạnh, tỏa đều nên ít thấy bóng

5

Tôi như đường vàng óng
Tôi như muối trắng tinh
Tôi cùng dã tràng tắm biển
Tôi phiêu lưu, trôi dạt, nổi nênh
Tôi vào chảo giục bắp xòe như hoa nở
Bạn yêu hoa, tôi trong suốt thành bình.

» Xem/Đóng đáp án

Cát
Câu 5 nhắc việc người ta thường hay dùng cát để rang bắp (ngô). Về chi tiết này có câu đố dân gian về “Quân Gia Cát đánh quân Đông Ngô” khá hóm hỉnh. Câu 6 nói thủy tinh được làm từ cát.

6

Chân ở trong nước
Đầu ở ngoài nước
Ngửa mặt lên trời
Xin một điều ước

» Xem/Đóng đáp án

Cầu
Chân cầu ở trong nước, đầu cầu ở trên đường (ngoài nước), mặt cầu ngửa lên trời, “cầu” còn có nghĩa là “ước”.

7

Ve ve thổi lửa đỏ dần
Quạt bàn quay, rủ quạt trần cùng quay
Tiếng ai đập đá luôn tay
Vại bia hơi ngỡ biển đầy sóng xao!

» Xem/Đóng đáp án

Quán cóc hè về
“Lửa” ở câu đầu chính là “Lửa phượng”. Ở câu cuối vì nóng nực nên nhìn vại bia liên hệ ngay đến biển. Bài “Bia việt Nam “ của Xuân Diệu có câu : Một cốc vàng như đồng lúa chín / Bọt trắng phau như đầu sóng biển / Một cốc vàng ánh sáng xuyên qua / Cốc tươi cười ta ca hát chúng ta. Vì là quán cóc trống bên đường nên có sự giao lưu với bên ngoài.

8

Khay bầy, trống đánh hai bên
Thơm bia Thủy Tạ, ngọt kem Bốn Mùa
Cầu cong gợi dáng thuyền vua
Trầm tư bóng tháp nơi rùa đòi gươm

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Gươm
Một bên hồ Gươm là phố Hàng Khay, một bên là Hàng Trống. Bên bờ hồ có nhà hàng Thủy Tạ và hiệu “Kem Bốn Mùa” Cầu ở câu 3 là cầu Thê Húc vào đền Ngọc Sơn. Tháp ở câu 4 là Tháp Rùa.

9

Tưởng đâu ở bên Pháp
Về thủ đô thấy liền
Tên em vừa nghe đọc
Ngỡ là để dán tem!
Có ông già cổ lỗ
Gặp em hóa thanh niên.

» Xem/Đóng đáp án

Hồ Tây
Trước kia ta hay gọi người Pháp là Tây, nước Pháp là nước Tây, ngày nay ta cũng hay nói “các nước phương Tây” Hồ cũng còn là thứ làm từ bột để dán (có bột mới gột nên hồ; thợ may ăn giẻ, thợ mã ăn hồ). Hai câu cuối : Đường Cổ Ngư trước kia nay được cải tạo và đặt tên lại là đường Thanh Niên. Có bạn giải thích đường dành cho đôi lứa tâm tình, người già đến đây với cảnh đẹp của hồ, thấy như trẻ lại, yêu đời hơn. Cũng có lý lắm.

10

Không chạy, không đi, sao vẫn ngã
Có tơ, có lửa, lắm khi đau
Có nhân mà khó nhìn ra quả
Rất khó đo lường rộng, hẹp, sâu.

» Xem/Đóng đáp án

Lòng người
Ở câu 1 từ “ngã lòng” là nói sự nản chí (thối chí) Thơ Vương Bột có câu Chớ để ngã lòng theo đầu bạc Vương Tăng Nhụ cũng viết : Dây đứt còn mong nối lại – Lòng ngã thật khó nỗi cầm. Ở câu 2 : “tơ lòng”, “lửa lòng”, “đau lòng” là nói các trạng thái tình cảm thường được dùng trong thơ : Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng; Sự đời đã tắt lửa lòng / Còn chen vào chốn bụi hồng mà chi?; Đau lòng kẻ ở người đi / Thân còn chả tiếc, tiếc gì đến duyên! là những câu Kiều khá quen biết. Ở câu 3 : Ở lâu mới biết lòng người có nhân “Nhân” là tính “nhân bản”, “nhân đạo”. Ở đây dùng từ đồng âm khác nghĩa : “nhân” là hạt nhân của trái quả. Câu 4 nhắc câu ca dao Sông sâu còn có kẻ dò / Lòng người nham hiểm ai đo cho tường.

11

Áo lượt quần là đủ vẻ tươi
Mặt sông, hồ, biển thẩy gương soi
Khi như chạy giặc, khi lơ lửng
Nhớ mẹ về thăm, nước mắt rơi.

» Xem/Đóng đáp án

Câu cuối nói về hiện tượng mưa: Mây là nước bốc hơi lên và khi mưa lại trở về với nước.

12

Không trồng, chẳng phải bón chăm
Có mùa thu hoạch hằng năm rành rành
Cây cao, không lá, không cành
Hạt gieo vườn ruộng, mọc xanh lúa mầu

» Xem/Đóng đáp án

Mưa
Phía Nam nước ta mỗi năm chia 2 mùa : “mùa khô” và “mùa mưa”. Câu 3,4 lấy ý từ câu đố dân gian : Cây cao ngàn trượng / hạt nhỏ li ti… Khi mưa xuống, lúa màu đều xanh tốt, hạt nẩy mầm.

13

Mắt vui như thể nắng ngời
Môi vui luôn nở nụ cười như hoa
Tính tình hiền hậu, dịu hòa
Đón chào, cây cỏ mượt mà như tranh
Thích mai, đào, bánh chưng xanh
Thích ăn củ kiệu, củ hành dầm chua…

» Xem/Đóng đáp án

Nàng Xuân
Bài thơ viết theo lối nhân cách hóa. Ta có thể đọc lại như sau : Mắt nàng xuân như nắng ngời / Môi nàng xuân nở nụ cười như hoa / Nàng xuân hiền hậu dịu hòa v.v..

14

Như chiếc gương trong đặt giữa trời
Soi đàn chim lượn, áng mây trôi
Sen soi môi thắm, dừa soi tóc
Trăng ngắm dung nhan, sửa nét cười….

» Xem/Đóng đáp án

Mặt nước trong xanh
Nhà thơ Phạm Hổ có bài thơ Gương : Gương nhỏ trong tay người / Gương lớn để ngoài trời / Cái ao soi sen nở / Cái hồ soi mây trôi. Đặng Hấn, hồi chiến tranh chống Mỹ có bài thơ Cái hố phòng không trên đường Thợ Nhuộm với 2 câu kết : Xưa nay vẫn chuyện bình thường / Ở đâu nước cũng là gương soi trời.

15

Tôi sinh ra đã từ lâu
Giúp người thân ở xa nhau chuyện trò
Tâm tình sâu nặng đừng lo
Tính tôi kín đáo giữ cho vẹn tuyền
Nhưng sao thủ tục đầu tiên
Lôi tôi vào cuộc để phiền danh tôi.

» Xem/Đóng đáp án

Phong bì thư
“Thủ tục đầu tiên” là “tiền đâu?” nói về các hiện tượng tiêu cực “phong bao” làm ảnh hưởng đến nét đẹp tinh thần của phong bì thư.

16

Tên như câu hỏi ở đời
Long lanh gợi nhớ mắt người cách xa
Nở bừng như một bông hoa
Là nhân của trái bao la đen huyền.

» Xem/Đóng đáp án

Sao
“Sao” hay “vì sao” đọc lên nghe như một câu hỏi (Tiếng Anh là “Why?”). Câu 2 nhắc thơ Nguyễn Bính : Sao Hôm như mắt em hôm ấy / Rớm lệ nhìn tôi bước xuống tàu. Bạn Trần Thị Thanh Tĩnh (Hà Tây) còn nhắc lời ca của Phan Huỳnh Điểu : Ngôi sao như mắt em trong những đêm không ngủ, bạn Hoàng Trọng Nghĩa ở Cô Tô còn nhắc lời bài hát : Bác chúng em mắt như sao, râu hơi dài… và giải thích Bác đã đi xa (người cách xa) và chúng ta luôn nhớ Bác…, đều là những ý đáng trân trọng. Câu 3 nói : ta hay hình dung ngôi sao (trên cờ chẳng hạn) gồm 5 cánh như bông hoa nở (bông mai chẳng hạn). Câu 4 nhắc thơ Huy Cận : Ngoài kia sao cũng từng đôi sáng / Từng cặp nhân vàng trong trái đêm.

17

Ngâm : gầy trắng, muối : mập hồng
Đây mơ máy lạnh, đấy trong bông gòn
Đấy vuông, đây tựa ống tròn
Đây vàng tươi, đấy đỏ son khoe màu
Từng mê một thứ giống nhau
Vì quên điều độ nên sau không còn.

» Xem/Đóng đáp án

Hai miền đón Tết
Vào dịp Tết, ở miền Bắc hay muối củ hành (có dáng mập, thường có màu hồng) hay gói bánh chưng (có hình vuông) hay chưng hoa đào (có màu đỏ). Ở miền Nam thường ngâm củ kiệu (dáng gầy, màu trắng) hay gói bánh tét (có hình ống tròn) hay chưng hoa mai (có màu vàng). Ở miền Bắc trời rét phải đắp chăn bông, còn ở miền Nam trời nóng thích nằm máy lạnh. Trước kia, cả hai miền cùng thích đốt pháo, nhưng vì việc này gây nhiều tác hại, nên sau này đều bỏ hẳn.

18

Người bảo màu tím
Người nói trắng phau
Tôi hàn gắn vết tim đau
Điều chưa rõ, tôi sẵn câu trả lời
Nhiều người chỉ tranh thủ thôi
Nhiều người thực bụng quý tôi hơn vàng
Vậy mà trên khắp thế gian
Bao nơi tôi bị giết oan vô tình.

» Xem/Đóng đáp án

Thời gian
Câu đầu nhắc thơ Đoàn Phú Tứ : Màu thời gian không xanh / Màu thời gian tím ngát. Câu thứ hai nhắc hai câu thơ Đoàn Văn Cừ : Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ / Nước thời gian gội tóc trắng phau phau trong bài Chợ Tết. Câu thứ ba nhắc một danh ngôn đại ý : Thời gian là liều thuốc tốt nhất để chữa lành mọi vết thương lòng. Câu thứ tư nhắc : Thời gian sẽ trả lời, thời gian sẽ chỉ rõ hết mọi điều đúng sai, phải trái. Các câu tiếp theo nhắc : Tranh thủ thời gian, Thời gian quí hơn vàng bạc, Đừng lãng phí thời gian, Đừng giết thời gian bằng những việc vô nghĩa v.v…

19

Sen tàn, cúc thắm, trời hanh
Nhẹ rơi chiếc lá nửa xanh, nửa vàng
Bay từng giọt, nắng ngân vang
Thoảng thơm hương cốm trong làn heo may

» Xem/Đóng đáp án

Chớm thu
Câu đầu gợi nhớ câu Sen tàn cúc lại nở hoa để tả hè đã sang thu (Kiều). Câu 2 nhắc thơ Thanh Tùng : Một mặt lá mùa hè còn níu ở / Mặt kia thoáng đã thu rồi… Câu 3 nhắc thơ Nguyễn Mỹ : Nắng bay từng giọt – nắng ngân vang / ở trong nắng có một ngàn cái chuông. Ở câu 4 heo may và cốm được nhắc nhiều trong thơ về mùa thu. Ví như Thu ở nghìn thu tà áo trắng / Em ngồi chia nắng với heo may (Lương Hữu) hay Gửi đi một chút heo may / Để bên ấy biết bên này thu sang (Đặng Nguyệt Anh) hay nữa Sợi rơm vàng buộc gió / Cả sóng sánh sen hồ / Nắng đa tình Bến Nghé / Phải lòng hương cốm thu (Nguyễn Vũ Tiềm)

20

Cho ăn no thì chết
Càng đói càng khỏe ra
Cứ uống xong lại khát
Chợt gần rồi chợt xa
Con dao rỉ và mẻ
Không cắt nghĩa được mà!

» Xem/Đóng đáp án

Tình yêu
Câu đầu nhắc một danh ngôn phương Tây : Tình yêu là một con quái vật không cho ăn thì khỏe, cho ăn no thì chết (A.De-Musset). Câu 3 nhắc thơ Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình / Gặp rồi lại nhớ là mình của ta. Câu 4 nhắc thơ Lê Thị Kim : Tình yêu không là gió / Chợt gần rồi chợt xa / Tình yêu không là cỏ / Mọc lan man thềm nhà. Câu thứ 5 nhắc thơ Hoài Anh : Tình yêu như con dao / Để thì rỉ / Chặt thì mẻ / Em tính sao? Câu cuối nhắc thơ Xuân Diệu : Làm sao cắt nghĩa được tình yêu.

21

Khi tưởng nơi để ở
Lúc ngỡ là chính ta
Cơm sôi thì bớt lửa
Nồng – nhạt có sao mà
Như hom nằm trong giỏ
Cua ếch làm sao ra
Muốn dời non, tát bể
Cốt nhất giữ thuận hòa!

» Xem/Đóng đáp án

Chồng vợ
Hai câu đầu nhắc thơ Bùi Giáng : Bây giờ thời thế điêu linh / Ta về buôn bán với mình phôi pha / Mình ơi ta gọi là nhà / Nhà ơi ta gọi mình là nhà tôi. Chữ “mình” cũng được dùng ở ngôi thứ nhất : Nghĩ mình mà ngán cho mình nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng! (Nguyễn Khuyến) Câu 3 : Chồng giận thì vợ bớt lời / cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê (ca dao). Câu 4 : Vợ chồng có khi nồng khi nhạt (Thành ngữ). Các câu 5,6 : Chồng là giỏ, vợ là hom (thành ngữ). Hai câu cuối : Thuận vợ thuận chồng tát bể đông cũng cạn (tục ngữ)

22

Khi thì mỉm miệng cười duyên
Khi ngời gương mặt dịu hiền, thanh cao
Gái trai ai biết thế nào
Đi đâu theo đấy, hỏi chào không thưa.

» Xem/Đóng đáp án

Trăng
Trăng khuyết trông như miệng người cười. Trăng tròn như gương mặt đẹp của cô gái : Khuôn trăng đầy đặn, nét ngài nở nang là câu thơ Nguyễn Du tả vẻ đẹp Thúy Vân. Câu 3 : Khó biết trăng là trai hay gái vì có người gọi “ông” : ông trăng ơi xuống đây mà chơi v.v … là câu hát đồng dao. Thơ Xuân Diệu lại viết : Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ, có người gọi là : “ả Hằng Nga”… Ở câu 4 nhắc hiện tượng khi trăng sáng, đi tới đâu ta cũng thấy như trăng đi theo. Tất nhiên trăng không biết nói nên hỏi chào không thưa được.

23

Là con : mê ngọt mật ong
Để rồi mật nó đắng không gì bằng
Là xe : chở nặng, chạy hăng
Là: “đầu” tốt nhất, thưa rằng : lánh xa
Là cỏ : nhổ lại mọc ra
Là gì thế nhỉ? Trăng ngà cũng xơi!

» Xem/Đóng đáp án

Gấu
Hai câu đầu từ bài thơ tứ tuyệt Trần Mạnh Hảo Gấu xơi toàn mật ong / Làm nên mật gấu đắng / Lấy cái ngọt tận cùng / Làm nên cái đắng nhất. Xe gấu là loại xe tải loại nặng thường dùng ở những mỏ than. “Đầu gấu” tốt nhất là …để công an tiếp chuyện. Về cỏ gấu có câu : Đất có gấu, gấu lại mọc. Câu cuối là nói hiện tượng nguyệt thực mà dân gian thường gọi là gấu ăn trăng. Gấu còn ăn cả mặt trời khi có hiện tượng nhật thực.

24

Quả gì quý nhất cuộc đời
Thực mà như xạo, rằng tôi tặng nàng!
Quả gì khoái nhất tiếng vang
Bấm gan chờ được người phang mấy vồ
Quả gì nước mắt chưa khô
Máu tươi khát mãi, uống vô lại đòi

» Xem/Đóng đáp án

Quả tim, quả chuông và quả đất
Ở câu 1 : Khi yêu nhau người ta hay nói : Trao tặng trái tim cho nhau. Ở câu 4 nhắc thơ Xuân Diệu : Trái đất ba phần tư nước mắt / Đi như giọt lệ giữa không trung và thơ Pê-tô-phi : Trái đất ăn gì mà quá khát / Sao uống hoài nước mắt, máu tươi!

25

Có lưng, da, mặt, chân, chim
Còn khoe có mắt, đố tìm thấy đâu
Đàn ông sao lại có bầu?
Da xanh mặt đỏ, nghĩ lâu bật cười
Kiểm kê đánh số người đời
Mắc màn ba xạo ghẹo nơi khốn cùng.

» Xem/Đóng đáp án

Trời
Ta hay gặp các từ lưng trời, da trời, mặt trời, chân trời, chim trời cá nước, bầu trời. Câu thứ hai nhắc câu thành ngữ trời có mắt, những kẻ độc ác có thể giấu người khác, nhưng trời sẽ nhìn rõ và sẽ trừng phạt. Câu thứ năm nhắc thành ngữ số trời đã định. Câu cuối nhắc thành ngữ màn trời, chiếu đất.

26

Hai mặt mà lại không đầu
Không mồm vẫn cất tiếng kêu rộn ràng
Thương vay, khóc mướn cả làng
Không cha mẹ, vẫn có tang suốt đời

» Xem/Đóng đáp án

Trống
Trống có hai “mặt trống”, có “tang trống”, trống không thể thiếu trong mọi đám ma.

27

Một ông mặt lạnh như tiền
B…dài mấy thước chực bên vỉa hè
Chờ người bì bịch ngựa xe
Ghé vào tức tốc ông đè ông bơm

» Xem/Đóng đáp án

Cây xăng

28

Tôi hao hao giống cái chày
Bao cô ca sĩ đêm ngày cầm chơi
Nâng lên, áp sát tận môi
Âm ai nhỏ, chạm tôi rồi cũng to.

» Xem/Đóng đáp án

Micrô

29

Nằm mà cao mươi thước
Uốn lượn tựa rồng tiên
Sả thân lo việc nước
Sao mang tên thấp hèn?

» Xem/Đóng đáp án

Con đê

30

Vì người mới phải lên cao
Bởi muốn thu vào, phải để lôi ra

» Xem/Đóng đáp án

Cột thu lôi
“Lôi” là sấm sét theo nghĩa chữ Hán, theo tiếng Việt, lôi là lôi ra. Thực chất của hiện tượng thu lôi là từ cột phóng ra các điện tử mang điện tích âm để trung hòa điện tích dương ở đám mây mang điện để không xẩy ra sét nữa.

31

Xanh đi, đỏ đứng ngắm
Kìa: vạch chắn mầu vôi
Trước sau chỉ gang tấc
Khác tư cách con người

» Xem/Đóng đáp án

Xe qua giao lộ

32

Quay đều như chong chóng
Cánh mai trắng, cánh hồng
Cánh vàng tươi cúc thắm
Cánh tuyết điểm tùng thông

» Xem/Đóng đáp án

Bốn mùa
Ơ đây muốn nhắc đến bài thơ cổ “Tứ quí” : Xuân thiên mai nhụy phô thanh bạch / Hạ nhật hồng hoa đấu hảo kỳ / Cúc ngạo thu tình hương vạn hộc / Tùng lăng đông tuyết bạch thiên chi.

33

Hóa thân từ sắt, bê tông
Yêu đời nên mới đến công viên ngồi
Giúp già một phút thảnh thơi
Giúp đôi trẻ thổ lộ lời tâm tư

» Xem/Đóng đáp án

Ghế đá công viên

34

Rõ nghiêng mà chắc, mà bền
Nhờ nghiêng mới nổi tuổi tên với đời

» Xem/Đóng đáp án

Tháp Pizơ
Đặng Hấn có bài thơ “ Tháp Pizơ” : Tháp Epphen nổi tiếng vì cao / Nổi tiếng về to là Kim tự tháp… / Mỗi kỳ quan một cách nổi tiếng riêng / Như tháp Pizơ nổi tiếng chỉ vì…nghiêng!

35

Không cần phải gọi : vừng ơi!
Thấy người tiến lại liền mời qua ngay
Không quay vẫn khép mở hoài
Cả khi đóng, phía trong ngoài thấy nhau

» Xem/Đóng đáp án

Cửa kính tự động
Loại cửa này sử dụng từ tính. Hay dùng ở sân bay, khách sạn lớn…

36

Ùa vào lá thắm hoa tươi
Tiếng chim hót, mở khoảng trời bao la…
Diệu huyền – con mắt của nhà
Ngóng người xa, hướng người xa dõi về

» Xem/Đóng đáp án

Ô cửa sổ
Xuân Diệu viết: Anh có nhà, có cửa / Nhung không vợ, không con / Sợ cái bếp không lửa / Sợ cái cửa không đèn…

37

Rộn ràng nhịp kéo vui tai
Chín xanh vừa đủ, giòn dai phải chừng
Em ơi, chua ngọt đã từng
Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau

» Xem/Đóng đáp án

Nộm đu đủ thịt bò khô

38

Tính ngay thẳng,
Chẳng thiên vị một ai
Nếu mình sai
Đo người sai thành đúng
Muốn người đúng
Trước hết mình đừng sai

» Xem/Đóng đáp án

Dụng cụ đo lường
Thước, cân, đồng hồ đo…đều rất thẳng thắn, vô tư, cứ theo các vạch chia trên mình mà đánh giá. Nhưng các vạch chia cũng có thể đúng sai. Các sản phẩm đều có tiêu chuẩn quy định chất lượng. Nâng cao chất lượng sản phẩm là mục tiêu của mọi nền sản xuất xã hội. Nhưng muốn nâng cao chất lượng sản phẩm, trước hết phải nâng cao chất lượng của chính các dụng cụ đo lường, đánh giá chất lượng.

39

Căm căm về với gió mùa
Lại còn khen ngọt để đùa người ta
Không dao mà cắt thịt da
Nghĩ người không cửa không nhà mà thương

» Xem/Đóng đáp án

Rét
Người ta hay nói rét căm căm. Rét ở nước ra thường về theo các đợt gió mùa Đông Bắc. Người ta cũng hay nói: rét ngọt là rét thấu vào tận xương, rét cắt thịt da. Mùa rét là cực nhất cho những người nghèo, đặc biệt là những người không cửa không nhà.

40

Chẳng ai khảo cũng khai ra:
Học hàm, học vị, cửa nhà, chức, danh…
Khi hồng, lúc trắng, lúc xanh
Một bên bỏ dấu để thành chữ Tây!

» Xem/Đóng đáp án

Danh thiếp (Các-vi-zít)
Các chi tiết đều đã rõ, chỉ cần nói thêm: danh thiếp thường một bên ghi bằng chữ Việt, có đánh dấu, một bên bỏ hết dấu ở các chữ tên người, tên địa danh để thành chữ Tây!

41

Tấm lớn ngoài, tấm nhỏ trong
Tên anh, tên chị, hai ông, hai bà
Tim lồng, song hỷ đậm đà
Tay thon nhỏ, chén rượu hoa nâng mời…

Mặt mày người gửi rạng ngời
Có người nhận được, rụng rời chân tay!

» Xem/Đóng đáp án

Thiếp mời đám cưới
Chỉ cần giải thích thêm câu cuối: Người nhận thiếp mời đám cưới mà rụng rời chân tay có thể do một trong hai lý do: hoặc đó là thiệp mời đám cưới người yêu mình: Các thầy giáo khoa Toán Đại học Tổng hợp Hà Nội truyền miệng nhau bài thơ: Nhận được thư em lúc nhá nhem / Mừng mừng vội vội, bóc ra xem / Tin đưa sét đánh dăm ba chữ: / Anh ạ, ngày mai họ cưới em. Nguyên nhân thứ hai xin dẫn thơ Thạch Quỳ: Thiếp mời đám cưới cầm tay / Nửa vui cho bạn, nửa gay cho mình / Không đi thì nhạt mất tình / Đi thì “chuyện ấy” như hình có xoay /… / Đỏ xanh vay mượn dăm tờ / Nhớ ngày, nhớ tháng, nhớ giờ rồi đi / Thiếp mời đám cưới là chi / Có người giả ốm mỗi khi thiếp về.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về động vật (sáng tác, 29 câu)

1

Suốt đời cúi mặt giấu mình
Đánh mùi hôi, tức thì rình kiếm ăn.
Gằm gằm con mắt tối tăm
Nghe tên đã thấy dữ dằn, đáng khinh.

» Xem/Đóng đáp án

2

Người trách : khôn như nó
Người chê: dại như nó
Giỏi tiếng Anh nhất nhà
Bé vui đặt tên là :
“Cái chuông điện không dây”

» Xem/Đóng đáp án

3

Vốn dòng Tôn Thất
Sống rất khiêm nhường
Áo sồi, chân đất
Bắt ruồi thay cơm
Ăn xong súc miệng vài cơn mưa rào!

» Xem/Đóng đáp án

4

Càng to lại càng nhỏ
Óc gạch, đầu đá vôi
Sống hoành hành đây đó
Chết nhắm mắt không rồi

» Xem/Đóng đáp án

5

Lâu nay nổi tiếng phiêu bồng
Gươm đàn nửa gánh non sông một chèo
Anh hùng từng bị …vô keo
Kìa: cơm, than, lửa luôn theo bên mình

» Xem/Đóng đáp án

6

Khi đậu : treo ngược trên cây
Sáng trời thì ngủ, hết ngày bay ra
Tai thính như có ra đa
Cánh căng phồng gió hóa ra cánh buồm

» Xem/Đóng đáp án

7

Nửa chim, nửa chuột
Mắt tuột sang tai
Lầm lẫn đêm ngày
Lộn phèo trời đất.

» Xem/Đóng đáp án

8

Trời ư? Bằng cái vung thôi
Tớ đây với cậu ông trời – chỗ thân
Tớ nằm vờ ngủ chờ xuân
Bạo mồm nên tớ nhiều lần hàm oan

» Xem/Đóng đáp án

9

Mũ mượn cây hoa
Da: người sợ hãi
Cho cây bút máy
Mượn lưỡi, mượn ruột

» Xem/Đóng đáp án

10

Mắt híp, bụng to, thật có duyên
Chê cơm, chê cháo, chỉ xơi… tiền
Suốt ngày ngậm miệng, sao mà mập?
Ăn phía sau lưng, thế mới hiền!

» Xem/Đóng đáp án

11

Áo vàng màu nắng
Đốn trắng như sao
Ngơ ngơ ngác ngác
Củi gác trên đầu
Không hiểu vì đâu
Chả ai tin tưởng

» Xem/Đóng đáp án

12

Bốn chân, đi guốc
Múa vuốt, nhe nanh
Mày bơi dưới nước
Mày hót trên cành

» Xem/Đóng đáp án

13

Dáng hình hệt chúa sơn lâm
Khinh rừng núi chật, về nằm đống tro
Lén rình ăn vụng cá kho
Khoe có học trò là chúa sơn lâm

» Xem/Đóng đáp án

14

Nghe tên ngỡ để viết thơ
Nào ai có ngờ sống ở biển khơi
Biết dùng phản lực đi chơi
Cái tên gợi nhớ tính người thẳng ngay

» Xem/Đóng đáp án

15

Con gì bắt chuột hơn mèo
Lên non lên núi leo trèo vượn khen
Giữa trời bay lượn chim ghen
Ra sông ra biển cá thèm tài bơi?

» Xem/Đóng đáp án

16

Bụng bò lại nuốt mồm bò
Bị chân bò giẫm nằm co bên đường

» Xem/Đóng đáp án

17

Thân vừa dẻo vừa mềm
Tên vừa khô vừa cứng
Không chân, đi rất êm
Hay trèo cây, trộm trứng

» Xem/Đóng đáp án

18

Lên một nơi xuống một nơi
Hàm răng cuối trời, đầu cổ chân mây
Râu, xương làm cảnh đó đây
Con: Trung, Nam, Bắc mỗi ngày một đông

» Xem/Đóng đáp án

19

Đầu hay đuôi khó phân minh
Đi khom về cúi, ai rình mà lo?
Ngắn dài mặc sức dãn co
Lấy mình làm thước mà đo mọi người

» Xem/Đóng đáp án

20

Tài, sức mầy ai lạ
Tưởng mầy giỏi thế nào
Núp ô dù sắt đá
Dùng miệng để leo cao
Bao mầm non mầy phá
Rồi vểnh râu tự hào!

» Xem/Đóng đáp án

21

Có tài làm xiếc
Đi ngược trần nhà
Nghe xưa giàu sụ
Tiếc của lắm à?
Những loài khát máu
Diệt trừ không tha

» Xem/Đóng đáp án

22

Áo xanh vớ đỏ
Chân khéo như tay
Học gì thuộc đó
Chẳng rõ dở hay
Ngậm chua, nuốt cay
Lên cao bằng mỏ!

» Xem/Đóng đáp án

23

Vợ đẻ chẳng ấp chẳng nuôi
Chồng giọng khản đặc, nổi trôi tháng ngày
Dạy gì cũng để ngoài tai
Đưa tin toàn những tin sai, tin nhầm.

» Xem/Đóng đáp án

24

Thân ở ngoài nước
Đầu ở trong nước
Lấy tóc làm râu
Chồng vợ thương nhau
Nhờ câu nhân nghĩa.

» Xem/Đóng đáp án

25

Cả họ đi guốc
Ăn sáng, chiều nhai
Sách nuốt trong bụng
Nhạc để ngoài tai

» Xem/Đóng đáp án

26

Không đầu, không cổ
Mắt cắm đầu que
Tám cẳng ngo ngoe
Xương khoe ngoài thịt

» Xem/Đóng đáp án

27

Lấy đầu làm búa bổ chơi
Rằng ta giúp đời giữ lửa phân minh
Cây sâu , cột ruỗng khiếp kinh
Coi chừng, đầu mẻ vì đinh có ngày

» Xem/Đóng đáp án

28

Chân đi, chân nhẩy
Cặp ngắn, cặp dài
Tưởng đâu mọc cánh
Nào ngờ đôi tai
Phải vì gan nhỏ
Chạy nhanh rất tài

» Xem/Đóng đáp án

29

Đã từng thắng bạch – cốt – tinh
Đã từng đại náo thiên đình kém đâu
Giờ ngồi bắt chấy cho nhau
Gãi lưng gãi đầu,. Chờ mẩu bánh con

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về cây trái (sáng tác, 36 câu)

1

Giúp bà, giúp mẹ thắm môi
Giúp anh, giúp chị vừa đôi đẹp lòng
Cho em ngựa cưỡi nhong nhong
Học theo dáng đứng cha ông giữa đời!

» Xem/Đóng đáp án

2

Trái thì chín tựa mặt trời
Lột vỏ đi rồi, hóa mặt trăng con
Trái thì chín tựa trăng tròn
Bổ đôi hiện mặt trời son rực hồng.

» Xem/Đóng đáp án

3

Vỏ như trăng mọc về đêm
Ruột tươi đỏ – mặt trời lên ban ngày
Cớ sao giễu kẻ ăn mày
Tiền xu dẫu lắm, dính đầy máu me!

» Xem/Đóng đáp án

4

Năm bảy tàu thì để không
Lấy thân đóng mảng qua sông không cầu
Có buồng nào ở được đâu
Cha con ngày tháng dãi dầu nắng mưa

» Xem/Đóng đáp án

5

Cây vuông, không lá, không hoa
Người cầm vòi tưới, xe ra xe vào
Tưới cây mới lạ lùng sao :
Từ cây nước chảy ào ào khỏi cây.

» Xem/Đóng đáp án

6

Lá to, lá nhỏ
Củ đỏ, củ trắng
Củ giống nhau chưa?
Củ đỏ thỏ ưa
Làm dưa củ trắng

» Xem/Đóng đáp án

7

Nghe tên thèm bánh tráng
Kho thịt thì hết chê
Nâng vạt váy mà hứng
Tạc dáng đứng Bến Tre.

» Xem/Đóng đáp án

8

Không thừa không thiếu
Ngồi kiệu, che dù
Khi vàng sắc nắng
Bao nhiêu nếp trắng
Biến thành đậu đen

» Xem/Đóng đáp án

9

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui
Con cái ngoan ngoãn
Cho ăn năm roi!

» Xem/Đóng đáp án

10

Tên giấy có phải giấy đâu
Giấy sao có thể dãi dầu nắng mưa
Giống pơ – luya mầu lắm cơ
Chắc ong bướm gửi thư từ cho nhau.

» Xem/Đóng đáp án

11

Hoa ngời sắc trắng nắng hanh
Thông qua giai đoạn quả, thành hạt ngay!
Hương hoa thơm dịu mà say
Từng vương tóc dài cô gái đồng xanh

» Xem/Đóng đáp án

12

Hương hoa gợi nhớ hương trà
Tên hoa gợi cảnh biệt xa não lòng
Sắc hoa bình dị trắng trong
Hoa khô rồi vẫn thơm nồng như tươi

» Xem/Đóng đáp án

13

Không máu đỏ cũng da vàng
Dẫu rằng kẻ Bắc, người Nam một nhà
Quanh năm che nụ giấu hoa
Dành hương, giữ sắc làm quà xuân sang

» Xem/Đóng đáp án

14

Chọn mùa bão táp chào đời
Mang hình tên lửa, thẳng trời vút lên.

» Xem/Đóng đáp án

15

Thân trúc, thân tre
Lá lau, lá lúa
Lá như gươm khuơ
Thân như rồng múa
Máu trắng, nhiễm đường
Sao da vẫn tía?

» Xem/Đóng đáp án

16

Nghe tên : rõ tiên nga
Sực nức mùi nước hoa
Người chê : văn hóa yếu
Người thầm thì : xấu da!
Hiểu tấm lòng thơm thảo
Sẽ đẹp dạ cả nhà.

» Xem/Đóng đáp án

17

Chín trộm ban đêm
Mùi thơm nức nở
Chông gai cắm ngoài
Ngọt ngon bọc giữa
Cả nhà vui chung
Mình tôi buồn nhớ

» Xem/Đóng đáp án

18

Thấy em là thấy hè rồi
Thơm tho đã trải, ngọt bùi đã qua
Vượt nơi hèn thấp vươn ra
Kiêu sa lắm, chớ lầm ra tôi đòi.

» Xem/Đóng đáp án

19

Có quả mà chả có hoa
Từ trong quả chín, muỗi ra bất ngờ
Quanh năm ai cũng thờ ơ
Tết mang lên tận bàn thờ tổ tiên

» Xem/Đóng đáp án

20

Cắt ngang giống hệt bánh đa
Trên cây giống hệt, bông hoa tươi hồng
Cũng là con cháu tiên rồng
Cửu Long ít ở, Thăng Long ít về

» Xem/Đóng đáp án

21

Cây gì mà lạ quá ta
Lúc nhỏ là bà, lúc lớn là ông
Đời nghèo chỉ uống nước trong
Vạn năm xanh tốt, đời không tuổi già

» Xem/Đóng đáp án

22

Chùm hoa tim tím mờ mờ
Trái như mặt đẹp vào thơ bao đời

» Xem/Đóng đáp án

23

Gỗ chẳng thể làm bàn tủ
Lá không ăn được như rau
Hoa hiếm, trái không hề có
Tự hào: Ngàn tuổi sống lâu!

» Xem/Đóng đáp án

24

Già làm nhà cửa tập tàng
Trẻ trung đan lát dần sàng nhỏ to
Non tơ lại khoái xáo cò
Thẳng ngay dẫu cháy thành tro cũng đành!

» Xem/Đóng đáp án

25

Tồng ngồng của quí khoe ra
Thế mà cứ bảo là ta biết điều!

» Xem/Đóng đáp án

26

Hoa gì nhỏ cũng bảo to?

» Xem/Đóng đáp án

27

Hoa gì vàng, trắng cũng cho là hồng?

» Xem/Đóng đáp án

28

Hoa gì không một ai trồng
Hái chơi, không trả một đồng, cũng : mua!

» Xem/Đóng đáp án

29

Hoa gì như thể lộc vua?

» Xem/Đóng đáp án

30

Hoa gì sư sãi trong chùa ngạc nhiên?

» Xem/Đóng đáp án

31

Hoa gì xinh nhỏ dịu hiền
Tên gọi gắn liền mồm miệng khuyển dương?

» Xem/Đóng đáp án

32

Hoa gì hữu sắc, vô hương
Đàn bà quí phái mang thường hôm mai?

» Xem/Đóng đáp án

33

Hoa gì nở đẹp hôm nay
Nhìn hoa ai cũng nói sai thì giờ?

» Xem/Đóng đáp án

34

Hoa gì trái đắng, chát chua
Tên nghe thơ mộng như đùa trêu nhau?

» Xem/Đóng đáp án

35

Hoa gì nhìn choáng váng đầu?

» Xem/Đóng đáp án

36

Hoa gì tưởng để giúp nhau mua hàng?

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về nhà ở (sáng tác, 49 câu)

1

Chong chóng thiệt ngộ
Không gió mới quay
Quay rồi mới gió
Sông ngòi không có
Bắc cầu mới quay.

» Xem/Đóng đáp án

2

Chỉ cần ấn chiếc nút
Trăm khán giả hét la
Hai đội bóng quốc tế
Tranh giải trong… góc nhà.

» Xem/Đóng đáp án

3

Mùa đông ở nước nào đây
Có pom, nho đúng bên Tây đó mà
Thế nhưng vẫn giống bên ta
Rau muống ở dưới, trứng gà ở trên
Ái chà, chả sợ thiếu kem.

» Xem/Đóng đáp án

4

Tưởng đâu ma quỷ hiện hình
Rõ giọng người tình, vạn dặm xa xôi
Ung dung áp má hoa khôi
Rỉ tai tổng thống, hôn môi nữ hoàng.

» Xem/Đóng đáp án

5

Một mồm trăm giọng phát ra
Tưởng trong vật ấy có ma ẩn tàng
Giữa đường, quán nhậu, cơ quan
Xa xôi, gấp gáp sẵn sàng có nhau!

» Xem/Đóng đáp án

6

Đứa thì gan ruột sục sôi
Đứa thì lòng dạ suốt đời giá băng
Cũng là việc nước lo toan
Mấy cuộc luận bàn mà vắng chúng tôi.

» Xem/Đóng đáp án

7

Người bảo tôi đen huyền
Người chê, khen : tối, sáng
Đêm hội thái bình tôi lại hành quân
Đất nước chiến tranh tôi từng đứng gác.

» Xem/Đóng đáp án

8

Mới mọc thì cao
Mọc lâu thấp bớt
Trái ớt trên đầu
Đèn sao mời rước
Mặc ai vui cười
Lệ tôi sướt mướt.

» Xem/Đóng đáp án

9

Dại khôn dồn ra đó
Nhìn nó rõ hình dong
Chọn kỹ mà gửi của
Đủ xanh, bủng, đen, hồng.

» Xem/Đóng đáp án

10

Bệnh vào qua nó
Vạ ra qua nó
Lúc có thép gang
Khi trôn trẻ nhỏ
Quán đổ đình xiêu
Ăn nhiều núi lở

» Xem/Đóng đáp án

11

Hương hoa nghi ngút như rồng lên mây
Chắp tay khấn nguyện vài giây
Tức thì có trái ăn ngay, xin mời!

» Xem/Đóng đáp án

12

So với yếm dãi thì hơi nhỏ
Trẻ thò lò mũi lại không xài
Đợi đến ngày vui đem … thắt cổ
Tiếp viên, tài xế thắt lai rai.

» Xem/Đóng đáp án

13

Khi em mặc áo mầu hoa
Khi mang áo giáp nuột nà song mây
Bao mơ mộng đẹp từ đây
Từ đây bao tứ thơ hay nẩy vần.

» Xem/Đóng đáp án

14

Ban ngày ngủ đứng một nơi
Thức canh giấc ngủ cho người canh thâu
Nón không rời, nắng ở đâu?
Thưa rằng : Nắng ở trong đầu mà ra!

» Xem/Đóng đáp án

15

Nhìn ngoài như chiếc rọc dừa
Phía trong hun hút dẫn đưa hai đường
Lối đi của những mùi hương
Gió thổi bất thường cứ đổi chiều luôn.

» Xem/Đóng đáp án

16

Không mồm, không mắt
Chân không nhúc nhắc
Dùng mặt để … ăn!

» Xem/Đóng đáp án

17

Vênh váo là rất hại
Ái ngại chị chìa vôi
Rất thương người mỗi miếng
Tôi dâng mời tận môi
Đừng đem tôi trả bạn
Kẻo mang tiếng hẹp hòi.

» Xem/Đóng đáp án

18

Chồng có răng không lưỡi
Vợ có lưỡi không răng.
Chúng tôi ra đồng áng
Quý vị vào bàn ăn.

» Xem/Đóng đáp án

19

Hạt gì quả lớn mông mênh
Cá không ăn chẳng để dành được lâu
Lúc trong quả chả thấy đâu
Lúc đem bỏ lọ, hiện màu trắng tinh.

» Xem/Đóng đáp án

20

Phải đâu bát phở ăn chơi
Gắn bó một đời như thể vợ ta
Thảo thơm nuôi sống mọi nhà
Nhưng sao mẹ ruột lại là đàn ông?
Có khi nào hóa cá không?

» Xem/Đóng đáp án

21

Dẻo mềm đến thế thôi mà
Da trơn, da trắng, nõn nà đáng yêu
Nào măng, nào mọc, nào riêu
Ốc, bò, thịt nướng … bao nhiêu vẫn thèm.

» Xem/Đóng đáp án

22

Vừa bằng đồng xu
Cho vô chảo mỡ
Bỗng nở như hoa
Chỉ dăm chiếc đĩa
Đầy ba gian nhà.

» Xem/Đóng đáp án

23

Mặt tròn da trắng
Duyên em nhờ lắm tàn nhang
Gặp lửa gặp than
Phát ban càng nhiều càng thích.

» Xem/Đóng đáp án

24

Khi ngủ thì đứng
Lúc ăn lại nằm
Ham ăn cho sướng
Bị người chặt băm.

» Xem/Đóng đáp án

25

Càng rửa lại càng bẩn
Rửa rồi để làm chi?
Thôi đừng hỏi lẩn thẩn
Rửa rồi thì … đổ đi!

» Xem/Đóng đáp án

26

Còn hơi : rõ cái hon – đa
Hết hơi : hòn đá sao mà rinh đây?

» Xem/Đóng đáp án

27

Có dựa ai đâu nào?
Tôi tự mình đứng thẳng
Muốn giúp bạn lên cao
Nên tôi cần cao cẳng.

» Xem/Đóng đáp án

28

Mồm không, tai mũi cũng không
Có trăm ngàn mắt song song đan cài
Người dùng để bắt chim trời
Trời dùng để bắt những người bất lương.

» Xem/Đóng đáp án

29

Rửa mặt thì lâu
Gội đầu thì chóng
Cứ ngỡ cúi đầu
Thì ra râu quai nón!

» Xem/Đóng đáp án

30

Ăn cơm thì nuốt
Uống nước thì nhai
Đi dạo phố ngoài
Trẻ em phải dắt.

» Xem/Đóng đáp án

31

Một mẹ bốn năm con
Con da đẹp, miệng tròn
Tính tình mẹ thiệt ngộ
Khách đàn ông đến nhà
Vạch vú cho con bú
Đợi khách hôn con xong
Lại cho con bú nữa

» Xem/Đóng đáp án

32

Đàn bà con gái rất yêu
Chỉ đi tu mới ra chiều dửng dưng
Mềm như nhựa, cứng như sừng
Dùng nó coi chừng, kẻo lại gẫy răng

» Xem/Đóng đáp án

33

No say rồi lấy em đi
Giúp anh cái khoản thứ nhì được chăng?
Em đâu còn tuổi thơ măng
Mất em, có kiếm cũng bằng công toi

» Xem/Đóng đáp án

34

Cắm vào là nó nóng lên
Chà đi kéo lại nước liền rỉ ra
Khum khum như cái bàn là
Đàn ông đã thích, đàn bà thích hơn

» Xem/Đóng đáp án

35

Một mẹ sinh được trăm con
Đứa nào đứa nấy thon tròn thấy mê
Con thường ăn uống no nê
Mẹ vò võ đợi con về ẵm con

» Xem/Đóng đáp án

36

Một nhà mấy chục người con
Da mầu da trắng xinh tròn dễ thương
Tháng năm gần gũi học đường
Hóa hình hóa chữ, thịt xương mỏi mòn

» Xem/Đóng đáp án

37

Một cây chỉ có lá hoa
Giầu nghèo đều có, gần xa đều trồng
Lá rơi bởi mắt người trông
Làm cho xuân hạ thu đông chuyển vần

» Xem/Đóng đáp án

38

Nhà trăm người dáng hao hao
Trán dô, đầu lớn, thân cao, hiền hòa
Từng người bị bắt đi xa
Bất bình đầu đập tường nhà tự thiêu

» Xem/Đóng đáp án

39

Nhìn hoài mà vẫn nhói đau
Tàn tro hay đấy tóc mầu muối tiêu?
Thời gian cháy khói hắt hiu
Hỡi ơi, lần lữa hỏa thiêu đời mình

» Xem/Đóng đáp án

40

Ta vểnh hai sợi râu lên
Cả nhà nghe nhìn thêm tỏ
Cảnh xa, người lạ đây đó
Chính ta bắt, dẫn vào nhà
Ta tinh vi, ta nhậy bén
Cóc cần ai ngắm nhìn ta

» Xem/Đóng đáp án

41

Hơn cánh phản nằm im suốt đêm ngày
Hơn cánh cửa xoay không trọn vòng quay
So cánh chim, kém lắm:
Chẳng bao giờ biết bay

» Xem/Đóng đáp án

42

Răng mọc ở lưỡi
Lưỡi mọc ở tay
Ăn ván nhai cây
Suốt ngày gậm, nhả…

» Xem/Đóng đáp án

43

Có ăn kem que đâu nào
Cớ sao từ ấy vận vào tên tôi
Lớn thì lo việc nằm ngồi
Nhỏ đi lao động ở nơi giảng đường

» Xem/Đóng đáp án

44

Đừng lầm kẻ ở, người đi
Đừng lầm kích thước so bì đúng sai
Rượu ngon, trà đậm, “cốc tai”…
Một đời việc nước không sai tấc lòng

» Xem/Đóng đáp án

45

Ôm chân, liếm gót người
Dẫm đạp chẳng chừa nơi
Xưa trơn da, phổng mũi
Giờ há mõm, vều môi

» Xem/Đóng đáp án

46

Nào ai che mắt ai đâu
Gần xa, mờ tỏ giúp nhau đấy mà
Chắn gió bụi, che nắng lòa
Ra đường “dâm” chút, về nhà hết “dâm”

» Xem/Đóng đáp án

47

Biết gì mà nghĩ?
Thì gật lắc thôi!
Đít bằng gang đúc
Chẳng buông chỗ ngồi
Bụng to, đầu rỗng
Rõ là đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

48

Đầu là đầu mượn, đầu thuê
Đông tây kim cổ cà kê đủ điều
Hết vua kịch, lại hề chèo
Toàn là chuyện đặt rất nhiều người tin

» Xem/Đóng đáp án

49

Mùi thiền đã bén từ lâu
Chẳng ưa thì bảo có sâu có dòi
Tôi rầu là bởi thế thôi
Người chê, người lại mê tôi hơn chồng
Xuân sang, giầu có mặc lòng
Bỏ gì thì bỏ, khó lòng bỏ tôi

» Xem/Đóng đáp án

Chia sẻ bài này:

Câu đố về trường học (sáng tác, 28 câu) 4.67/5 (3)

1

Mặt tròn, rõ da thú
Thân trụ, rõ thân cây
Ruột, gan… thiếu đủ thứ
Người đặt tên cho mày
Mày cố tình bưng bít
Oan ức gì nữa đây?
Mang mày ra, người đánh
Mày kêu động trời mây!

» Xem/Đóng đáp án

Cái trống
Có 4 câu cần giải thích: câu 3 và câu 4 giải thích tại sao có tên là cái “trống”. “ Trống” cũng có nghĩa là “rỗng”. Câu 5 và câu 6 muốn nói sự mâu thuẫn giữa tên cái trống và cái “trống” được bưng rất “kín”.

2

Có chân mà chẳng biết đi
Luận đàm mà chẳng nói gì thế ư?

» Xem/Đóng đáp án

Cái bàn
Ở bài này, dùng lối chơi chữ, dùng các từ đồng âm dị nghĩa: danh từ “bàn” là chỉ vật dụng để ngồi quanh ăn uống hoặc hội họp; động từ “bàn” là bàn luận, bàn bạc. Cái vật tên là “bàn” nhưng lại không biết nói. Cũng nhắc ta trước khi đi họp bàn nên chuẩn bị trước ý kiến để phát biểu.

3

Như thể con lừa khom bốn vó
Quanh năm ngửa mặt để người ngồi
Phương Tây lãi nhất buôn hàng đó
Lừa bạn phản thầy bởi nó thôi

» Xem/Đóng đáp án

Ghế
Hai câu đầu tả hình dạng cái ghế dựa. Mặt ghế chính là chỗ để ngồi. Hai câu sau, chữ “ghế” được dùng theo nghĩa bóng chỉ địa vị, quyền chức. Ở phương Tây, nơi đồng tiền quyết định tất cả, mọi thứ trên đời kể cả vật chất lẫn tinh thần đều trở thành hàng hóa thì việc “buôn quan, bán chức” là ngành kinh doanh thu nhiều lợi nhất và vì vậy cũng dẫn đến nhiều điều thất nhân tâm, vô đạo đức nhất.

4

Người lau, người đánh phấn
Mặt tôi vẫn đen nhèm
Nhưng nếu mặt tôi trắng
Người chớ ngại bôi đen
Bao hồng hào sáng láng
Ở mặt ngời nhìn lên

» Xem/Đóng đáp án

Tấm bảng (trong lớp học)
Hai câu đầu nói về bảng đen với các động tác lau bảng, viết phấn lên bảng; hai câu tiếp nói về tấm bảng mica trắng phải dùng bút mực màu sẫm (xanh hoặc đen) viết mới rõ nét. Hai câu cuối nói về các gương mặt học sinh sáng láng thêm khi tiếp nhận các kiến thức mới được trình bày trên bảng.

5

Em đây phận trắng, tấm thân tròn
Vì nghiệp trăm năm chẳng sợ mòn
Vạch giữa đêm đen làn chớp sáng
Cho ngời những cặp mắt tơ non

» Xem/Đóng đáp án

Viên phấn
Câu 1 tả viên phấn về hình dáng, màu sắc và vẻ đẹp tinh thần của nó. Câu 2 nhắc lời Bác: “Vì lợi ích mười năm trồng cây / Vì lợi ích trăm năm trồng người”. Nghiệp trăm năm ở đây là sự nghiệp giáo dục. Nét phấn trắng viết trên bảng đen như nét chớp sáng trong đêm tối. “ Mắt tơ non” là mắt sáng các em học sinh.

6

Rõ ràng lọ nước
Nào phải suốt tơ
Bút kéo thành sợi
Dệt thành văn thơ

» Xem/Đóng đáp án

Lọ mực
Khi viết chữ, cây viết giống như chiếc thoi, viết ra chữ giống như những sợi tơ dệt thành bài văn, bài thơ.

7

Đôi chân dài ngoẵng
Đầu mình nhỏ thon
Theo bàn chân lượn
Mọc vầng trăng con

» Xem/Đóng đáp án

Kom pa

8

Nghe tên rõ một nhà văn
Viết không được, chỉ rình nhằm người sai
Xóa bôi chẳng nể sợ ai
Một mai ruột rỗng, nghiệp đời còn chi?

» Xem/Đóng đáp án

Cây bút xóa
Nhà văn cũng hay được gọi là “cây bút”. Cây bút xóa không để lại chữ. Tất nhiên cây bút xóa là vật rất cần thiết khi có sự viết sai.

9

Ta tuy nhỏ bé tí teo
Thông tường toán pháp, ai theo cho bằng
Ta đi giúp chị bán hàng
Sinh viên hỏi toán, ta làm như chơi
Nhưng đừng nhầm nhe, bạn ơi:
Ta đâu thay được óc người nghĩ suy

» Xem/Đóng đáp án

Máy tính bỏ túi
Chỉ có hai câu cuối cần lưu ý: học “toán” khác hẳn với học “tính”. Không nên ỷ lại kỹ thuật tính toán mà ảnh hưởng đến phương pháp suy nghĩ, tìm hiểu bản chất của các công thức, các qui luật trong toán học.

10

Tính sao, tên làm vậy
Chết đứng lúc bình yên
Bị người xô, kẻ đẩy
Lại bất ngờ khỏe lên

» Xem/Đóng đáp án

Con lắc
Câu đố này là một bài thơ của Đặng Hấn có tên “con lắc” với câu đầu : “lạ thay cái con lắc”. Nhà thơ Hoài Anh bình : Đặng Hấn đưa ra nghịch lý, rồi chứng minh ngược lại thấy là rất thuận lý. Chỉ có gian nan mới làm tỏ tài anh hùng, có trắc trở mới kích thích cho người ta phải phấn đấu, để giành lấy thành công, bởi vì: “chiến đấu gian lao thì thắng trận mới vinh hiển”.

11

Không phải lắc ngọc, vòng vàng
Đừng nhầm tôi để khoe sang, khoe giàu
Tôi đong đo thứ không màu
Không mùi, không vị, không đầu, không đuôi
Thứ làm nên mọi cuộc đời

» Xem/Đóng đáp án

Đồng hồ đeo tay
Bài thơ nhắc nhở mọi người sử dụng đúng chức năng của chiếc đồng hồ. Trong bài Tản mạn quanh chiếc đồng hồ trên THT số đầu năm 1999, Đặng Hấn đã có nhận xét: số đồng hồ trong xã hội càng tăng thì kỷ luật về giờ giấc càng giảm. Nhất là trong các sinh hoạt tập thể: đám cưới, họp hành… kể cả các buổi học ở nhiều trường Đại Học hiện nay.

12

Của tin gọi một chút này
Trăm năm duyên số từ đây định rồi
Cũng khi chỉ để đẹp thôi
Hoặc là để nhắc nhở người bền gan

» Xem/Đóng đáp án

Nhẫn
Nhẫn thường được trao nhau để đính hôn; nhẫn cũng có thể để chỉ mang cho đẹp (thường phụ nữ hay mang hơn nên hay gọi là “nữ trang”). “Nhẫn” có nghĩa là “nhẫn nại”, “kiên nhẫn”. Nhiều người mang nhẫn (hay “buộc chỉ cổ tay”) để nhắc mình nhớ một điều gì đó.

13

Số tôi đã chẳng hợp ai
Đường đi ngắn cũng hóa dài, nhọc công
Tôi đưa bạn đến mọi vùng
Chông gai tôi nhận, lạnh lùng tôi che

» Xem/Đóng đáp án

Đôi giày
Câu 1 nhắc một thành ngữ dân gian : “Giày dép còn có số”. Câu 4 cho ta thấy đây là giày, chứ không phải dép, mới giữ cho ấm chân.

14

Núp tôi họ né tránh trời
Dùng tôi quy chụp khiến người thấm đau
Cần tôi họ đội lên đầu
Hết cần họ bỏ tôi sầu cô đơn!

» Xem/Đóng đáp án

Cái mũ
Câu 1 : dùng mũ che mưa nắng. Câu 2 : “quy chụp” là “chụp mũ”, qui kết sai cho người khác. Câu 3 : “Đội lên đầu” còn có ý là tâng bốc, luồn cúi người khác. Câu cuối nhắc ta phải biết quý trọng những gì giúp ta ngay cả khi ta không còn cần nữa, phải biết nhớ ơn những ai ta đã mang ơn.

15

Nhìn đầu: Châu Á
Nhìn cả hóa Âu
Khi dài, khi ngắn
Khi trắng, khi màu
Nuốt người nhưng vẫn chừa đầu người ra.

» Xem/Đóng đáp án

Áo
Hai câu đầu là “chiết tự” chữ “áo” : Phần đầu là chữ Á, toàn bộ là “Áo”– tên một nước ở Châu Âu. Ở câu 3: “áo ngắn” là chỉ tầng lớp bình dân: “Dân áo ngắn”, “Áo cộc, quần manh”, “Áo ngắn giũ chẳng nên dài”. Trong câu 3 “áo trắng” thường chỉ nữ sinh – Áo trắng đơn sơ, mộng trắng trong (Huy Cận), Áo trắng là áo trắng ơi! (Nguyễn Duy). Câu cuối nhắc thành ngữ Áo mặc sao qua khỏi đầu.

16

Sắc như dao
Sáng như sao
Mở ra là thực
Khép vào là mơ

» Xem/Đóng đáp án

Mắt thanh xuân
Câu đầu lấy ý ca dao: Con dao vàng rọc lá trầu vàng / Mắt anh anh liếc, mắt nàng nàng đưa. Hai câu cuối mắt sáng nhìn tỏ rõ mọi vật, khi nhắm lại là cả một thế giới mộng mơ, hồi ức, tưởng tượng hiện ra trong trí óc.

17

Xay gạo ngày, giã gạo đêm
Chùa nhà chưa chắc, vái thêm bụt ngoài
Cà phê đặc để… ngáp hoài
Cái hôn ư? hết năm nay, xin chờ!

» Xem/Đóng đáp án

Mùa thi
Câu 1 nói học “gạo” suốt ngày, suốt đêm. Câu 2 nói học ở trường mình chưa cảm thấy chắc ăn phải học thêm ở trường khác. Câu 3: bằng mọi cách chống buồn ngủ mà không được. Câu 4: nhắc thơ Xuân Diệu Mùa thi sắp tới! – Em thơ / Chiếc hôn âu yếm xin chờ năm sau.

18

Tê đầu, rồi hắt xì hơi
Lại i như thế!
Trời ơi khó vào!

» Xem/Đóng đáp án

Học thi
Hai câu đầu chiết tự chữ “thi” có chữ “tê” ở đầu đến chữ “hắt” rồi “I như thế” là nói chữ “I”. Câu thứ 3 là nói học quá nhiều môn một lúc nên rất khó thuộc, khó “vào”. Cả bài thơ toát lên không khí mệt mỏi, căng thẳng trong những kỳ học để chuẩn bị thi.

19

Bảo xem thì quẳng cho xa
Cấm xem lén lút mở ra mà nhìn

» Xem/Đóng đáp án

Tài liệu học tập của học sinh lười, kỷ luật kém.
Lúc thầy bảo về nhà xem thì quẳng tài liệu sách vở để đi chơi. Lúc thi, cấm xem thì lén lút mở nhìn trộm.

20

Không ở gà hoặc vịt bông
Và không nổ được vì không có ngòi
Không đi câu, chẳng đi bơi
Lại theo những học sinh lười đi thi.

» Xem/Đóng đáp án

Phao
Câu đầu nói ở gà hay vịt đều có bộ phận gọi là “phao câu”. Câu 2 nói chữ “phao” là chữ “pháo” bị mất dấu sắc (cái ngòi). Phao cũng có ở cần câu và để đi bơi. Qua câu cuối biết đây là “phao cứu hộ” của học sinh không chịu học bài trong phòng thi.

21

Bạn mang tâm sự trong bao
Có chúng tôi vào, mọc cánh bay xa
Nhẹ thì bớt chúng tôi ra
Nặng thêm vào nữa, gấp ba bốn lần!

» Xem/Đóng đáp án

Con tem thư
“Tâm sự trong bao” là lá thư để trong phong bì. Thư có dán tem mới được chuyển đi. Thư càng nặng càng phải dán nhiều tem.

22

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trăm vuốt, ngàn ve vẫn chẳng mòn
Quân tử có thương đừng đập, giật
Cứ nâng, xứ xoáy mặc ai nhòm.

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bàn
Bài này nhại theo bài vịnh Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương : Thân em vừa trắng lại vừa tròn / Bảy nổi ba chìm với nước non / Rắn nát mặt dầu tay kẻ nặn / Mà em vẫn giữ tấm lòng son. Các từ “vuốt”, “ve”, “giật”, “đập”, “líp”, “xoáy”, “nâng”, … đều là các động tác trong khi đánh bóng bàn. “Mặc ai nhòm” ở câu cuối là nói dù khán giả xem đánh bóng bàn đông, cũng không nên mất bình tĩnh thì đánh mới tốt.

23

So bề to khỏe chẳng thua ai
Khẽ chạm vô chân, té sõng soài!
Mấy trẻ ầm ào vào trận giỡn
Toàn cầu sửng sốt phục tài trai!

» Xem/Đóng đáp án

Bóng đá
Câu 1 và 2 nói về đặc điểm các cầu thủ : to khỏe nhưng cũng rất hay “ăn vạ” để trọng tài phạt đối phương. Đến các danh thủ như Marađôna … cũng nhiều lần bị trọng tài phạt vì “té xạo”. Hai câu cuối : bóng đá là trò chơi của tuổi trẻ nhưng cũng được cả thế giới mê thích, các cầu thủ xuất sắc được rất nhiều người mến phục.

24

Khó thành họa sĩ vì ngắm nhiều tranh
Hết thành nhà văn vì xem nhiều truyện
Nhà văn lão luyện, họa sĩ có danh
Nhờ lộc mày ban, trổ tài … trượt tuyết.

» Xem/Đóng đáp án

Truyện tranh dỏm
Hai câu đầu nói tác hại của truyện tranh dỏm đến thẩm mỹ và thị hiếu của bạn đọc trẻ. Hai câu sau nói tác hại đối với các tác giả, chạy theo lợi nhuận làm giảm dần khả năng sáng tạo của mình, chỉ còn khả năng sao chép hoặc quá dễ dãi về nghệ thuật. (Nhớ rằng ở dây chỉ nói truyện tranh dở chứ không nói truyện tranh hay, được các nhà xuất bản có uy tín chọn in một cách nghiêm túc)

25

Chân dài chỉ một sợi thôi
Cái đầu nhẹ thếch, thích trồi lên cao
Dáng thì dáng bí dáng bầu
Xanh xanh đỏ đỏ rõ màu đồ chơi

» Xem/Đóng đáp án

Bóng bay

26

Tưởng vật lý hay tin học
Té ra chỉ là trò chơi
Tất nhiên là hấp dẫn lắm
Nhưng vừa vừa chứ bạn ơi
Lúc đầu là “khùng không nhẹ”
“Cái chết” nằm ở phần đuôi

» Xem/Đóng đáp án

Trò chơi điện tử
Câu 1 : Điện tử là một ngành của vật lý học, chơi điện tử cần có máy vi tính như làm tin học. Hai câu cuối là bàn về chữ Điện : “Điên nặng” tức là “Khùng không nhẹ” và “tử” còn có nghĩa là “chết”.

27

Thân tròn, mình trắng, đuôi vàng
Người càng cố kéo, nó càng ngắn hơn
Đời người cũng ngắn theo luôn!

» Xem/Đóng đáp án

Điếu thuốc lá
Câu đầu tả hình dáng điếu thuốc lá. Câu hai, do chữ “kéo” nghĩa là làm dài một vật gì đó ra lại hay được dùng để thay cho chữ “rít”, chữ “hút” : “Kéo một hơi (thuốc)” nên đã tạo ra một “mâu thuẫn” giả. Câu 3 nhắc một sự thật : hút thuốc lá làm giảm tuổi thọ và sinh nhiều bệnh về đường hô hấp.

28

Người gọi “trắng”, người : “bóng đen”
Nghề tôi có tiền, nhưng “hậu” thì không
Bạn ham một phút “thượng đồng”
Suốt đời sẽ được sống cùng quỉ ma.

» Xem/Đóng đáp án

Ma túy
Ma túy hay được gọi là “hàng trắng”, là “bạch phiến”. Do nó gây tai họa lén lút nên cũng gọi là “bóng đen” đặc biệt hay nói “bóng đen xâm nhập học đường”. Câu hai : buôn ma túy lãi nhiều nhưng không bị vào tù cũng bị bọn maphia thanh toán để bịt đầu mối. 2 câu cuối : bạn tò mò hút, chích thử để “thưởng thức” cảm giác đê mê của ma túy thì dù chỉ một vài lần là sẽ trở nên nghiện ngập, sống cùng bọn xì ke trộm cướp, bị cách ly khỏi cộng đồng.

Chia sẻ bài này:

Câu đố về chữ (sáng tác, 56 câu)

1

Để nguyên khi khuyết, khi tròn
Cắt cho ngắn, lại thành con vật dài

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Khi cắt bớt đuôi sẽ thành con trăn.

2

Thân, đuôi giống hệt của heo
Vừa thôi không “hát”, bé teo không ngờ
Bớt nửa giữa lại phình to
Rành rành thứ ấy để thờ eo ôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Theo
“Không hát” tức là bỏ chữ “h”. Ở câu cuối, “thờ eo” là đánh vần chữ “theo”

3

Vừa nhút nha nhút nhát
Chỉ chạy trốn là tài
Hết tê đầu, mang nón
Đã hùng hổ ra oai

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thỏ
Hết tê đầu, tức là bỏ chữ “tê” ở đầu, và thêm dấu “^” sẽ thành chữ “hổ”.

4

Rõ to, quả có tiếng đồn
Bớt đi cọng cỏ, chỉ còn cái đinh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đình
Cọng cỏ ở đây là dấu huyền

5

Chặt đầu mới hối
Tha tội quấy hôi
Xóa dấu, chặt đuôi
Văng lời thô tục

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thối

6

Bên trái rõ thực chúng mình
Bên phải mười một rành rành chẳng sai
Bớt mười lập tức vảnh tai
Cần thì gọi, tội đường dài ngại chi

» Xem/Đóng đáp án

Chữ TAXI
“Ta” là chúng mình. “Ngại chi” là chạy taxi đường dài hơi tốn tiền.

7

Trên đầu ta là nó
Là nó lúc mất đuôi
Lật ngược để xuôi vẫn là nó

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nón
Nón tất nhiên đội trên đầu

8

Một nét đầu rơi, thoảng gió nồm
Mắt huyền vừa nhắm, đã “em” ôm
“Em” sau, “em” trước, ồ vui nhỉ
Nhìn ngược nhìn xuôi chỉ thấy mồm.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mồm
Một nét đầu rơi là chữ “m” bỏ một nét đầu thành chữ “n”. Mắt huyền nhắm là bỏ dấu huyền đi. “Em” là đọc lướt của chữ “ em mờ”

9

Ăn chay nên thích trái cây
Mỗi năm thêm một, ai vay được trời

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tuổi
Ăn chay là tu, trái cây ở đây là Ổi

10

Suốt đời em bị ngờ oan
Trước sau mọi việc vẹn toàn siêng năng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ngoan
Ngờ oan là đánh vần chữ ngoan

11

Để nguyên tăm tối mầu than
Chém ngang một nhát, sáng choang cửa nhà

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Đèn
Chém ngang một nhát là đánh dấu huyền

12

Không ngờ lại được tha
Che đầu vào hang trốn
Thôi hát, hết leo cao
Mời ò e cờ phướn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thang
Thôi hát là bỏ chữ “h” không còn là chữ thang nữa mà thành chữ tang nghĩa là có đám ma.

13

Đầu bò, mình rắn, đuôi ngan
Tên bay, đạn nổ, tin sang cho mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bắn
Trong chữ “ Bò” thì phần đầu là chữ cái “b”, trong chữ “rắn” thì phần giữa là chữ “ắ”; trong chữ ngan phần đuôi là chữ “n”. Ở câu 2 bắn có thể là bắn tên (bằng cung), bắn đạn (bằng súng) và “bắn tin” : bắn tin sang mụ Tú bà (Kiều).

14

Nửa đầu đựng sữa, pha trà
Toàn phần còn có nghĩa là “ngó trông”
Rau suông, hến, cá, cua đồng…
Chở xe hơi (chọn loại không ô đầu)

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Canh
Nửa đầu chữ canh là “ca”. Chữ “canh” có nghĩa là canh gác hoặc ngó trông. Câu 3 kể một số loại canh. Câu 4 : canh đựng trong tô (từ chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu)

15

Đợi o một kiếp chẳng nề
Suốt đời ta chẳng nhận về mảy may

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cho
“Đợi” nghĩa là “chờ”. “chờ o” là đánh vần chữ “cho”. Chữ cho ngược nghĩa với chữ “nhận”./toggle]

[tabby title="16"]Không đầu, không dấu thì ưa
Không đuôi, không dấu hóa thừa thãi ra
Không đầu đuôi, cứ ậm à…
Để nguyên ngon ngọt, rõ là trái cây[toggle]Chữ Dưa, Dừa, Dứa
Ở câu thứ 3: ư, ừ, ứ… có thể xem là “ậm à ậm ừ!”. Câu cuối có thể coi vừa đố, vừa giảng./toggle]

[tabby title="17"]Chặt đầu, cất tiếng kêu thương
Cắt đuôi lại hóa to xương, lớn người
Muốn dùng, cắt cả đầu đuôi
Che mưa gió, che nắng nôi trên đầu
Nguyên lành giữ trọn trước sau
Sẽ thành một cặp bên nhau khó rời![toggle]Chữ Đôi
“Ôi” là tiếng kêu thương; “đô” là to con, lớn người; “Ô” (hay dù) để che mưa nắng. “Đôi” cũng có nghĩa là một cặp.

18

Chặt đuôi thì ho
Che đầu thì khóc
Đầu đuôi, giấu hết
Đẻ trứng tròn vo
Giữ nguyên vẹn cho
Nở xòe cánh đẹp

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hoa
Ở câu 4 muốn nhắc : O tròn như quả trứng gà.

19

Lấy ca mà để đầu em
Nóng ăn thì lạnh, nhịn thèm thì tan

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Kem
Chữ cái K cũng được đọc là “ca”; chữ “nóng ăn” ở câu 2 có nghĩa là ăn vội, ăn ngay.

20

Bóc vỏ: củ hóa thành hoa!
Lột lần vỏ nữa: hiện ra trứng tròn
No cơm, ọ ẹ…, khen ngon
Gặp miền đất lạ: xòn xòn đẻ sai
Nướng thì thơm, bỏ ruột thì… khai!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoai
Chữ “Khoai” bỏ K và i là chữ hoa; Bỏ h và a còn chữ O (O tròn như quả trứng gà). 3 câu tiếp nhắc các thành ngữ: No cơm tẻ, ọ ẹ khoai lang; Khoai đất lạ, mạ đất quen; Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng (rất thơm). Chữ “Khoai” bỏ chữ o ở giữa còn lại chữ khai

21

Chặt đuôi Miền Bắc gọi vừng
Bỏ giữa Bờm mừng đổi được nắm xôi
Che đầu : èo uột khó nuôi
Để nguyên bắt chuột hoặc ngồi đống tro

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Mèo
Miền Bắc gọi là “Vừng” (muối vừng), Miền Nam gọi là “mè”. Bỏ chữ è còn lại “mo”(thằng Bờm có cái quạt mo…). Các phần khác đã rõ.

22

Phải o có nón tàng hình
O vừa đứng đó đã thành cái ô
Nếu cầm thêm một lá cờ
O đàng trong lại hóa o đàng ngoài.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ O
Miền trong gọi O (em hoặc chị của bố) thì Miền Bắc (đàng ngoài) gọi là cô. O đội nón vào thì chỉ còn là cái ô; nếu thêm chữ C (chữ “cờ”) lại thành chữ cô.

23

Dù che trước, dù che sau
Chẳng may mất đầu thì lấy đựng canh
Bởi chưng tê mẩy, tê mình
Chạy đôn chạy đáo kêu inh cả làng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ôtô
“Ô” cũng có nghĩa là “dù”. Chữ “ôtô” bỏ chữ “ô” đầu còn lại là chữ “tô”, dụng cụ để đựng canh hay phở … Giữa (mình ) chữ ôtô là chữ “t”đọc là “tê” (tê buốt). Ôtô thường chạy đây chạy đó, tiếng động cơ và tiếng còi xe kêu inh ỏi.

24

Không tin là bởi nửa sau
Đem rán nửa đầu xem có thơm không
Khi nhà ở, lúc lông bông
Bạn nào chưa biết, rờ ông biết liền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Rông
“Nửa đuôi” là “ng”, thường được đánh vần là”ngờ” tức không tin. Nửa đầu nhắc thành ngữ “Thứ nhất rô rang, thứ nhì lang nướng” tức là rất thơm. “Nhà rông” để ở, “chạy rông” là đi lông bông. Câu cuối đánh vần chữ “rông”. Câu đố này thuộc loại “vừa đố vừa giảng”, dân gian hay sử dụng.

25

Đã sờ còn tức ách gì
Khi chia đôi có sá chi đợi chờ

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Sách
Câu đầu là đánh vần chữ “sách”. Chữ sách chia đôi có 2 phần : “sá” (sá chi) và “ch” đọc là “chờ” (đợi chờ).

26

Giấu đầu thì hỏi
Giấu đuôi : trả lời
Giấu cả đầu đuôi
Reo lên vui thích
Không hề bưng bít
Thin thít lắng nghe

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tai
Chữ “ai?” là để hỏi; chữ “ta!” là để trả lời; chữ “a!” hay được kêu lên khi vui thích ngạc nhiên. Không che đi chữ cái nào, ta lại có chữ “tai” là bộ phận trong cơ thể con người và động vật dùng để nghe.

27

Bỏ nón: thành bánh
Để nón: xuân sang
Có nón hay không nón
Vẫn bạn với mai vàng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Chữ “tết” bỏ dấu “^” thành chữ “tét”; mai vàng và bánh tét là những thứ gần như không thể thiếu trong gia đình người Miền Nam vào dịp tết nguyên đán.

28

Tê đầu tê đuôi
Ê mình ê mẩy
Bia rượu mềm môi
Phong lưu biết mấy

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tết
Hai câu đầu (lấy từ câu đố dân gian Việt Nam) chiết tự chữ “tết” và cũng nói cảm giác mệt mỏi do hoạt động nhiều vào dịp tết. Hai câu sau nhắc thơ Tú Xương: Phong lưu đệ nhất ba ngày tết / Túng kiết như ai cũng rượu chè.

29

Còn đầu thì tóc mọc ra
Cắt đuôi, búi tó, vậy mà lại xinh
Xem ra đệ nhất tài tình
Mất đầu mà óc rành rành còn nguyên

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tóc

30

Bỏ đầu mọc răng
Chặt đuôi hóa rắn
Muốn được lời khuyên
Đầu đuôi bỏ hẳn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trăng
Chỉ cần nói thêm chữ “răn” là “khuyên răn”, “răn dạy”.

31

Dấu đầu lại hở râu ra!
Cắt đuôi, xóa dấu: đem mà thả ao
Vì thiếu dấu mới xa cau
Quanh năm đồng cạn đồng sâu nhọc nhằn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Trâu
Chữ “trâu” bỏ chữ “u” và xóa dấu”^” là chữ “Tra” một loại cá gần giống cá trê nhưng có màu trắng, có nhiều ở Miền Tây Nam Bộ. Nếu chữ “Trâu” có thêm dấu huyền sẽ thành “Trầu” và khi đó sẽ gần với cau. Câu cuối nhắc câu ca dao Trên đồng cạn, dưới đồng sâu / Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.

32

Hai đầu giải tỏa cả
Vạn mét vuông có ngay
Chỉ một đầu giải tỏa
Dẫu sao cũng còn hay
Để nguyên vẹn hơi găy
Chỉ ngồi chơi xơi nước!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khay
Vạn mét vuông là một hécta, viết tắt là “ha”. Khay là đồ dùng trong bộ uống trà.

33

Cắt đuôi : chim hóa thú
Đuôi ngắn lại thì hôi
Chia hai phần lớn nhỏ
Kìa: thú y đến rối!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thúy
Chim thúy, cũng có nơi gọi là chim trả vì thúy cũng có nghĩa là mầu xanh ngọc. Thay chữ y bằng chũ i, chữ thúy thành chữ “thúi”

34

Lo làm thơm đẹp mặt người
Chính mình hết đẹp, kẻ cười rằng hôi!

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Phấn
Hết đẹp tức là mất sắc, phấn sẽ thành phân

35

Chẵn lẻ âm dương vốn tự nhiên
Vờ ngu giả ngốc để cầu yên
Lăn quay một cái thành ra họ
Thề thốt để khoe có mắt huyền

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Nguyên
Các số nguyên gồm các số tự nhiên, các số tự nhiên mang thêm dấu âm và được phân chẵn và lẻ. Chữ Nguyên do chữ “ngu” và chữ “yên” tạo thành.Thêm dấu ngã (lăn quay) thành họ Nguyễn. Nếu thêm dấu huyền thành nguyền (thề nguyền, thề thốt)

36

Trông kìa : ca hát oang oang
Giấu đầu kỹ mấy, con hoang biết liền
Mặt hoa da phấn ngỡ tiên
Không ngờ có hỏi, nó liền thoát y

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Khoang
Ca hat oang là đánh vần chữ khoang. Nhìn thẳng vào mặt chữ khoang, ta nhìn thấy ngay chữ “hoa”. Không “ngờ” là bỏ chữ “ng”, có hỏi là đánh dấu “?” sẽ được chữ “khỏa” là khỏa thân, thoát y.

37

Vắng ông : quay tít thò lò
Ông về càng tệ: không rồ cũng điên
U đi vắng tưởng đâu yên
Điếc tai hàng xóm những chiêng với cồng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cuồng
Chữ cuồng bỏ chữ ông còn chữ cù là con quay. Bản thân chữ cuồng là điên khùng. Bỏ chữ u còn chữ “cồng” trước kia hay đánh để truyền lệnh, hay đi bộ với chiêng.

38

Mang dấu gì tội cũng to
Trước lo sau mới ấm no, an nhàn.
Vốn dòng chim quí, chim sang
Mất đuôi hò hét oang oang tối ngày

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Loan
Loạn hay loàn (lăng loàn) đều có nghĩa xấu. Loan = lo + an. Loan là con chim phượng hoàng mái, loài chim sang trọng. Bỏ chữ n còn lại là cái loa nên mới hò hét oang oang.

39

Muốn anh đến, hãy đừng chờ
Mong cha về, lại hết nhờ. Chua thay.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chanh
Chờ là “ch”, nhờ là “nh”. Chanh tất nhiên là chua.

40

Chàng không ngờ dấu bị rơi
Vậy là chàng đã đổi đời làm cha

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chàng
Không ngờ là bỏ “ng”, dấu bị rơi là bỏ dấu huyền.

41

Có em thư báo đi về
Không em chỉ có tái tê một mình

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tem
Tái tê là nói chữ “T”

42

Này này chẳng phải mày đâu
Thiếu đầu đừng hỏi nông sâu cho phiền
Nếu mà có gậy chỉ thiên
Sẽ như phép lạ: hóa liền trái cây

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tao
Khi nói đến ao, người ta hay quan tâm nông hay sâu. Gậy chỉ thiên là muốn nói dấu sắc./toggle]

[tabby title="43"]Mới vừa chê ủng chê ôi
Cho ăn bánh hỏi, lại đòi trái cây[toggle]Chữ Ôi
Bánh hỏi là dấu hỏi. Trái cây ở đây là trái ổi.

44

Một xu thì cũng ân tình
Đừng ham mang dấu mà thành hết khôn

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Xuân
Chữ xuân nếu thêm dấu thì chỉ có dấu hỏi là có nghĩa. Nhưng khi đó thành xuẩn là ngu xuẩn, xuẩn ngốc, tức hết khôn.

45

Rành rành bà ấy mẹ tôi
Về già hết đẹp, nhát người đi đêm

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Hết đẹp là mất sắc, tức mất dấu sắc. Có câu tục ngữ: Đi đêm lắm ắt có ngày gặp ma

46

Có mắt huyền lại tưởng lòa
Không mắt huyền hóa kiêu sa mơ màng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ
Mắt huyền ở đây là dấu huyền

47

Rõ rành rành đấy bố tôi
Cớ sao có hỏi, trả lời rằng không?

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cha
Chữ chả nhiều địa phương sử dụng như từ phủ định : Chả phải, chả có…

48

Xuất thân từ bác áo xanh
Thôi nghề bốc vác lại thành gió trăng

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Thợ
Áo xanh là áo thợ. Nghề bốc vác là nghề mang nặng, tức dấu nặng. Gió trăng là vẻ đẹp thiên nhiên nên cũng hay biểu tượng cho thơ Đề huề lưng túi gió trăng

49

Gan chả hơn thỏ mấy
Đã đợi vẫn làm eo
“Trứng” rơi còn lo đậy
Cắt “cờ” mập thành heo.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Cheo
Cheo là một loài thú giống hươu nhưng cỡ rất nhỏ, chạy nhanh và rất nhát. Nhát như cheo. Trứng rơi là bỏ chữ o đi

50

Đầu bò đuôi gắn đầu trâu
Thân mình mập ú, giúp nhau học hành

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Bút

51

Yêu là yêu cả loài người
Cớ sao mang tiếng để đời: gạ cô.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạo

52

Ra ga mang nặng rồi chờ
Công trình lớn nhỏ đều nhờ đến anh
Cũng từ đất cát mà thành
Mầu hồng do lửa, dáng xinh do người

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Gạch

53

Chờ được thêm trái quả
Rồi đi quét cửa nhà
Bỏ đầu thừa đuôi thẹo
Chúa sơn lâm hiện ra

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Chổi
Chổi = chờ + ổi.Bỏ hai phía, chữ chổi thành chữ hổ.

54

Cắt đuôi đem bán hoài không được
Mất sắc eo ôi, ngó rõ ghê!
Thì quẳng nón, xông vào sông nước
Bán buôn, câu cá hoặc chèo thuê

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Ghế
Phần đuôi là chữ ế tức không bán được. Bỏ dấu sắc thành chữ ghê. Bỏ tiếp dấu “^” thành chữ ghe tức thuyền

55

Tội đốt lửa rõ mười mươi
Thôi không hỏi tội đã cười như hoa
Đem roi dọa đánh: xin hòa
Bắt mang nặng, xin ở nhà vẽ tranh

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Hỏa
Đem roi dọa đánh tức là đánh dấu huyền.

56

Đang ngồi yên chỗ tụng kinh
Bởi ham thay dấu, đời mình cũng thay
Đang đồ điện, hóa đồ cây
Vừa vui đỗ đạt, đã tay mang còng.

» Xem/Đóng đáp án

Chữ Tu
Ngồi yên chỗ tụng kinh là tu. Đồ điện là tụ (điện), đồ cây là tủ. Đỗ đạt là tú (đỗ tú tài)

Chia sẻ bài này:

Câu đố về danh nhân lịch sử (sáng tác, 21 câu)

1

Kiếm gãy, nhổ tre làm vũ khí
Dấu chân ngựa để những hồ ao
Lên ba dẹp giặc lo còn trễ
Bay chín tầng mây hận chửa cao!

» Xem/Đóng đáp án

THÁNH GIÓNG
Hai câu ba và bốn là dịch thơ Cao Bá Quát : “Phá tặc đãn hiềm tam tuế vãn / Đằng vân do hận cửu thiên đê”

2

Tên đẹp – hoa sen đẹp
Đức hiền – hạt gạo hiền
Người cha – đôi mắt mẹ
Tóc trắng – tóc ông tiên

» Xem/Đóng đáp án

Phác họa BÁC HỒ
Câu đầu nhắc thơ Bảo Định Giang : “Tháp Mười đẹp nhất hoa sen / Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ”. Câu hai nhắc thơ Xuân Diệu :“Bác hiền như hạt gạo thôi / Chí no thiên hạ, tình nuôi đồng bào”. Câu ba nhắc thơ Tố Hữu : “Ôi người cha đôi mắt mẹ, hiền sao!”. Câu bốn nhắc thơ Phạm Tiến Duật viết khi Bác đi xa:”Bác là ông tiên tóc trắng / Mặt trời lặn, mặt trời mang theo nắng / Bác ra đi, để ánh sáng cho đời…”

3

“Tam tộc tru di”, máu đỏ làng
Bình Ngô muôn thuở giọng còn vang
Hỡi ơi Thị Lộ – gương tầy… chiếu
Tài sắc mà chi để lụy chàng.

» Xem/Đóng đáp án

Vài nét NGUYỄN TRÃI
Câu 1 nhắc vụ án “Lệ Chi Viên” về cái chết của vua Lê Thái Tôn dẫn đến thảm họa cho Nguyễn Trãi. Câu 2 nhắc ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ cũng là nhắc đến tài đức và công lao của Nguyễn Trãi đối với dân tộc và triều đình nhà Lê. Ở câu 3 “gương tầy chiếu” là sửa lại thành ngữ “gương tầy liếp” nghĩa là gương lớn. Gương ở đây là muốn nói đến gương “tài mệnh tương phương” tức là tài và mệnh làm hại lẫn nhau, thường xảy ra trong chế đệ phong kiến cũ. Chữ “chiếu” là muốn nhắc đến giai thoại làm quen nhau của Nguyễn Trãi và Thị Lộ : Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon. Cả câu 3 lẫn câu 4 muốn nhắc đến cái chết của vua Thái Tôn ắt hẳn có nguyên nhân (hay nguyên cớ) từ tài sắc của Thị Lộ. Và vì cái chết đó mà triều đình dàn cảnh hãm hại Nguyễn Trãi.

Nguyễn Trãi tên hiệu là Ức Trai, sinh năm 1380, quê Hà Đông, mất năm 1442.

4

Năm trăm năm. Hỏi đã là lâu?
Mây trắng. Kìa ai tóc trắng đầu
Thơ phú tiên tri – lời sấm trạng
Văn chương giáo huấn lẽ nông sâu…

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN BỈNH KHIÊM
Nguyễn Bỉnh Khiêm tên hiệu là BẠCH VÂN cư sĩ. Ông sinh năm 1491, quê Hải Dương, đỗ Trạng Nguyên (1535). Ông được vua Mạc Phúc Hải phong tước Trình Truyền Hầu (1544) (ý so sánh với anh em Trình Di, Trình Hạo ở Trung Quốc giỏi lý số) rồi sau lại phong Trình Quốc Công nên người ta gọi ông là Trạng Trình. Ông có nhiều câu thơ tiên đoán được sự biến động của các triều đại nên sau người đời hay gọi các câu thơ đó là “sấm Trạng Trình”. Ông có để lại cuốn BẠCH VÂN THI TẬP gồm khoảng 100 bài thơ Nôm và khoảng 100 bài thơ chữ Hán. Thơ ông nặng tính giáo huấn nói về nhân tình thế thái (Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến / Gang không mật mỡ kiến bò chi…), đọc xong ta có thể bắt chước cụ Yên Đổ mà thốt lên : “Lạ nhỉ, người xưa cũng thế ư!”. Sau đây xin chép ba bài thơ “không đề” của ông để làm rõ “xuất xứ” các câu thơ của bài “thơ chân dung” này.
Bài 1 : Một mai, một cuốc, một cần câu / Thơ thẩn dù ai vui thú nào / Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ / Người khôn người đến chốn lao xao / Thu ăn măng trúc, đông ăn giá / Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao / Rượu đến cội cây ta sẽ uống / Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.
Bài 2 : Thế gian biến cải vũng nên đồi / Mặn nhạt cay chua lẫn ngọt bùi / Còn bạc còn tiền còn đệ tử / Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi / Xưa nay đều trọng người chân thực / Ai nấy nào ưa kẻ đãi bôi / Ở thế mới hay nguời bạc ác / Giàu thì tìm đến, khó thì lui.
Bài 3 : Làm nguời có dại mới nên khôn / Chớ dại ngây si, chớ quá khôn / Khôn được ích mình, đừng rẻ dại / Dại thì giữ phận, chớ tranh khôn / Khôn mà hiểm độc là khôn dại / Dại vốn hiền lành ấy dại khôn / Chớ cậy rằng khôn khinh kẻ dại / Gặp thời dại cũng hóa nên khôn.

Nguyễn Bỉnh Khiêm mất năm 1585.

5

Thương đều thập loại chúng sinh
Đầm đìa dòng lệ chảy quanh thân Kiều
Chữ TÂM vằng vặc gương treo
Sầu tuôn đứt nối còn nhiều trăm năm.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN DU
Câu đầu nhắc VĂN TẾ THẬP LOẠI CHÚNG SINH của Nguyễn Du. Câu hai nhắc câu thơ của Tố Hữu : Tố Như ơi, lệ chảy quanh thân Kiều có thể xem là câu thơ thuộc loại hay nhất viết về Nguyễn Du và Truyện Kiều. Câu thứ ba nhắc câu Kiều : Thiện căn ở tại lòng ta / Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài đồng thời cũng muốn nói chính Nguyễn Du là tấm gương sáng về chữ TÂM. Câu cuối muốn nhắc câu thơ chữ Hán của Nguyễn Du trong bài ĐỘC TIỂU THANH KÝ: Bất tri tam bách dư niên hậu / Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như (Xuân Diệu dịch : Ba trăm năm nữa mơ màng / Thế gian ai đó khóc chàng Tố Như ). Có lẽ còn nhiều (chứ không phải chỉ ba) trăm năm nữa vẫn còn nhiều người thương khóc Nguyễn Du. Sầu tuôn đứt nối là chữ của Nguyễn Du tả Thúy Kiều thương khóc Đạm Tiên : Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài.

Nguyễn Du (tên hiệu là Tố Như ) quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, sinh năm 1765 mất năm 1820. Sự nghiệp văn chương chủ yếu dành cho thơ chữ Hán, Truyện Kiều không phải là phần tinh túy nhất của thiên tài Nguyễn Du nhưng vì viết bằng chữ Nôm nên được phổ biến rộng sâu hơn.

6

Văn vô tiền Hán. Hiếm hoi thay
Sông núi chưa đầy một nắm tay
Nửa kiếp bôn ba tìm kiếm báu
Tròn đời chỉ cúi trước hoa mai
Lệ rơi thấm muội đèn. Làm phúc
Máu nhỏ nên vòng khuyên. Hóa tai!
Trống giục ba hồi… Cha mẹ kiếp
Đế vương muôn thủa dưới chân ngài!

» Xem/Đóng đáp án

CAO BÁ QUÁT
Câu đầu nhắc đôi câu đối được phổ biến rộng rãi : Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán / Thi đáo Tùng, Tuy thất thịnh Đường. Câu 2 nhắc bài TẮM KHE BÀN THẠCH : Sáng lên Hoành Sơn trông / Chiều xuống Bàn Thạch tắm / Nhặt hòn đá hai nơi / Núi sông không đầy nắm. Hai câu 3,4 nhắc thơ Cao Bá Quát : Thập tải giao luân cầu cổ kiếm / Nhất sinh đê thủ bái mai hoa nói rõ tinh thần phản kháng, khí phách anh hùng và tâm hồn trong sạch cao đẹp của Cao Bá Quát. Câu 5, 6 nhắc chuyện Cao Bá Quát khi làm sơ khảo trường Thừa Thiên thấy một số quyển rất khá nhưng phạm vào tên húy của nhà vua, để khỏi bỏ mất những nhân tài vì những lỗi vớ vẩn, ông đã dùng muội đèn sửa đi. Chuyện bại lộ, bị triều đình hạ tội “giảo giam hậu” (người phạm tội phải thắt cổ chết nhưng tạm giam chưa thi hành). Hai câu cuối nhắc thơ Cao Bá Quát làm khi bị giết (lúc khởi nghĩa Mỹ Lương thất bại) và khi bị giam: Ba hồi trống giục đù cha kiếp / Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời. Và Một chiếc cùm lim chân có đế / Ba vòng xích sắt bước thì vương nghĩa là cả “đế” lẫn “vương” đều bị ông đạp dưới chân.

Cao Bá Quát tên tự là Chu Thần, quê Bắc Ninh, Gia Lâm Hà Nội, sinh năm 1809 và mất năm 1854.

7

Mắt lòa, lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Câu 1 nói Nguyễn Đình Chiểu là người anh minh sáng suốt, tuy bị mù lòa, nhưng ông luôn nhìn rõ mọi lẽ phải trái; phân biệt kẻ xấu người tốt, không vì một lợi ích cá nhân nào làm lu mờ được đức trung thực, lòng yêu nước thương dân của ông. Câu 2 và 3 nhắc hai câu thơ nổi tiếng của Nguyễn Đình Chiểu, tuyên ngôn về quan niệm sáng tác văn học của ông : Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà. Câu cuối là nguyên văn câu thơ nổi tiếng của ông nói về lẽ ghét thương : Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Nguyễn Đình Chiểu quê Bến Tre, sinh năm 1822, mất năm 1888.

8

Trong lồng sáo hót
Cần trúc trên vai
Mũ nồi đội lệch
Liên lạc rất tài
Giờ về làm sách
Cho thiếu nhi coi

» Xem/Đóng đáp án

KIM ĐỒNG
Bốn câu đầu nhắc lại hình ảnh Kim Đồng (Nông Văn Dền) đi làm liên lạc trong cuộc kháng chiến chống Pháp qua các truyện kể và phim ảnh về anh. Câu cuối nhắc tên nhà xuất bản Kim Đồng, nhà xuất bản lớn nhất nước chuyên xuất bản sách cho thiếu nhi.

9

Bồn chồn nghe sấm, nhớ mưa
Nghe gà gáy, nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ đất, hiến thân
Tên anh – dáng đứng mùa xuân, con đường.

» Xem/Đóng đáp án

LÊ ANH XUÂN
Câu đầu nhắc bài thơ NHỚ MƯA QUÊ HƯƠNG – Giải thưởng báo Văn Nghệ 1961, trong đó có câu Ôi, tiếng sấm từ xa đang rền vang rộn rã cũng là tiếng súng, tiếng trống trận ở Miền Nam thôi thúc nhà thơ. Từ “bồn chồn” cũng muốn nhắc câu thơ Lê Anh Xuân viết về Sài Gòn thời chiến tranh : Cái quầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy / Cứ đêm đêm nức nở gọi ta về!. TIẾNG GÀ GÁY báo hiệu bình minh cách mạng giải phóng và HOA DỪA là tên các tập thơ của Lê Anh Xuân. GIỮ ĐẤT là tên tập văn xuôi của Lê Anh Xuân viết ở chiến trường Miền Nam. Tên thật của tác giả là Ca Lê Hiến (quê ông ở Bến Tre) khi về chiến đấu ở Miền Nam, ông lấy bút danh Lê Anh Xuân và đã hy sinh. Ở TPHCM, hiện có đường Lê Anh Xuân, một con đường nhỏ nhưng đẹp, ngay trung tâm quận I. Chữ “dáng đứng” cũng muốn nhắc bài thơ DÁNG ĐỨNG VIỆT NAM của Lê Anh Xuân : Anh ngã xuống trên đường băng Tân Sơn Nhất / Nhưng anh gượng đứng lên, tỳ súng trên xác trực thăng / và anh chết trong khi đang đứng bắn / Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng / Chợt thấy anh giặc hốt hoảng xin hàng / Có thằng sụp xuống chân anh lánh đạn / Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm / Vẫn đứng đàng hoàng nổ súng tấn công /…/ Vẫn đứng lên im như bức thành đồng / Để lại cái dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ.

Lê Anh Xuân sinh năm 1940 tại Bến Tre. Hy sinh năm 1968 tại Long An ven Sài Gòn./toggle]

[tabby title="10"]Bỏ kiếp sống mòn, nửa đêm vào rừng kháng chiến
Những cánh hoa tàn nở thắm lại theo
Đôi mắt ngạo cười Lý Cường, Bá Kiến
Bát cháo hành thơm tình Thị Nở-Chí Phèo[toggle]NAM CAO
Câu 1 nhắc 3 tác phẩm : SỐNG MÒN (tiểu thuyết); NỬA ĐÊM (tập truyện), Ở RỪNG (nhật ký). Câu 2 nhắc tập truyện NHỮNG CÁNH HOA TÀN; Câu 3 nhắc tập truyện ĐÔI MẮT và tập truyện CƯỜI. Hai câu cuối cùng nhắc tác phẩm CHÍ PHÈO và một số chi tiết của truyện.
Nam Cao có tên khai sinh là Trần Hữu Trí, sinh năm 1917 ở làng Đại Hoàng, xã Hòa Hậu, Lý Nhân Nam Hà; hy sinh năm 1951 tại Ninh Bình.

11

Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy
Chẳng chia ly cùng bạn đọc bao giờ
Con đuờng ấy nắng ngân vang ngàn chuông nhỏ
Xanh mơ màng đẹp mãi giấc anh mơ.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN MỸ
Câu 1, 2 nhắc bài thơ CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ nổi tiếng của Nguyễn Mỹ (chép ở sau). Bài thơ ấy cũng như tên tuổi của tác giả không bao giờ “chia ly” với bạn yêu thơ. Câu 3 nhắc bài CON ĐƯỜNG ẤY : Con đường nhỏ / Đi giữa hai hàng cây / Cái con đường ấy mình đầy bóng râm / Con hươu sao đã ruỗi nằm / Để nghe những tiếng thì thầm ở trên / Đôi bên là nắng / Thu đã đượm vàng / Nắng bay từng giọt / Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông…Câu cuối nhắc bài GIẤC MƠ XANH : …Giấc mơ xanh còn xanh mãi của tôi / Là Ô Loan, đầm Mẹ sáng ngời / Con đi, mẹ nhé, triều đang gọi / Nâng dải mơ lên tới đỉnh trời.

Bây giờ xin chép bài CUỘC CHIA LY MÀU ĐỎ : Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ / Tươi như cánh nhạn lai hồng / Trưa một ngày sắp ngả sang Đông / Thu, bỗng nắng vàng lên rực rỡ / Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ / Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa / Chồng của cô sắp sửa đi xa / Cùng đi với nhiều đồng chí nữa / Chiếc áo đỏ rực như than lửa / Cháy không nguôi trước cảnh chia ly / Vườn cây xanh và chiếc nón trắng kia / Không giấu nổi tình yêu cô rực cháy / Không che được nước mắt cô đã chảy / Những giọt long lanh, nóng bỏng, sáng ngời / Chảy trên bình minh đang hé giữa làn môi / Và rạng đông đã bừng trên nét mặt / Một rạng đông với màu hồng ngọc / Cây si xanh gọi họ đến ngồi / Trong bóng rợp của mình nói tới ngày mai / Ngày mai sẽ là ngày xum họp / Đã tỏa sáng. Những tâm hồn cao đẹp / Nắng vẫn còn ngời trên mắt lá si / Và người chồng ấy đã ra đi / Cả vườn hoa đã ngập tràn nắng xế / Những cánh hoa đỏ vẫn còn rung nhè nhẹ / Gió nói tôi nghe những tiếng thì thào / “Khi tổ quốc cần họ biết sống xa nhau” / Nhưng tôi biết cái màu đỏ ấy / Cái màu đỏ như cái màu đỏ ấy / Sẽ là bông hoa chuối đỏ tươi / Trên đỉnh dốc cao vẫy gọi đoàn người / Sẽ là ánh lửa hồng trên bếp / Một làng xa giữa đêm giá rét… / Nghĩa là màu đỏ ấy sẽ theo đi / Như không hề có cuộc chia ly.

Nguyễn Mỹ sinh năm 1935 ở Tuy An, Phú Yên, hy sinh năm 1971 ở Trà My, Quảng Nam

12

Anh là ai? Một sinh viên
Tên anh niềm ước bình yên quê nhà
Nghĩa đời đâu chỉ đô la
Trái bom đánh giặc chính là trái tim.

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN THÁI BÌNH
Nguyễn Thái Bình còn có tên là Việt Thái Bình, một sinh viên xuất sắc của Miền Nam du học ở Mỹ trong những năm giặc Mỹ đánh phá đất nước ta. Trong thời gian học tại Mỹ, Nguyễn Thái Bình là một sinh viên đấu tranh tích cực chống chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam. Anh đã gạt bỏ mọi danh vọng tiền tài mà kẻ thù đưa ra mua chuộc, để chống lại kẻ thù của dân tộc ngay trên đất nước chúng. Anh bị đưa về giết hại ở sân bay Tân Sơn Nhất ngày 2 tháng 7 năm 1972. Trong bức thư ngỏ gửi nhân dân yêu chuộng hòa bình và công lý trên toàn thế giới, có đoạn anh viết: “Trái bom của tôi chỉ là trái tim của tôi. Nó có thể nổ tung để thức tỉnh lương tâm của mọi người…”

13

Thanh hỏi, thanh ngã, thanh không
Thanh nào cũng một tấm lòng vì dân
Phút thiêng gọi Bác ba lần
Gửi tên làm nhịp cầu xuân vĩnh hằng

» Xem/Đóng đáp án

NGUYỄN VĂN TRỖI
Tin anh Nguyễn Văn Trỗi bị đưa ra pháp trường được truyền ra Bắc bằng vô tuyến nên ít nhiều bị nhiễu. Hơn nữa, tiếng Miền Nam đôi khi không phân biệt dấu hỏi với dấu ngã khi phát âm, nên tên anh được báo chí đăng khác nhau : Nguyễn Văn Trổi, Nguyễn Văn Trỗi, Nguyễn Văn Trôi. Sau này, bộ Văn hóa đã có quy định bằng văn bản là tất cả các sáng tác dù dùng tên gì vẫn có giá trị. Câu thứ ba muốn nhắc bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi” của Tố Hữu :”Hồ Chí Minh muôn năm / Hồ chí Minh muôn năm / Hồ Chí Minh muôn năm /Phút giây thiêng anh gọi Bác ba lần!” Câu bốn nhắc “cầu Công Lý” đã được đổi tên là cầu Nguyễn Văn Trỗi.Và cũng muốn nhắc câu thơ Tố Hữu: “Anh đã chết rồi / Anh còn sống mãi / Chết như sống, anh hùng, vĩ đại”

14

Quan văn không phạm hơi đồng
Một cây quốc trụ vàng ròng mười mươi!

» Xem/Đóng đáp án

Cố Thủ tướng PHẠM VĂN ĐỒNG
Câu đầu nhắc đôi câu đối lưu truyền trong dân gian: “Ba mươi năm kháng chiến cầm quân, mừng tướng Võ vẫn Nguyên áo Giáp / Cả một đời lo toan việc nước, phục quan Văn không Phạm hơi Đồng”. Câu hai nhắc một giai thoại : Hồi ở chiến khu Việt Bắc, Quanh bàn làm việc của Bác ở nhà sàn có bốn cột, ở đó treo bốn ống bương. Bác gửi công văn cho các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Hoàng Quốc Việt, Phạm Văn Đồng và Trường Chinh (Quân, Dân, Chính, Đảng) và Bác nói vui: Đó là tứ trụ của Bác.

15

Chiến sĩ Việt Nam tiến về Hà Nội
Buồn tàn thu gửi lại Suối Mơ
Cứ ngỡ Thiên Thai mà làng tôi đó
Tiến quân ca tôi hát giữa ngày mùa

» Xem/Đóng đáp án

VĂN CAO
CHIẾN SĨ VIỆT NAM, TIẾN VỀ HÀ NỘI, BUỒN TÀN THU, SUỐI MƠ, THIÊN THAI, LÀNG TÔI, TIẾN QUÂN CA, NGÀY MÙA là các ca khúc tiêu biểu của Văn Cao được nhắc đến trong bài.
Văn Cao họ Nguyễn. Ông sinh năm 1923 tại Hải Phòng, quê gốc Nam Định, mất năm 1995 tại Hà Nội.

16

Tướng Võ có tên Văn
Từng tam khí Đờ lát
Lừng lẫy trận chín năm
Vẫn lành nguyên áo giáp.

» Xem/Đóng đáp án

VÕ NGUYÊN GIÁP
Câu đầu nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp có biệt danh là “Văn”. Câu hai nhắc bài thơ TAM KHÍ ĐỜLÁT- ĐỜTÁTXINHI của Tú Mỡ: “Tướng giặc tên Đờlát / Họ Đờtátxinhi / Vùa chết bệnh não gì? / Chẳng qua vì ức đó /…/ Chẳng hay trước khi chết / Tướng có kêu sầu bi / Trời sinh Tátxinhi /Sao sinh Võ Nguyên Giáp!” Câu ba nhắc cuộc kháng chiến 9 năm chống Pháp với kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy về quân sự, thơ Tố Hữu : “Chín năm làm một Điện Biên / Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”. Câu cuối là nhắc tên Đại tướng.

17

Du kích Sông Thao hát bài ca du kích
Hành quân xa vì chiến thắng Điện Biên
Vui mở đường, ta lại vào chiến dịch
Cho Việt Nam –Quê hương tôi thống nhất hai miền.

» Xem/Đóng đáp án

ĐỖ NHUẬN
Trong bài nhắc tên các ca khúc của Đỗ Nhuận rất quen biết với nhiều người: Du kích sông Thao, Bài ca du kích, Hành quân xa, Chiến thắng Điện Biên, Vui mở đường và Việt Nam quê hương tôi. Đỗ Nhuận sinh năm 1922 tại Hải Dương. Tổng thư ký đầu tiên của Hội Nhạc sĩ Việt Nam (đã mất).

18

Lên ngàn mát lá xanh che
Có anh chiến sỹ lắng nghe nhạc rừng
Giữa vui lòng bỗng rưng rưng
Nghe giông bão nổi giữa chừng bài ca

» Xem/Đóng đáp án

HOÀNG VIỆT
Hai câu đầu nhắc các nhạc phẩm: Lên ngàn, Lá xanh, Nhạc rừng. Hai câu thơ cuối nhắc nhạc phẩm:Tình ca (…Khi cất lên tiếng ca gửi về người yêu quê xa / Ta át tiếng gió mưa thét gào cuộn dâng phong ba…). Câu này cũng muốn nói Hoàng Việt đã hy sinh đúng lúc tài năng đang độ chín gây nhiều thương tiếc cho người thân và người yêu nhạc. Hoàng Việt sinh năm 1928 tại Tiền Giang. Hy sinh ở chiến trường miền Nam năm 1967 (tên khai sinh là Lê Chí Trực)

19

Này thanh niên ơi, đứng lên đáp lời sông núi
Lên đàng hay xuống đường cũng vì giải phóng miền Nam
Tiến về Sài Gòn ta quét sạch quân cướp nước
Phía chân trời bình minh reo vang

» Xem/Đóng đáp án

LƯU HỮU PHƯỚC
Tiếng gọi thanh niên, Lên đàng, Xuống đường, Giải phóng miền Nam, Tiến về Sài Gòn, Bình minh reo vang là các nhạc phẩm nổi tiếng của Lưu Hữu Phước. Ông còn có các bút danh khác như Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Hồng Chí … Là một nhạc sỹ hàng đầu về thể loại hành khúc của Việt Nam. Sinh năm 1921 tại Cần Thơ (đã mất)

20

Huyền thoại mẹ hát bên đèn
Mưa rơi rơi, dáng mẹ hiền nghiêng che
Trái tim lớp lớp người nghe
Mãi còn một cõi đi về thong dong
Tay trong tay nối lớn vòng…

» Xem/Đóng đáp án

TRỊNH CÔNG SƠN
Hai câu thơ đầu nhắc một bài hát nổi tiếng của Trịnh Công Sơn là Huyền thoại mẹ và một vài chi tiết về lời ca. Hai câu tiếp được các bạn dự thi giải thích theo hai hướng :1. Những bài hát của Trịnh Công Sơn, trong đó có bài Một cõi đi về, sẽ mãi mãi còn sống trong trái tim những người yêu nhạc của ông. 2. Trịnh Công Sơn sẽ còn được bạn yêu nhạc nhớ mãi và trái tim họ chính là cõi đi về của ông. Câu cuối nhắc ca khúc Nối vòng tay lớn. Trịnh Công Sơn sinh năm 1939 tại Đaclak (quê ở Huế), mất năm 2001 tại TP. Hồ Chí Minh.

21

Xuân chiến khu đã đẹp rồi
Xuân thành phố đẹp gấp mười lần hơn
Chim ơi, đừng hót để… hôn!
Hoa xuân mãi mãi sẽ còn hồng tươi.

» Xem/Đóng đáp án

XUÂN HỒNG
Câu 1 nhắc bài hát Xuân chiến khu, câu 2 nhắc bài hát Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh (Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh là mùa xuân đẹp nhất quê mình). Câu 3 nhắc bài hát Mùa xuân bên cửa sổ: Cao cao bên cửa sổ có hai người hôn nhau / … / Chim ơi đừng bay nhé, hoa ơi hãy tỏa hương / … / Cho đôi bạn trẻ đón xuân về…. Câu cuối muốn nhắc tên nhạc sĩ Xuân Hồng. Tên khai sinh là Nguyễn Xuân Hồng, sinh năm 1928 tại Tây Ninh (đã mất)

Chia sẻ bài này:

Vài cảm nhận về thể loại câu đố dân gian Việt Nam 5/5 (1)

Phần 0a

Trong một thời gian dài trước đây, các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam hầu như không chú ý đến thể loại câu đố. Điều đó có thể có hai nguyên nhân:

– Nguyên nhân chủ quan từ phía bản thân câu đố: Câu đố thường được sử dụng trong các sinh hoạt của nhân dân lao động. Đa phần lại được ứng tác tại chỗ. Người ứng tác cũng không có ý định ghi lại để lưu danh. Vì vậy, tất nhiên chất lượng nghệ thuật của nó phần nhiều là chưa đạt được tới mức tinh khéo.

Đứng trước thực tế đó, những người sưu tầm và nghiên cứu có thể có hai cách ứng xử: Một số coi thường tất cả. Cách ứng xử đó đương nhiên là có hại đến việc duy trì và phát huy thể loại này. Một số khác lại quá coi trọng tính đầy đủ và tính nguyên gốc “dân gian” của nó nên sưu tầm tất cả thượng vàng hạ cám. Có nhiều câu quá ngô nghê vớ vẩn cũng ghi chép lại. Việc đó cũng làm cho người thưởng thức câu đố chán nản, còn người nghiên cứu cũng chẳng được lợi ích gì ngoài việc muốn kết luận rằng: “Câu đố là thể loại văn học dở như thế đấy!”. Tỷ dụ như đố về nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu:

Quyết tâm rửa sạch quân thù
Ô hô cặp mắt công phu lỡ làng

Hay câu đố:

Biết rằng nàng đã đổi lòng
Cớ sao anh vẫn đèo bòng nâng niu

Và trả lời là Khổng – Minh tức là không rõ ràng (!). Những câu như vậy không thể có cách gì tìm thấy một chút nghệ thuật. Cụ Nguyễn hay ông Khổng sống lại chắc cũng phải đỏ mặt vì giận. Hay câu đố:

Em ngồi trên mũi ghe lê
Chớ chi anh đặng ngồi kề một bên

Và trả lời là “bánh ướt” với lý giải: câu 2 biểu thị một điều ước mà ước với ướt chỉ là một (!?). Đúng là muốn nói gì thì nói! Sướng thật! Nếu không có lời giải của người đố, không ai có thể trả lời được dù kiến thức có uyên thâm và hiểu biết thực tế có rộng rãi đến mực nào. Thậm chí người càng hiểu biết nhiều càng chịu chết! Thế mà có nhà sưu tầm đã ghi chép được cả ngàn câu đố đại loại như vậy. Đúng là “yêu nhau mà lại bằng mười phụ nhau!”. Bằng ấy câu đố dở được ghi lại là một bằng chứng xác đáng để gạt bỏ câu đố ra ngoài văn học còn gì!

Lẽ ra, theo ý chúng tôi, cần có sự lựa ra những câu đạt chất lượng tới một mức nào đó, ngoài ra cũng nên bỏ công “nhuận sắc” thêm khi cần thiết. Đâu phải vì tôn trọng tính “dân gian” mà phải tôn trọng cả những sự ngô nghê, miễn là ta giữ được cái cốt lõi, cái đặc thù của câu đố đó. Thơ Bút Tre, thơ Hồ Xuân Hương… rất có thể có công đóng góp thêm của nhiều thế hệ. Thí dụ câu đố về chữ “ÁO”:

Còn sắc thì mặc cho sang
Mất sắc về làng thả rau, nuôi cá!

Ba bốn cuốn sách đều ghi như vậy. Câu thứ hai nếu viết lại: Mất sắc về làng nuôi cá, thả rau thì suôn hơn và đâu có mất gì nguyên gốc. Đấy chỉ là một ví dụ nhỏ.

0b

– Lý do thứ hai là lý do khách quan từ phía các nhà nghiên cứu và thưởng thức câu đố. Câu đố thường được viết dưới dạng những câu văn vần cho dễ nhớ, dễ truyền miệng cho nhau. Có thể vì vậy mà người ta nhầm với thể loại thơ và ca dao, từ đó cho rằng câu đố là loại thơ dở. Mà đã dở thì lưu truyền làm gì. Câu đố là câu đố! Câu đố quyết không phải là thơ dở! Cũng như cách ngôn không phải là thơ dở. Rất nhiều cách ngôn hay, có giá trị và những tác giả của nó thường là các văn hào, các triết gia lớn. Nhưng nếu đem tiêu chuẩn thơ để xét thì sẽ bị coi là thơ dở không chừng! Thơ cần có “từ”, có “tứ”, có “ý tại ngôn ngoại” v.v… Câu đố chính hiệu chỉ cần cung cấp những thông tin để chỉ ra tên của đối tượng được đố Xem Nguyễn Văn Trung “Câu đố dân gian Việt Nam” NXB TP. Hồ Chí Minh 1986. Với góc độ toán học có thể xem câu đố như một phương trình và nghiệm số của nó (nếu có) cũng không nhất thiết phải mang một ý nghĩa nào. Người sáng tác câu đố hoàn toàn không có ý định làm câu đố này để nịnh bợ ai hoặc làm câu đố kia để xỏ xiên một cá nhân nào đó! Sáng tác hay giải được câu đố cũng có cái khoái cảm như giải được một bài toán, hay nghĩ ra một thế cờ, hoặc phá được một thế cờ do người khác đề xuất. So sánh thơ với câu đố, chẳng khác nào so sánh nước mắm với bia hay rượu. Bia quyết không phải là nước mắm dở! Nước mắm quyết không phải là rượu loại tồi. Và cả bia hay rượu lẫn nước mắm, cái nào cũng cần cho đời sống. Chỉ trừ bia dở và nước mắm tồi thì không ai cần thôi. Tản Đà rất sành về rượu, nhưng ông cũng rất cầu kỳ trong việc chọn và pha chế nước mắm. Câu đố cũng có nhiều ngón nghề của nó. Ví dụ: trong khi cung cấp thông tin đồng thời cũng cung cấp nhiễu để gây rối, để đánh lạc hướng người giải đố. Giống như chuyện cười Việt Nam kể rằng:

Một chú bé rất hay nói láo. Một hôm chú ta bị đưa đi kiện. Quan xử kiện nói:

– Mày chỉ chuyên nói láo để lừa bịp người dốt nát. Có giỏi thì mày nói láo với ta đây. Nếu lừa được ta, thì ta tha tội và còn thưởng tiền cho nữa. Nếu không lừa được, thì ta sẽ cho mày tù mọt gông!

Chú bé vẻ sợ sệt, vừa thút thít khóc vừa nói:

– Thưa quan lớn, từ thuở bé đến giờ con có dám nói láo với ai đâu. Vốn là khi cha con mất đi có để lại cho con một cuốn sách ghi rất nhiều điều lạ. Trong đó có nói cả về những vị thuốc rất dễ kiếm để làm người già khỏi đau lưng, được tráng dương bổ thận… Con đem nói cho bà con. Bà con đã không cảm ơn, còn buộc tội cho con là…

Chú bé còn đang nói, thì quan đã ngắt lời

– Vậy mày hãy về đem cuốn sách ấy lại đây cho tao xem. Tao không lấy mất của mày đâu mà sợ! Nếu cần thì tao chỉ photo một bản thôi!

– Thưa quan lớn, con nói láo đấy chứ con đâu có cuốn sách đó!

Tưởng đâu đang thanh minh cho nỗi oan mà chính là đang nói láo!

Câu đố cũng vậy, đưa dữ liệu tưởng đâu rất vô lý nhưng lại rất đầy đủ để chỉ ra vật.

Người giải đố bị cuốn hút bởi tính tò mò mà dễ bị đánh lạc hướng. Nhưng khi câu đố được giải ra thì không còn thấy gì là vô lý cả. Quả là các thông tin để xác định vật đố đều đã cho đầy đủ…

Nói khác đi, câu đố cũng có những đặc trưng nghệ thuật riêng. Vì vậy số lượng câu đố hay được lưu truyền trong dân gian cũng không phải ít. Mỗi người dân ít nhiều cũng thuộc dăm bẩy câu. Nếu không hay làm sao có thể nhớ và có thể truyền nhau được. Không chỉ có những người dân lao động ít gắn bó với văn học nghệ thuật mới thấy hay. Nhiều câu hay đến mức các nhà thơ có tên tuổi cũng phải học tập. Tỷ dụ như trong bài thơ Bàn chân của nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết cho thiếu nhi:

Canh cho giấc ngủ say dần
Khi ta nằm ngủ, bàn chân lại ngồi!

Chẳng phải đã có nguồn gốc từ câu đố: Đi thì nằm, nằm thì ngồi đó sao? Nhưng đó mới chỉ là thơ cho thiếu nhi. Trong bài thơ trữ tình được xếp loại xuất sắc, được đưa vào giáo khoa văn học là Tre Việt Nam của nhà thơ Nguyễn Duy có câu:

Lưng trần phơi nắng phơi sương
Có manh áo cộc, tre nhường cho con.

Đọc lên ai chả thấy cái gốc của nó là câu đố Con đóng khố – Bố cởi truồng! Cặp lục bát trên và sáu chữ của câu đố ai dám quả quyết đằng nào là hay hơn?

1

Trong bài viết này, chúng tôi thử đưa ra một số ưu điểm về mặt nghệ thuật của câu đố dân gian Việt Nam. Những ý kiến được trình bày chỉ là những cảm nhận chủ quan của một độc giả yêu câu đố, chứ không phải của một nhà nghiên cứu phê bình văn học dân gian, nên có thể có nhiều chỗ còn bất cập! Rất mong được các bạn xa gần chỉ cho những thiếu sót. Chúng tôi sẵn lòng học hỏi. Theo ý chúng tôi, câu đố dân gian Việt Nam đã thể hiện được một số ưu điểm trong các vấn đề sau:

1. Nghệ thuật quan sát và so sánh

Những người sáng tác câu đố thường là rất gần gũi, thân thuộc với những đối tượng đem ra đố, nên đã thể hiện một sự quan sát, phát hiện những nét rất điển hình và so sánh thật chính xác. Ví như các câu đố về một số loại cây trái:

Da cóc mà bọc trứng gà
Bổ ra thơm nức cả nhà muốn ăn.
(Quả mít)

Da cóc mà bọc bột lọc
Bột lọc mà bọc hòn son.
(Quả vải)

Da cóc mà bọc bột lọc
Bột lọc mà bọc hòn than.
(Quả nhãn)

Đọc câu đố lên ta cảm như sờ được thấy vật, nhìn được thấy màu sắc và ngửi thấy hương thơm. Mới đọc thôi mà đã thèm, thấy ứa nuớc dãi trong miệng.

Vừa bằng cái bát
San sát giữa đồng. (Vết chân trâu)

Hay như:

Trong trắng ngoài xanh
Đóng đanh từng khúc
(Cây tre)

Hoặc như:

Chân vịt, thịt gà
Da trâu, đầu rắn. (Con ba ba)

Quả là tài tình. Sự so sánh chuẩn xác đến trăm phần trăm. Không phải là người thường xuyên tiếp xúc và thực sự gắn bó với vật đố và vật đuợc so sánh, thì không thể mô tả như vậy được. Tôi nhớ có lần một em học sinh đã tả con heo của nhà mình: “Nhà em có nuôi một con heo. Nó to bằng cái cánh cửa!” Nếu em đó thuộc câu đố về tàu lá chuối:

Vừa bằng cánh cửa
Để ngửa giữa trời

chắc chắn em học sinh đó sẽ nhận ra sự khấp khểnh trong cách so sánh của mình.
Đặc biệt khi nhìn các con vật, các nhà sáng tác câu đố không chỉ chú ý quan sát hình dáng bất động bề ngoài, mà còn cả trong các hoạt động của chúng. Thí dụ: Bình thường, những con vật có cánh khi bay thì vỗ cánh, khi lượn thì dang thẳng cánh, còn khi đậu thì xếp cánh lại. Nhưng ở con chuồn chuồn thì sao?

Con gì cánh mỏng đuôi dài
Đậu, bay cánh vẫn dương hoài như nhau.

Rất có thể nhà thơ Phạm Hổ đã đọc câu đố này mà nảy ra ý để sáng tác bài thơ về con chuồn chuồn, một cái máy bay nhỏ xíu dễ thương mà cái sân bay chỉ là một… lá lúa:

Máy bay gì bé tẹo
Nhìn kỹ, thật đáng yêu
Cánh mỏng hơn cả lụa
Bay không một tiếng kêu
Máy bay này mình xanh
Máy bay kia mình đỏ
Bay thấp rồi bay cao
Sân bay: một lá lúa!

Cách quan sát đó ta cũng gặp trong câu đố về cóc nhái: Đi ngồi, đứng ngồi, nằm cũng ngồi!
Sự quan sát đôi khi còn đi sâu vào tính tình con vật, như trường hợp đố về con chó:

Nghe kêu mà chả thấy ơi
Cong lưng mà chạy một hơi về nhà

Thật tội nghiệp! Đúng như một đứa trẻ chất phác, ngoan ngoãn, biết phục tùng. Ta cũng gặp sự quan sát này trong câu đố về con gà ác:

Da thịt như than
Áo choàng như tuyết
Giúp người bồi khí huyết
Mà tên gọi…hơi oan!

Những thí dụ về sự quan sát và so sánh lột tả ngay những nét điển hình nhất không thể lẫn giữa vật này với vật kia kể ra không thể hết. Bởi vì gần như ở bất cứ câu đố nào cũng biểu hiện ra điều đó.

2

2. Nghệ thuật tưởng tượng và liên tưởng

Cây cao ngàn trượng
Hạt nhỏ li ti
Nấu ăn được, nướng vất đi.
(Mưa)

Chỉ từ chỗ nuớc mưa thường tạo thành giọt nhỏ như hạt, mà tưởng tượng thành một cái cây cao ngàn trượng cũng tài lắm chứ!

Từ cái bào của người thợ mộc có hai cái tay cầm, mà hình dung ra con vật có hai sừng. Và lạ lùng làm sao: con vật này lại ăn đằng bụng và ỉa đằng lưng chứ không như con vật bình thường:

Ăn đằng bụng
Ỉa đằng lưng
Hễ mó đến sừng
Thì vãi cứt ra.

Cũng như sự quan sát và so sánh, tưởng tượng và liên tưởng là nét biểu hiện rất phổ biến ở các câu đố. Nó gây sự tò mò, gây khó khăn phức tạp cho người giải câu đố. Và khi giải ra được, hoặc khi nghe lời giải của người đố, sẽ có được rất nhiều khoái cảm thẩm mỹ.

Nhìn con trâu mà tưởng tượng ra cả một tổ hợp sản xuất nông nghiệp:

Bốn ông đập đất
Một ông phất cờ
Một ông vơ cỏ
Một ông bỏ phân.

Tài lắm chứ! Lạ lắm chứ! Lạ nhất là cái “ông bỏ phân” vì có nhìn thấy ông ấy đâu. Nhưng ông ấy có bỏ phân kia mà. Bỏ phân là việc quan trọng trong sản xuất nông nghiệp. “Nhất nước, nhì phân” mà lị. À mà lẽ ra phải kể thêm một ông tưới nước nữa kia đấy!

Tất nhiên ở đây, ngoài trí tưởng tượng phong phú, ta còn thấy tấm lòng yêu thương của người nông dân với con trâu – đầu cơ nghiệp của mình. Nếu không, họ có thể liên hệ đến một toán cướp chẳng hạn mà bảo: Bốn thằng phá tàn / Một thằng ăn hại / Một đứa quất roi / Một đứa ỉa bậy cũng được vậy!

Nhìn con vật tưởng tượng ra một tổ hợp sản xuất đã tài. Nhưng từ con vật tưởng tượng ra cả một làng xã với những hội hè đình đám sôi nổi thì còn tài hơn. Đó là trường hợp đố về con chó:

Đầu làng gõ mõ
Cuối làng phất cờ
Trống đánh lớn đến đâu
Cờ phất cao đến đó.

(Nhân bàn câu đố về con chó, làm tôi sực nhớ vừa rồi, về quê ở Thái Bình, tôi có ghé thăm các thân bằng văn hữu ở thị xã. Trong một tiệc rượu thân mật gồm khá đông người như Đức Hậu (nhà văn, chủ tịch hội Văn nghệ Thái Bình), Kim Chuông (nhà thơ), Đặng Chấn (giám đốc sở Giao thông), Đặng Tài (Giám đốc sở Công nghiệp), Lại Tây Dương (nhà văn), nhà thơ Trọng Khánh (thầy giáo dạy hóa có tiếng ở trường chuyên Thái Bình)…, nhà văn Thiếu Văn Sơn (chủ tịch Hội nhà báo) có ra một câu đố:

Cái dùi sơn đỏ
Cái mõ sơn hôi
Rúc lên một hồi
Kéo ra ba gian hai chái
Là cái gì?

Tất nhiên là chẳng ai đoán được và Thiếu Văn Sơn phải giải đố: Đó là hai con chó dính lẹo, quay đít vào nhau.

Tôi tâm đắc về câu đố này: “Nhà ba gian, hai chái, tám cột. Khá. Khá nhất là hai cái chái. Nhưng cái gian giữa có vẻ hơi bị hẹp”. Thiếu Văn Sơn tặc lưỡi: “Thì cứ xem đó là gian cầu thang hay gian làm cầu tiêu nhà tắm!”. Tất cả đều đồng thanh: “Có lý đấy!”)

Nhìn khuôn mặt người mà tưởng tượng ra phố xá với các đường đi lối lại, cống thoát nước và các hàng quán của nó:

Đường ngang thông thống
Hai cống hai bên
Trên hàng gương
Dưới hàng lược.

Nhìn con gà mái giữ con mà tưởng tượng ra doanh trại che ba quân thiên hạ:

Hai cột, một kèo, treo hai tấm tranh
Ba quân thiên hạ núp mình cũng dư.

Với người bình thường thì cái gối để gối đầu chỉ là vật vô tri vô giác. Nhưng trước con mắt của các nhà sáng tác câu đố giàu trí tưởng tượng , nó trở thành một nhân vật siêu phàm có sức mạnh chiến thắng bất cứ đối tượng nào:

Vừa bằng cái trống tầm vông
Đánh ngã đàn ông
Đánh ngã đàn bà
Đánh ngã thanh hoa
Đánh ngã kẻ chợ
Đánh ngã vợ vua

Mà việc sử dụng từ ngữ ở đây cũng đáo để lắm. Tất cả sự thần kỳ có được chỉ nhờ có một từ “đánh ngã”

Hoặc như:

Xin lửa ông táo
Đốt đầu ông sư
Sấm động ù ù
Rồng bay phấp phới.

Hút thuốc lào là chuyện vặt vãnh mà tưởng tượng ra, liên tưởng đến những việc to lớn như vậy thật giỏi và thường hay thấy trong câu đố. Đọc câu đố:

Ba bà đi chợ Cầu Nôm
Bà đi sau rốt luôn mồm: nhanh lên!
Bà đi trước thì thiếu hàm trên
Bà đi giữa thì thiếu hàm dưới
Chỉ bà đi cuối đủ nguyên hai hàm!

Quả cũng khó biết đó là cái gì. Khi đọc lời giải mới biết đó là người đi bừa ruộng bằng một con trâu. Sự tưởng tượng và liên tưởng ở đây dẫn đến những điều rất thú vị. Các sự vật không được kết nối với nhau trong công việc chung là lao động sản xuất, mà lại kết nối bằng những hàm răng đủ kiểu khác nhau: Con trâu chỉ có hàm răng dưới, cái bừa chỉ có hàm răng trên, còn người đi bừa thì có cả hai hàm. Người nông dân trong lúc lao động, nghĩ đến những chi tiết hóm hỉnh của câu đố, chắc cũng phải bật cười mà quên đi phần nào sự vất vả nhọc nhằn của công việc.

Đương nhiên, những câu đố có sức tưởng tượng và liên tưởng kì diệu này, người ra câu đố thường trước đó cũng đã bị bí khi được một người nào đó đố mình, khi nghe lời giải thấy hay quá rồi lại đem đố người khác.Việc đó giống như một thầy giáo toán đọc một đề toán ở một cuốn sách nào đó, nghĩ mãi không giải được liền lật phần cuối cuốn sách để xem lời giải. Đọc lời giải thấy thích quá, liền lấy làm đề thi cho học sinh rồi cứ chê học sinh là dốt. Dễ thế mà không làm được!

3

3. Sự đa dạng, sự biến hóa kỳ diệu của thiên nhiên

Trên trời có một cái bông
Mưa sa thì héo, nắng hồng thì tươi.
(Mặt trời)

Ví mặt trời với bông hoa là đạt. Hơn nữa, sự thay đổi ngược hẳn với những bông hoa bình thường là một phát hiện hay

Đêm thì mẹ mẹ con con
Ngày thì chết hết chẳng còn một ai
Còn một ông lão vãng lai
Nhăn nhăn nhó nhó, chẳng ai thèm nhìn.
(Bầu trời)

Đi đến chỗ nào
Ào ào chỗ ấy
Tai thì nghe thấy
Mắt nhìn thì không.
(Giông gió)

Chẳng ai biết mặt ra sao
Chỉ nghe tiếng thét trên cao ầm ầm.
(Sấm sét)

Khi trắng bạch, lúc đen sì
Khi vàng, khi đỏ, khi thì thấp cao
Gặp cơn gió thổi ào ào
Kéo nhau trốn chạy khác nào ngựa truy
(Mây)

Xanh xanh đỏ đỏ vàng vàng
Bắc cầu thiên lý, nằm ngang lưng trời.
(Cầu vồng)

Nói chung tất cả các hiện tượng và sự vật của thiên nhiên cùng với sự vận động đổi thay về màu sắc, hình dáng, tính chất… đều được các nhà sáng tác câu đố dân gian đề cập đến. Thậm chí một hiện tượng, một sự vật có tới nhiều câu đố và nếu tìm kỹ, bao giờ chúng ta cũng chọn ra được những câu đố thú vị với những phát hiện và so sánh không kém vẻ nên thơ và bất ngờ.

Chỉ từ một cây rau dại như cây rau sam mọc ở vườn, mà cũng óng ánh năm màu sắc:

Lá xanh, cành tím, hoa vàng
Hạt đen, rễ trắng đố chàng biết chi.

Từ con muỗi bé xíu mà cũng bộc lộ sự biến hóa kỳ lạ của thiên nhiên:

Nhỏ là loài cá
Lớn hóa loài chim…

Từ cái hoa chuối mới ra đến quả chuối chín là cả một quá trình biến đổi từ hình dáng đến màu sắc thật kỳ diệu, được diễn tả bằng ngôn ngữ tự nhiên, vui nhộn:

Đỏ loen loét
Toét loe loe
Xanh lè lè
Vàng rười rượi

Hay như: Hoa vàng mà kết quả xanh / Quả xanh, ruột trắng lại sinh hạt vàng (Quả bí đao); Trong nạc ngoài xương / Biến hóa vô thường / Trong xương ngoài nạc (Quả bòng); Để nguyên thì đỏ / Trổ lên thì xanh / Banh ra thì trắng (Củ hành); Sống hôi sì sì,chết thơm phưng phức (Củ hành). Và đời một con người được mô tả mới sinh động làm sao:

Lúc trời tảng sáng
Đi bằng bốn chân
Giữa trưa đứng bóng
Đi bằng hai chân
Nhá nhem chạng vạng
Đi bằng ba chân
Tối đêm buồn thảm
Đi bằng tám chân

4

4. Nghệ thuật chơi chữ

Chơi chữ là một trong những biện pháp được sử dụng khá tài tình trong khá nhiều câu đố. Lợi dụng tính đồng âm khác nghĩa của các từ tiếng Việt, đưa đến những hiệu quả hết sức bất ngờ.

Con gì càng lớn càng nhỏ?

Lần đầu nghe câu đố này, chắc chắn chúng ta phải lúng túng và bị kích động tính tò mò. Và sẽ rất thú vị khi được nghe lời giải: đó là con cua! Con cua bao giờ cũng có hai cái càng to nhỏ khác nhau.

Hay khi nghe câu đố:

Sù sì như con chó thui
Chín mắt chín mũi chín đuôi chín đầu.
Là con gì?

Chúng ta cứ ngỡ đó là con quái vật có tới 9 mắt, 9 mũi, 9 đuôi, 9 đầu. Nhưng câu đố lại thuộc loại “vừa đố vừa giảng”. Nó chính là con chó thui và các bộ phận của nó đều bị lửa làm chín. Cũng thú vị lắm chứ!

Hay đây nữa:

Con gì mình ở ngoài nước, đầu ở trong nước?

Thưa đó là con tôm xuất khẩu vì khi xuất khẩu ra nước ngoài, ta chỉ xuất khẩu phần thân. “Nước” ở đây là đất nước chứ không phải chất lỏng H20.

Cũng như vậy: Càng chơi càng ra nhiều nước là chơi gì? Thưa, đó là chơi cờ! Nước ở đây chẳng phải H20, cũng chẳng phải đất nước mà là một “chiến lược” trong lý thuyết trò chơi.

Câu đố về con ốc chắc chắn nhiều người biết. Biết đã lâu mà vẫn thích thú: Mồm bò mà không phải mồm bò mà là mồm bò.

Ở đây chỉ lợi dụng có mỗi từ “bò” vừa có nghĩa là danh từ chỉ con bò (họ hàng với con trâu) vừa là động từ bò (cùng nhóm với “đi”, “chạy”).

Ba thằng lùn đi trước thằng lùn. Ba thằng lùn tất nhiên cũng lùn. Hỏi tất cả có mấy thằng lùn. Câu trả lời là hai thằng lùn. Ở đây “ba” không phải là số 3 mà là “bố”.

Việc chơi chữ có khi được sử dụng cả trong câu đố lẫn trong lời giải đáp; như trong trường hợp câu đố của Thanh Tịnh:

Yêu nhau cởi áo cho nhau
Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay
Là con gì? Đó là “Con lừa mẹ”

Người ta cũng không chỉ chơi một từ, mà có khi chơi cả một câu, một mệnh đề: Báo cáo đồng chí trâu bò mấy chân? Trả là lời là 18 chân!

Người ta cũng có thể chơi cả khái niệm như trong câu đố:

Làng nào trong thơ ca không có trẻ em?

Trả lời: Làng của chàng trai trong bài Núi Đôi: Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng. Ở đây người ra câu đố cố tình lầm lẫn các khái niệm: trẻ trung, trẻ em, ít tuổi.

Những câu đố sử dụng kỹ thuật này nhiều nhiều lắm. Học tập lối chơi chữ trong dân gian, chúng tôi cũng đưa ra những câu đố trên “Tài Hoa Trẻ”:

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui
Con cái ngoan ngoãn
Cho ăn năm roi.
(Gia đình trồng cây)

Trễ nải ở đây là buồng chuối to, từng nải trễ (trĩu) xuống, chứ không phải lề mề làm chậm công việc. Sai trái ở đây là cây nhiều trái chứ không phải làm việc sai, việc không đúng. Năm roi là một giống bưởi quý ở đồng bằng Nam Bộ chứ không phải đánh năm roi (vọt)

Hoặc:

Năm bảy tàu thì để không
Lấy thân đóng mảng qua sông không cầu
Có buồng nào ở được đâu
Cha con mưa nắng dãi dầu quanh năm.
(Cây chuối)

Ở đây tàu là tàu (lá) chuối chứ không phải tàu thuyền, buồng là buồng chuối chứ không phải buồng (phòng) để nghỉ.

Hay nữa:

Đứa thì lòng dạ sục sôi
Đứa thì gan ruột một đời giá băng
Cũng là việc nuớc lo toan
Mấy cuộc luận bàn mà vắng chúng tôi.
(Phích đá và phích nuớc sôi)

5

5. Đố mẹo, gài bẫy

Yếu tố gài bẫy được sử dụng cả trong việc chơi chữ, trong biểu tượng hai mặt kiểu Hồ Xuân Hương (phần 13 ở sau), trong việc tìm ra các mâu thuẫn, các nghịch lý (phần 6) nhưng cũng có những trường hợp tách biệt hẳn. Chẳng hạn câu đố:

Một tạ chì và một tạ bấc. Bên nào nặng hơn?

Do chỗ ta hay nói “nặng như chì”, “nhẹ như bấc” (Truyện Kiều có câu Nhẹ như bấc, nặng như chì / Gỡ cho ra nợ còn gì là duyên ) mà ta có thể vội vã trả lời tạ chì nặng hơn. Nhưng cùng một tạ thì sao còn nặng nhẹ hơn được.

– Câu đố: trong hồ có một lá sen, cứ sau một giờ nó lại nở ra gấp đôi. Sau tám giờ diện tích của nó che kín mặt hồ. Nếu trong hồ có hai lá sen như vậy, thì sau mấy giờ diện tích hai lá sẽ che kín mặt hồ?

– Câu trả lời: Sau bảy giờ. Thật vậy: nếu trong hồ có một lá, thì sau một giờ nó đã lớn gấp đôi. Như vậy sau một giờ coi như trong hồ đã có hai lá. Câu này gài bẫy người ta: hai lá thì năng suất phải gấp đôi một lá, và ta sẽ trả lời là sau bốn giờ. Cách tính đó là tính theo cấp số cộng. Còn ở đây phải tính theo cấp số nhân.

– Câu đố: Luộc chín một quả trứng mất khoảng năm phút, thì luộc chín hai quả trứng mất mấy phút?

– Câu trả lời: Vẫn mất khoảng năm phút.

– Câu đố: Thằng gù khi ngủ thì sao?

Câu trả lời: “Khi ngủ nó nhắm mắt!”. Giả thiết gù lưng ở đây là thừa, đưa vào chỉ để gây khó khăn lúng túng cho người giải đố mà thôi.

– Câu đố: Ăn giò chả ngon, ăn đường mất ngọt là sao?. Câu này trả lời thế nào cũng bị sai vì “chả” vừa là món ăn, vừa có nghĩa phủ định: chả ngon = không ngon; chữ mất (tiếng địa phương, lẽ ra phải là mứt) vừa có nghĩa là món mứt (kẹo) vừa có nghĩa phủ định: không còn ngọt nữa.

– Câu đố: Con chó khi đái nó nhấc chân trước hay nhấc chân sau?

Câu này trả lời thế nào cũng bị coi là sai. Do chỗ các từ “trước” và “sau” là trạng từ chỉ hành động nhấc chân diễn ra trước hay sau một hành động khác là đái. Nhưng “trước” và “sau” cũng là tính từ chỉ chân phía đầu hay chân phía đuôi của con chó. Tất nhiên có thể trả lời chính xác: Trước khi đái, con chó nhấc một chân sau lên. Nhưng ai mà “cảnh giác” cao như vậy để khỏi sa bẫy!

Tôi nhớ trong một buổi họp tổ dân phố, trước khi vào nội dung họp, người ta cũng hay kể chuyện vui hay ra câu đố. Một bác trung niên đứng ở góc bàn lên tiếng:

– Tôi đố các bà các ông biết: giữa hai chân tôi là cái gì?

Ở dưới có tiếng rúc rích cười và nhiều tiếng to nhỏ khác nhau: “Đồ quỉ!”, “Quậy vừa thôi ông ơi!”, “Tục quá đấy!”.

– Sao lại tục? – bác trung niên chậm rãi – Giữa hai chân tôi là cái chân bàn đấy sao mà!

Mọi người cười ồ lên. Sau khi một số người khác kể chuyện và ra câu đố, bác trung niên lại nói:

– Không ai đố nữa à? Thế tôi lại đố nhá
– Đố đi! đố đi!… Nhiều tiếng giục
– Đố các bà các ông giữa hai chân tôi là cái gì?
– Gớm có mỗi câu cứ đố đi đố lại! Là cái chân bàn chứ là cái gì!
– Không phải! Là cái các ông bà cười lúc nãy kia!

Tất cả lại cười rộ!

Đố mẹo như vậy trả lời thế nào cũng bị sai.

Câu đố sau đây cũng thuộc dạng đó: Thầy giáo đố học sinh:

Đố các em biết bị kích thích trong bóng tối, cái gì nở ra nhiều nhất?

Các em học sinh nghe câu hỏi thì cười khì. Thầy giáo nói:

Bị kích thích trong bóng tối, con ngươi của các em nở ra nhiều nhất. Nở lớn gấp sáu lần. Còn cái các em cười khì khì thì nó nở nhiều nhất cũng chừng ba bốn lần là cùng thôi!

Về nghệ thuật đố mẹo, gài bẫy, có một câu chuyện vui: Một “nhà thông thái” đi trên tàu gặp một bác nông dân. Để giải khuây đường dài, “nhà thông thái” bàn với bác nông dân chơi câu đố. Mỗi người ra một câu đố. Nếu bác nông dân không giải được thì phải mất cho “nhà thông thái” 1 ngàn đồng. Nếu nhà thông thái không giải được sẽ mất cho bác nông dân 10 ngàn đồng. Và cho bác nông dân đặt câu hỏi trước. Bác nông dân suy nghĩ một lát rồi đố:

– Đố con vật gì ở trong rừng ra nó đi bằng đầu, lúc đi vào rừng nó đi bằng lưng, ngửa bảy chân lên trời?

“Nhà thông thái” nghĩ mãi không giải được đành rút ví đưa cho bác nông dân 10 ngàn đồng. Sau đó nhà thông thái hỏi lại.

– Thế con vật ông vừa nói là con gì?

Người nông dân lặng lẽ rút 1 ngàn đồng ra đưa lại cho “nhà thông thái”

Câu đố mẹo đôi khi cũng cần phải có lời giải mẹo. Đó là trường hợp:

Đố:

Chàng khoe chàng lắm văn chương
Đố chàng biết cỏ bên đường bao cây?

Đáp:

Em về đếm cát bình hương
Bao nhiêu hạt, cỏ bên đường bấy nhiêu!

Cả người đố lẫn người giải đều thông minh ngang ngửa!

Học tập dân gian, trên “Tài Hoa Trẻ” chúng tôi cũng đã có lần ra câu đố:

Bốn chân đi guốc
Múa vuốt nhe nanh
Mày bơi dưới nước
Mày hót trên cành
Là con gì?

Câu trả lời là “con ma” có nghĩa là chả con gì như vậy. Nếu so sánh câu đố với một bài toán thì đây là bài toán vô nghiệm chứ không phải là bài toán không giải được.

6

6. Tạo ra mâu thuẫn giả

Phát hiện, tạo ra các nghịch lý giả cũng là nghệ thuật được áp dụng khá nhiều và khá thành công trong câu đố dân gian. Nó gây tò mò, kích thích tính hiếu kỳ của người chơi câu đố.

Đi đến đấy
Thấy ở đấy
Lấy được thì để lại đấy
Không lấy được thì mang nó về!

Cái gì mà lạ thế nhỉ? Lấy được thì để lại? Không lấy được lại mang nó về? Mang sao được? Nhưng khi có lời giải: Đó là việc dẫm phải gai. Lấy được ra thì ai mang về làm gì. Mà không lấy được thì đành phải mang nó về rồi tìm cách lấy ra sau chứ biết làm sao? Mọi chuyện thế là rõ ràng.

Theo lẽ bình thường, ở mọi con vật ngoài cùng là lông, rồi đến da, tiếp theo là thịt và cuối cùng là xương. Câu đố dân gian lại tìm ra rất nhiều điều tưởng như phi lý:

Bằng trang trái cà
Trong da ngoài thịt
(Mề gà)

Tồng phổng tồng phông
Trong lông ngoài thịt
(Lỗ mũi)

Vừa bằng hột lạc
Trong nạc ngoài xương
(Con ốc)

Hay bình thường đã gọi bằng ông thì phải nhiều tuổi rồi. Với lại người già phải nhiều tuổi hơn người trẻ. Đằng này:

Năm ông cùng ở một nhà
Tình huynh nghĩa đệ vào ra thuận hòa
Bốn ông tuổi đã lên ba
Một ông đã già lại mới lên hai
(Bàn tay năm ngón)

Hay như các câu:

Lưng đằng trước
Bụng đằng sau
Con mắt, cái đầu
Cách độ vài gang
(Cái bắp chân)

Đầu trọc long lóc
Tóc mọc bên trong
(Bóng điện)

Muốn to thì lấy bớt đi
(Cái hố)

Đứng thấp, ngồi cao
(Con chó)

Muốn nhanh chạy lại
(Đẩy thuyền)

Muốn dài cắt đi
(Bút chì)

Không vay mà trả
(Thuế)

Không vả mà sưng
(Cái mụn)

Không bưng mà kín
(Quả trứng)

đều thuộc loại tạo ra các mâu thuẫn giả tạo.

Để tạo ra mâu thuẫn giả, người ta cũng hay kết hợp với nghệ thuật chơi chữ, ví như

Chưa cất thì chưa thấy
Cất rồi mới thấy
(Nhà cửa, công trình)

Ở đây “cất” là xây dựng , dựng lên chứ không phải là cất giấu.

Hay như câu đố của chúng tôi ở trên:

Trễ nải cha mừng
Sai trái mẹ vui

Cũng là học cách chơi chữ để tạo ra mâu thuẫn giả tạo vậy.

Tài quan sát và óc hài hước cũng giúp tạo ra những sự vật đầy mâu thuẫn như khi đố về cái kim khâu tay: Mình dài một tấc / Đuôi dài thước năm / Khi đi thì nằm / Khi ngồi thì đứng.

Để tạo ra mâu thuẫn giả, đôi khi tạo ra cả những đối tượng có vẻ cực kỳ phi lý, người ta còn áp dụng cả thủ pháp kết hợp nhiều đối tượng lại. Ví dụ như câu đố:

Bốn chân đạp đất tứ tung
Hai chân lưng chừng
B… ở bụng
L… ở lưng
Là con gì?

Chưa nghe lời giải, kể cũng khó đoán được. Đó chính là con trâu đực có người đàn bà cưỡi.

Ở trên là kết hợp hai đối tượng thực. Để khó đoán hơn nữa, người ta còn kết hợp đối tượng thực với đối tượng ảo. Chẳng hạn như câu đố:

Hai chân nhìn thấy, bốn chân không
Đàn bà mắng đuổi, đàn ông lén tìm
Là con gì?

Câu trả lời khá bất ngờ: là con đĩ ngựa!

7

7. Nghệ thuật nói lái

Khi đi cưa ngọn, khi về cũng cưa ngọn
(Con ngựa)

Đục rồi cất, cất rồi đục
(Cục đất)

Cách nói lái này thường hay dùng trong các câu “vừa đố vừa giảng” mà đôi lúc vẫn gây lúng túng cho người chưa quen.

Vừa bằng cái đấu
Mà giấu bụi tre
Kiển tố vừa đố vừa giảng
(Tổ kiến)

Cũng có thể kể thêm một vài câu đố loại này:

Bằng ngón chân cái mà chai cứng
(Ngón chân cái)

Bằng cán rựa mà cựa ráng
(Cán rựa)

Bằng ngón tay mà ngáy ton ton
(Ngón tay)

(Ba câu đố sau này, tiến sỹ Lê Trung Hoa cho là không phải vừa đố vừa giảng mà là đố về cái “của quý” của phái nam)

Cách nói lái như các câu đố ở trên còn đơn giản, một tầng, dễ giải. Và trong nhiều câu đố còn quá dễ dãi như “Khoan lai” là “Khoai lang” hay câu đố:

Chiếc xuồng trong ngọn bơi ra
Là xuồng cụt mũi người ta còn dùng

Rồi trả lời là củi mục (nói lái của cụt – mũi) thực ra là gượng ép, không chuẩn xác.

Còn có nhiều câu đố nói lái hai ba lần phức tạp hơn nhiều, như trong truyện Trạng Quỳnh kể rằng: có lần sứ giả bên Tầu đưa sang một vật gói kỹ và để ngoài hai chữ “Đại Phong” để đố vua quan nước Việt. Trạng Quỳnh đã “phân tích” để tìm lời giải như sau: “Đại-phong” là gió to. Gió to thì đổ chùa. Đổ chùa thì tượng-lo. Tượng-lo là lọ-tương”.

Kiểu nói lái nhiều lần như vậy có lẽ thịnh hành ở đồng bằng Nam Bộ. Hồi mới giải phóng Miền Nam, có lần đi chơi cùng một người bạn Nam Bộ về Lái Thiêu, thấy người ta vứt bừa bãi rác rưởi, vỏ trái cây, xơ mít…ở bờ sông, tôi tỏ ra khó chịu. Thấy tôi phàn nàn, anh bạn cười: “Chính vì vậy mà trước kia, ở đây người ta hay có những biển cấm “Quitxơmăng – bông sên” đố cậu biết là gì đấy?”. Tôi cứ nghĩ Miền Nam có sự bang giao với phương Tây nhiều nên đây hẳn là một câu tiếng Tây nào đó và vận dụng mọi khả năng ngoại ngữ để suy đoán. Mãi sau anh bạn mới cười và bảo: Quitxơmăng là quăng xơ mít chứ có gì đâu! Liền đó, anh lại đố tôi: “đố cậu biết vì sao mùa hè mọi người đều thích đánh chuông?”. Tôi cứ nghĩ nói đến chuông là nói đến chùa, đến Phật. Chắc có lẽ vì giữa mùa hè có lễ Phật đản (mồng tám tháng tư âm lịch), …Nhưng anh cười lớn và giảng giải: “Đánh – chuông là đập-chuông. Đập-chuông là đuông-chập. Đuông- chập là đâm-chuột. Đâm-chuột là đâm-tí. Đâm-tí là đi tắm. Mùa hè ai mà không thích đi tắm, nhất là đi tắm biển.

Tôi cũng đã được nghe trong một bữa nhậu, cũng là khi mới từ Bắc vào Nam công tác, một ông bạn già người Nam Bộ nêu câu đố:

-Tại sao người ta hay nói “đàn ông thích đông zui?”

Một bạn trẻ liền nhanh nhẩu:

– Còn gì nữa. Đàn ông ai chả thích có nhiều bạn để bù khú. “Trà tam tửu tứ”, “Rượu ngon không có bạn hiền” mà lại.

Ông bạn già làm một hơi bia, đặt ly xuống rồi thủng thẳng:

– Nông cạn lắm chú em ơi! Nghe anh mày nói đây này: đông-zui là đui-zông. Đui-zông là mù-zó. Mù-zó là mò… Mò cái gì thì chú em biết chứ!

Tất cả bọn nam giới chúng tôi đều cười muốn sặc. Mấy bà thì vờ như không nghe rõ, nhưng thực ra đang cố nén cười. Một lát sau, ông bạn già lại tiếp:

– Thế bây giờ đố các chú em: tại sao người ta nói phụ nữ thích nấu nướng?

– Còn gì nữa – lại chú em lúc nãy lên tiếng – phụ nữ là phải giỏi nữ công. “Công dung ngôn hạnh” mà lại. Phụ nữ giỏi là phải biết làm món nhậu cho chồng tiếp bạn bè, chứ không thì thành “vợ thằng Đậu” rồi còn gì!

– Lại nông cạn nữa rồi! – Ông bạn già lại thủng thẳng: Nấu-nướng nghĩa là đun-thui. Đun-thui nghĩa là đui-thun. Đui-thun nghĩa là mù-co. Mù-co nghĩa là …

Ở phía các bà nhiều người đang theo dõi và nhẩm theo lời ông bạn già: “mù-co nghĩa là …nghĩa là mò…”

– Hết chịu nổi cái nhà ông này.

Mấy bà cười phá lên. Thì ra mọi người đều bị hấp dẫn bởi câu đố lắt léo kiểu nói lái nhiều tầng kia.

Nhân nói đến nghệ thuật nói lái, làm tôi nhớ lại những câu đố khá vui (mà ngày nay đã trở nên khá phổ biến) là những câu đố xung quanh chữ Long. Ở thời phong kiến xa xưa, những gì có liên quan đến nhà vua, đều được gọi kèm theo chữ “long”. Ví như Long bào là áo của vua, Long sàng là giường của vua, Long thể là thân thể nhà vua…Cách gọi tên đó ngày nay trở thành buồn cười, thường được đem áp dụng với sự xuyên tạc để đùa tếu và từ đó xuất hiện các câu đố này.

Vào một buổi gặp gỡ của một số thân hữu đầy không khí chan hòa văn nghệ, tôi được nghe ông Hoàng Năng trình bày tới mười mấy câu đố. Tôi còn nhớ tới nay mấy câu:

Đố: Vua đi tham gia sản xuất gọi là Long gì?
Đáp: Long đạo (lao động), hoặc Long cao (lao công)

Đố: Vua đi chơi về khuya cửa bị đóng, gọi là Long gì?
Đáp: Long kẻo (leo cổng)

Đố: Vua bị Tào Tháo đuổi gọi là Long gì?
Đáp: Long phẩn (phân lỏng)

Đố: Vua đi cầy ruộng gọi là Long gì?
Đáp: Long đền (lên đồng)

Đố: Vua giữ con gọi là Long gì?
Đáp: Long bò (lo bồng)

Đố: Vua nhẩy đầm gọi là Long gì?
Đáp: Long mắc (lắc mông)

Đố: Vua không có khả năng sinh con gọi là Long gì?
Đáp: Long tỉnh (tinh lỏng)

Đố: Vua lấy người nước ngoài sinh ra thái tử gọi là Long gì?
Đáp: Long giái (lai giống) …

Với giọng kể hóm hỉnh kết hợp điệu bộ chân tay và vẻ mặt, ánh mắt…cộng với sự hưởng ứng đóng góp, phát hiện, nhầm lẫn…của tập thể bạn bè, lại được pha vào chút men bia rượu, cuộc vui thật là thỏa thuê hết nói.

8

8. Nhân hóa, sinh vật hóa

Nghệ thuật nhân hóa và sinh vật hóa luôn làm cho câu đố trở nên sinh động hấp dẫn, và cũng có tác dụng làm cho câu đố trở nên lắt léo, dễ dẫn người giải câu đố đến chỗ sai lầm.

Còn duyên đánh phấn phơi màu
Hết duyên má hóp, trụi đầu, răng long

Tả bắp ngô mà rõ ra con người với số phận đổi thay theo định mệnh

Quanh năm áo lông, giầy da
Bốn mùa mũ đỏ, rõ là tay chơi

Tả con gà trống đúng từng chi tiết mà lại rõ ra dáng cậu ấm con quan, công tử con nhà giàu

Có râu, có tóc, có răng vàng
Quần áo xênh xang ba bốn bộ
Vẫn còn nũng nịu mẹ bồng mang

Đó cũng là bắp ngô. Đã già có râu, còn có răng vàng nữa(!) mà vẫn đòi mẹ bế thì nực cười thật! Hay như khi đố về củ hành:

Ao nâu mỏng mảnh
Râu ngắn lơ phơ
Bề ngoài trông thật lờ đờ
Nhưng ai động đến, không ngờ lại hăng!

Từ áo quần, diện mạo đến tính tình được đặc tả rất điển hình, cách chơi chữ rất hóm. Mà lại rất là… củ hành!

Mặt mẹ rạng rỡ như hoa
Mặt cha nhăn nhó chẳng ma nào nhìn.
(Mặt trăng và mặt trời)

Mình bằng hạt gạo,
Cứt bằng hạt kê
Hỏi đi đâu về
Ông đi làm thợ mộc.
(Con mọt)

Năm thằng cầm hai cây sào
Đuổi đàn trâu trắng chui vào trong hang
(Và cơm)

Hai cô mà ở hai phòng
Ngày thời mở cửa ra trông
Đêm thì đóng cửa lấp chông ra ngoài.
(Hai con mắt)

Cô kia nho nhỏ, thế mà khôn
Đã từng ăn ở chốn công môn
Cơm ngon, canh ngọt từng được nếm
Trai hiền gái đẹp đã từng hôn
(Con ruồi)

Chiều chiều ra chơi vườn hạnh
Tối tối thơ thẩn vườn đào
Ghẹo nàng tiên trong giấc chiêm bao
Hôn thiếu nữ đang an giấc ngủ.
(Con muỗi)

Một người cao lớn trượng phu
Đóng bẩy cái khố, thò cu ra ngoài.
(Cây chuối có hoa)

Các câu đố ở trên nhờ có nghệ thuật nhân cách hóa mà trở nên sinh động thú vị hẳn lên. Những thí dụ về nhân cách hóa như vậy rất nhiều, không thể kể ra hết được.

Các vật vô tri vô giác không được biến thành người thì cũng biến thành các con vật, các loài cây. Ví dụ như:

Một đàn cò trắng phau phau
Ăn no tắm mát rủ nhau đi nằm
(Rổ bát đĩa)

Cây khô có rễ trên đầu
Sông sâu chẳng sợ, sợ cầu bắc ngang
(Cột buồm)

Cây bên ta
Lá bên ngô
Cái ngọn tầy bồ
Cái gốc tầy tăm.
(Cái diều)

Ở đây lại một lần nữa nghệ thuật quan sát – so sánh, tưởng tượng – liên tưởng cũng được đan xen áp dụng một cách tài tình.

9

9. Triết lý ngụ ngôn

Như trên đã nói, câu đố chính hiệu chỉ nhằm mục tiêu chỉ tên sự vật. Tuy vậy, rất nhiều câu đố do vô tình hay hữu ý của tác giả mà tính triết lý, ngụ ngôn cứ lộ ra một cách rất tự nhiên, như chúng ta thấy ở các câu đố rất cổ sau:

Không ăn thì đói
Ăn thì bị trói
(Cái bao bố)

Ai vui tôi cũng vui chung
Ai buồn tôi cũng buồn cùng với ai
(Cái gương soi)

Nắng lửa, mưa dầm tôi không bỏ bạn
Tối lửa tắt đèn sao bạn bỏ tôi
(Cái nón)

Bằng một bước mà bước không qua
(Cái bóng)

Ngả lưng cho thế gian nhờ
Vừa êm vừa ấm còn ngờ bất trung
(Cái phản)

Hai thằng có tội thì không
Một thằng không tội mang gông cho hai thằng
(Kiếng đau mắt)

Già già như đám mây xanh
Tàn vàng tán tía chạy quanh bốn bề
Còn duyên ong bướm đi về
Hết duyên dùi đục nằm kề một bên
(Giàn mướp)

Hôi tanh chẳng thú vị gì
Thế mà luôn được kẻ vì, người yêu
(Tiền)

Đi thì ăn trốc, ngồi trên
Về thì lấm lét đứng bên xó hè
(Cái nón)

Đem thân che gió cho người
Chẳng khen thì chớ, còn cười rằng ngu
(Cái giại, do chữ “giại” khi đọc dễ lẫn với chữ “dại” nên mới có câu đố này)

Cái gì như thể khí trời
Ngày đêm quanh quẩn như hơi thở mình
Không hương, không sắc, không hình
Cao, sâu núi thẳm, biển xanh khó bằng?
(Lòng cha mẹ)

Thảng hoặc ta thấy có những câu đố ý nghĩa sâu xa, có sự cấu tứ chặt chẽ như một bài thơ. Chúng tôi ngờ đây là các bài thơ của các nhà nho thâm thúy tả các vật, sau đó được dùng làm các câu đố, chứ không phải câu đố dân gian chính hiệu. Thí dụ như:

Một lũ ăn mày, một lũ quan
Quanh đi quẩn lại vẫn chung đoàn.
Đêm khuya gió lộng đèn vừa tắt
Hết cả ăn mày, hết cả quan
(Đèn kéo quân)

Hoặc như câu đố về cái cày:

Bộ tịch quan anh xấu lạ lùng
Khom lưng uốn gối cả đời cong
Lưỡi to bởi thế ăn ra phết
Cái kiếp chui lòn có thẹn không?

Sau này tìm hiểu thêm, chúng tôi đã biết được tác giả của một số bài đó như, câu đố về cái phản chính là bài thơ vịnh của Nguyễn Công Trứ để tự than thân. Câu đố về đèn kéo quân là của Nghè Tân (Nguyễn Quý Tân) …

Trong các câu đố đăng trên Tài Hoa Tre, chúng tôi cũng tập tành đưa vào các ý tứ ngoại suy để làm cho câu đố thêm hấp dẫn:

Vợ có răng, không lưỡi
Chồng có lưỡi, không răng
Chúng tôi ra đồng áng
Quý vị vào bàn ăn
(Cày-bừa nghĩ về dao-nĩa)

Mắt híp, bụng to thật có duyên
Chê cơm, chê cháo, chỉ xơi… tiền
Suốt ngày ngậm miệng sao mà mập
Ăn phía sau lưng, thế mới hiền!
(Heo đất)

Núp tôi họ né tránh trời
Dùng tôi qui chụp, khiến người thấm đau
Cần tôi họ đội lên đầu
Hết cần họ để tôi sầu cô đơn
(Cái mũ)

Ôm chân, liếm gót người
Dẫm đạp chẳng chừa nơi
Xưa trơn da, phổng mũi
Giờ há mõm, vều môi
(Giầy da há mõm)

10

10. Đố Kiều

Từ truyện Kiều, các tác giả dân gian đã khéo léo “tập” ra những câu thơ ghép thành những câu đố thật là thú vị. Chúng tôi xin dẫn ra một số câu làm thí du:

Cánh hồng bay bổng tuyệt vời
Đinh ninh hai miệng một lời song song

hoặc:

Vầng trăng vằng vặc giữa trời
Đinh ninh hai miệng một lời song song
(Diều sáo)

Tả cái diều mà ví với vừng trăng, với cánh hồng bay bổng đều là tuyệt diệu. Còn cái sáo diều thì sao? Cái nào cũng có hai miệng song song và mỗi loại sáo chỉ phát ra một tiếng kêu (một lời) tùy loại to nhỏ. Thí dụ sáo ro chỉ phát ra tiếng ro…ro…Sáo rô chỉ phát ra tiếng rô…rô…Người làm câu đố rất hiểu về diều sáo mà cũng rất thông tỏ truyện Kiều.

Vâng lời khuyên giải thấp cao
Bên tình bên hiếu, bên nào nặng hơn
(Cái cân)

Rõ là phải “cân” đi nhắc lại rồi nhé!
Trên vì nước, dưới vì nhà
Lòng này ai tỏ cho ta hỡi lòng
(Máng xối)

Máng xối mà không “vì nước” với “vì nhà” thì còn vì cái gì nữa!
Trót vì tay đã nhúng chàm
Cỏ pha mầu áo nhuộm lam da trời
(Thợ nhuộm)

Thợ nhuộm thì suốt ngày tay nhúng chàm, suốt ngày pha mầu với nhuộm là đương nhiên. Mà có lẽ người thợ nhuộm này đang hành nghề ở miền núi?

Tưởng bây giờ là bao giờ
Rõ ràng mở mắt còn ngờ chiêm bao
Trông ra nào thấy đâu nào
Mắt xanh chẳng để ai vào có không?

Rõ rành rành là “anh chàng thông manh” rồi nhé! Có thèm để ai vào mắt bao giờ!

Đố về cái nón mà dùng những câu Nắng mưa mấy độ rồi Ai ai cũng đội trên đầu thì tài tình thật:

Nắng mưa mấy độ đổi dời
Dẫu rằng sương trắng quê người quản đâu
Ai ai cũng đội trên đầu

Hóm hỉnh nhất là đố về cái quần hay cái váy của gái giang hồ:

Cởi ra rồi lại buộc vào
Vườn hồng đâu dám ngăn rào chim xanh
Cho hay là giống hữu tình
Đố ai gỡ mối tơ mành cho xong

Đúng là cởi ra buộc vào xoành xoạch. Và “vườn hồng” này chim cò ra vào thoải mái, chẳng ai mà ngăn rào được. Tơ mành thì cứ rối bòng bong, có mà trời gỡ!

Còn “đôi gò bồng đảo” của thiếu nữ thì sao?

Trong ngọc, trắng ngà, dầy dầy…
Trông càng đắm, ngắm càng say
Ở trong còn lắm điều hay
Chẳng duyên chi dễ vào tay ai cầm

Hấp dẫn lắm, quyến rũ lắm! Nhưng nếu không có duyên thì đừng có mà “cầm”!

Tuyệt vời nhất là câu đố về ngọn nến:

Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài
Mot mình âm ỉ canh chầy
Đoạn trường cho hết kiếp này mới thôi

Bị gò bó chỉ bởi những câu Kiều mà viết về ngọn nến như vậy, cứ đem so với những tuyệt tác sáng tác tự do, đâu có thua kém gì.

Ngoài các câu đố bằng cách “tập” các câu Kiều như ở trên, người ta còn có nhiều cách đố khác. Thí dụ:

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã lâu
Đố anh đọc được một câu hết Kiều
Đáp: Trăm năm trong cõi người ta
Mua vui cũng được một và trống canh

Đố: Truyện Kiều anh thuộc làu làu
Đố anh đọc được một câu năm người (*)
Đáp: Này chồng, này mẹ này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Cũng có nhiều người đề xuất câu đố dưới đây và đã gây ra nhiều tranh cãi vui vẻ, thú vị

Đố: Truyện Kiều Thiếp chửa thuộc làu
Cậy chàng giải hộ: một câu sáu người (* *)
Đáp: Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

và giải thích đáp án như sau: Chồng là Kim Trọng (1), mẹ là bà Viên Ngoại (1), cha là ông Viên Ngoại (1), em ruột là Thúy Vân và Vương Quan (2), còn em dâu? (1). Tổng số là 6 người. Nhưng em dâu là ai?

Chắc sẽ có người nói là vợ Vương Quan. Theo ý chúng tôi, trong cuộc hội ngộ đầu tiên này không có mặt nhân vật đó. Ta hãy đọc đoạn dưới, khi Thúy Kiều ra gặp lại gia đình:

Trông xem đủ mặt một nhà
Xuân già còn trẻ, huyên già còn tươi
Hai em phương trưởng hòa hai
Nọ chàng Kim đó là người ngày xưa!

Có nhắc gì đến ai nữa đâu? Nếu có một người khác nữa ở đấy, tinh tế, tế nhị như Thúy Kiều, chỉ cần liếc mắt một cái là đã biết ai rồi. Và chắc chắn nếu không chạy đến đầu tiên thì ít ra cũng là sau khi chạy lại cha mẹ. Đằng này lại phớt lờ đi thế ư?

Vậy theo chúng tôi, “em dâu” ở đây lại chính là Thúy Vân, vợ của Kim Trọng, nhưng mọi người trong gia đình đều thừa nhận là lấy sau Thúy Kiều. Thế mới là tế nhị. Bởi nếu chỉ giới thiệu Kim Trọng là “chồng” của Thúy Kiều thì Thúy Vân sẽ nghĩ gì vào lúc đó. Chính vì vậy mà dù “em ruột” có kể là hai (Thúy Vân và Vương Quan), hay chỉ kể là một (Vương Quan, vì Thúy Vân được giới thiệu ở sau là em dâu), thì rốt cuộc, trong văn bản ở câu Kiều cũng chỉ có năm người ở dạng hiển. Chính vì vậy mà trong cuốn “Từ lẩy Kiều, đố Kiều…” của Phạm Đan Quế (NXB Văn Học năm 2000, trang 20) chỉ thấy ghi câu đố (*)

Đố đáp ở (*) là hoàn toàn chính xác. Nhưng theo chúng tôi, đố đáp mà chính xác rõ ràng thế thì nhạt lắm. Có thể không chính xác lắm, chỉ cần một logic hình thức hết sức “chày cối” mà người ta phải chịu kia mới vui, mới hay. Giải trí mà lại! Riêng tôi, tôi vẫn thích câu đố (**) hơn. Theo chúng tôi, có nhiều cách giải thích câu đố này:

Cách 1:
– “Câu sáu người” phải hiểu là câu có nhắc đến sáu người.
– “Này chồng…em dâu” phải đọc là: Này chồng Thúy Kiều, …., này em dâu Thúy Kiều!
Như vậy rõ ràng là có sáu người được nhắc đến. Tức là phải kể thêm cả Thúy Kiều.

Cách 2:
– “Câu sáu người” hiểu là câu diễn ra giữa sáu người
– “Này chồng… em dâu” là câu chuyện giữa năm người và vãi Giác Duyên là sáu người cả thảy. Tức người thứ sáu phải kể thêm vãi Giác Duyên.

Các cách lý giải khác xin nhường cho bạn đọc yêu câu đố.

Đố theo (**) vui hơn vì nó có cái để mà bàn, có cái để mà sai (!) trong lúc chơi để cho vui. Và vì vậy có thể nêu câu đố

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã làu
Đố anh đọc được một câu bẩy người
Đáp: Này chồng, này mẹ, này cha
Này là em ruột, này là em dâu

Trong trường hợp này, “câu bảy người” phải hiểu là có liên quan đến bảy người và câu Kiều trong đáp án là câu diễn ra giữa sáu người để bàn bạc về Thúy Kiều, tức là có liên quan đến bày người.

Còn có một câu đố vô lý hơn nữa:

Đố: Truyện Kiều anh thuộc đã làu
Đố anh đọc được một câu tám người
Đáp: Vợ chàng quỷ quái tinh ma
Phen này kẻ cắp bà già gặp nhau

Ta thấy cả quỷ, ma… đều được đếm là “người”!

Một giai thoại kể rằng một ông đồ xứ Bắc đố ông đồ xứ Nghệ:

Truyện Kiều anh đã thuộc làu
Đố anh đọc được một câu… bốn con khỉ

Ông đồ Nghệ Tĩnh quê Nghi Lộc, đồng hương với Nguyễn Du, từng tự hào có thể đọc xuôi đọc ngược truyện Kiều mà nghĩ mãi không biết câu nào, đành chịu thua. Ông đồ xứ Bắc mới mở truyện Kiều ra và chỉ vào câu

Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày

Ông đồ xứ Nghệ dương mục kỉnh nhìn đi nhìn lại rồi nói: “Có con khỉ nào đâu?”. Ông đồ xứ Bắc giục “Thì ông cứ đọc to lên đi!” Vì giọng Nghi Lộc các thanh không và thanh bằng đều đọc ra thanh hỏi nên mọi chữ “khi” đều đọc thành “khỉ”. Ông đồ xứ Nghệ biết mình bị lỡm nhưng cũng rất thú vị khen bạn thạo Kiều mà lại thông minh hóm hỉnh.

Cũng còn một kiểu đố khác, “dân dã” hơn

Đố: Kiều mắc bệnh gì?
Đáp: Kiều mắc bệnh bạch tạng: Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da. Da mà trắng hơn tuyết thì bạch tạng là cái chắc!

Đố: Câu nào tả Kiều táo bón?
Đáp: Dùng dằng khi bước chân ra
Cực trăm ngàn nỗi, “rặn” ba bốn lần!

Ở đây chữ “dặn” được đọc trớ đi thành chữ “rặn”. Rặn ba bốn lần mà không được, tốt nhất là dùng thuốc xổ.

Đố: Kim Trọng bị táo bón ở đoạn nào?
Đáp: Khi tựa gối, khi cúi đầu
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày
Cũng nên dùng thuốc xổ đi thôi!

Đố: Kiều đi đái chỗ nào
Đáp: Kiều đái chết cỏ
Xè xè nắm đất bên đàng
Rầu rầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh

Đố: Kiều “dính bầu” chỗ nào?
Đáp: Thất kinh nàng chửa, biết là làm sao! (ở đây do di chuyển vị trí dấu phẩy nên nghĩa khác đi)

Đố: Kiều có khiếm khuyết gì về nhan sắc?
Đáp: Kiều bị sứt răng cho nên mới sợ hở môi ra những thẹn thùng

Cái dí dỏm ở câu này là Nguyễn Du thì dùng lối hoán dụ, một phương pháp mỹ từ: “hở môi” là thổ lộ, là nói ra. Thành ngữ cũng có câu là “không dám hé răng” vì khi nói, phải hở môi hay hé răng để phát âm. Người ra câu đố lại dùng nghĩa đen: Hở môi mà thẹn thùng thì ắt hẳn là sứt răng rồi.

Đố: Tại sao người ta nói Kiều từng làm nghề tráng gương?
Đáp: Mười lăm năm bấy nhiêu lần
Làm gương cho khách hồng trần thử soi

Đố: Kim Kiều có phải công nhân
Xưa kia từng đã góp phần đấu tranh?
Đáp: Kim Kiều chính cánh thợ ta
Đem tình cầm sắt đổi ra cầm kỳ

Ở đây đã sử dụng nghệ thuật chơi chữ: Theo Hán văn cầm là đàn cầm, sắt là đàn sắt, cùng là nhạc cụ gắn bó như vợ chồng . Cầm với kỳ (cờ) là các thú chơi “lân bang “ với nhau như bè bạn. Nên tình cầm sắt là tình vợ chồng, còn tình cầm kỳ là tình bè bạn. Nhưng trong câu đố này lại sử dụng nghĩa chữ Việt cầm là cầm nắm, sắt là các dụng cụ bằng sắt như cờ lê, mỏ lết, kìm, búa…

Đố: Kiều đau bụng ở chỗ nào?
Đáp: Kiều bị đau bụng, muốn “đi ngoài”, trời thì tối, cầu tiêu thì xa (kiểu cầu cá ở miền Tây), mà Kiều lại sợ ma:
Hở ra luống những thẹn thùng
Để lòng thì lại cực lòng lắm thay
Một mình lưỡng lự canh chày
Đường xa nghĩ nỗi sau này mà kinh!

Đố: Kim Trọng làm nghề gì?
Đáp: Kim Trọng tốt nghiệp sư phạm ra dạy mẫu giáo:
Đề huề lưng túi gió trăng
Sau lưng theo một vài thằng con con

(Học lực Kim Trọng hơi yếu, phải lưu ban nhiều năm, nên nhiều tuổi hơn Kiều mà lại học cùng Vương Quan) “Túi gió trăng” là túi thơ vì xưa kia thơ ca hay vịnh tả về trăng về gió. Bác Hồ có viết: Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp / Mây gió trăng hoa tuyết, núi sông… Trong câu giải đáp này “Túi gió trăng” là túi xách đựng sách học vần vỡ lòng vì trong đó có in nhiều thơ của Phạm Hổ, Định Hải, Trần Đăng Khoa…

Các câu đố Kiều như vậy đôi khi có vẻ nôm na, thậm chí tục tĩu, nhưng không hề làm giảm tình cảm của mọi người (đặc biệt là người lao động) đối với truyện Kiều và Nguyễn Du. Bởi lẽ, như một nhà văn nào đó đã nói đại ý: Chính những truyện cười về Anh-xtanh còn làm ông nổi tiếng hơn cả thuyết tương đối!

Có thể nói truyện Kiều là nguồn cung cấp vô tận các câu đố. Tất nhiên là để giải trí. Song đôi khi cũng có những phát hiện bổ ích. Tôi nhớ có lần nhà thơ Kim Chuông có đố: “Ai đa tình nhất trong truyện Kiều?” Mọi người còn dồn ý nghĩ về phía Thuý Kiều, Thúc Sinh, Từ Hải… , thì Kim Chuông đưa đáp án: “Đó là người khách viễn phương đã lo chôn cất Đạm Tiên”. Càng nghĩ càng thấy đúng. Điều lạ lùng là (theo Kim Chuông) đáp án ấy lại của một người phương Tây nghiên cứu truyện Kiều!

11

11. Nghệ thuật chiết tự

Từ một chữ viết, tách ra từng bộ phận sẽ tạo ra các nghĩa khác nhau. Câu đố kiểu này rất thịnh khi chữ Hán còn phổ biến. Ngay cả những người ít sành Hán học thường cũng từng thích thú câu đố về chữ Điền

Lưỡng nhật bình đầu nhật
Tứ sơn điên đảo sơn
Lưỡng vương tranh nhất quốc
Tứ khẩu tung hoành gian

Phát hiện thú vị nhất là trong truyện Kiều có một câu tả đúng chữ Tâm không cần phải chỉnh sửa một chút nào

Một vành trăng khuyết, ba sao giữa trời

Tài nhất, tình nhất là hai câu thơ dùng lối chiết tự để nói hiện tượng không chồng mà có con của nữ sĩ Xuân Hương

Xuân thiên chưa thấy nhô đầu dọc
Phận liễu sao đà nẩy nét ngang

Chữ Thiên (có một nghĩa là ngày) nhô một nét đầu lên là chữ Phu (nghĩa là chồng); chữ Liễu thêm một nét ngang thành chữ Tử (nghĩa là con). Có thể hiểu nghĩa nôm “Ngày xuân chưa đến liễu sao đã nẩy lộc”Tuy nhiên ngay cả các ngôn ngữ sử dụng mẫu tự La Tinh

chắc cũng không hiếm những chiết tự hay. Các thầy cô giáo dạy tiếng Pháp thường vẫn hay đố học sinh câu đố chiết tự về chữ cái A, chữ cái đầu bảng:

Je suis le chef de 24 gardiens de Paris
Paris sans moi est pris
(Tôi là “sếp” của 24 tên lính gác thành Pa-ri / Không có tôi, thành Pa-ri sẽ bị chiếm đóng)

Câu đố chiết tự này hay cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Câu nọ gợi câu kia rất chặt chẽ.
Trong nhiều tập truyện vui Anh văn, ta thường gặp mẩu chuyện: Kết thúc buổi dạy, thầy giáo thông báo bằng phấn trên bảng: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các trò (CLASSES) của mình”. Thầy giáo vừa bước ra khỏi cửa đã nghe rộn tiếng cười. Ông ngoảnh lại và nhận ra thông báo đã bị sửa: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các tình nhân (LASSES) của mình”. Thầy giáo quay trở lại, xóa bớt một chữ cái L và để lại thông báo: “Buổi học sau, do bận việc, tôi không thể gặp được các con lừa (ASSES) của mình”. Các nhà sáng tác câu đố tiếng Anh, qua câu chuyện này dễ dàng tạo được các câu đố chiết tự khá hóm hỉnh. Ở chữ Việt còn có một lợi thế là có hệ thống dấu.

Hồi gần đây, nhân có việc viết lại sách giáo khoa lớp một, dạy chữ e trước chữ a gì đó, một ông bạn già vô cùng yêu văn hóa Việt chạy đến nhà tôi đập cửa ầm ầm. Tôi vừa ra ông đã nói: Chữ “a”, chữ “ba”, chữ “bà”, chữ “má”… là những tiếng phát ra đầu đời con người. Nó là chữ của tâm linh, không dậy trước lại đi dạy chữ “e” trước. “Bê” “bê” “be” “be”… thế thì biến lớp trẻ thành đàn dê rồi còn gì! Tất cả đều là vấn đề tâm linh, là sắp đặt của trời đất, không thể muốn thế nào cũng được. Ngay những cái dấu cũng vậy. Cậu có biết tại sao người ta lại kể thứ tự dấu “huyền” trước rồi đến dấu “sắc” sau mới đến dấu “hỏi”, tiếp nữa là dấu “ngã”, cuối cùng mới là dấu “nặng” không?

Tôi do dự: “Dạ, có lẽ cũng là do thói quen”.

– Thì đành là thói quen. Nhưng cũng là do tâm linh hướng dẫn cả. Cậu có thấy cái tình yêu vợ chồng để nối dõi nòi giống là hệ trọng nhất trong đời không? Ấy đấy: Trai gái mới gặp nhau thì “cười” (dấu huyền), sau được sự đồng ý gia đình mới “cưới” (dấu sắc), cưới xong rồi mới “cưởi” (cởi – dấu hỏi), cưởi xong rồi mới “cưỡi”… Do không biết tôn trọng trật tự của trời đất nên mới nhốn nháo lên, chưa đánh dấu nọ đã đánh dấu kia. Cậu thử xem, đôi nào không chịu tuân thủ quy luật tâm linh, thì rồi có nên cái quái gì đâu!

Tôi chẳng biết ông bạn già nói đùa hay thật. Kể lại chuyện này chỉ để thấy cái lợi hại trong hệ thống dấu của chữ Việt và cũng là một hứa hẹn cho câu đố chiết tự ở nước ta.
Tuy nhiên, nhìn về đại thể, những câu đố chiết tự còn khá đơn điệu và nhạt nhẽo, đại loại như: chữ “Tu” tức là vào chùa ở; thêm dấu huyền thì bị bắt giam; bỏ huyền thêm dấu sắc thì thành tốt nghiệp phổ thông (cậu tú); bỏ sắc thay bằng hỏi thì thành thứ đựng quần áo… Đố kiểu thế thì chữ gì cũng đem ra đố được. Nhưng chẳng có gì là đáng ghi nhớ cả.

Tuy nhiên đây đó cũng vẫn xuất hiện những câu “chiết tự” thú vị. Xin dẫn vài ví dụ

Giỏi làm mứt, thạo nấu canh
Đến khi mất sắc theo anh học trò.
(Chữ Bí)

Thực ra, có sắc lại hay theo anh học trò hơn, đặc biệt là khi học trò học toán!

Ở đây còn sắc có thể hiểu là còn sắc đẹp chẳng hạn, chứ nói còn dấu sắc hay thay dấu sắc bằng dấu huyền… thì còn gì thú vị nữa.

Tê đầu tê đuôi
Ê mình ê mẩy.
(Chữ Tết)

Đúng với không khí ngày tết, thật là mệt mỏi.

Đầu bò mà gắn đuôi heo
Ai mà gặp nó lăn queo tức thì.
(Chữ Beo)

Câu đố này hay về mặt phương pháp. Nó mở ra một hướng đi trong câu đố chiết tự.

Cái ly mà để giữa bàn
Hồi lâu coi lại, vẫn hoàn như xưa
(Chữ Y)

Cái hay của câu đố này là vừa tả hình dáng, vừa nói nghĩa của chữ Y. Chữ Y hoa rất giống cái ly, nhất là ly để uống sâm panh. Y có nghĩa là không thay đổi

Cắt đầu, chỉ còn có râu!
Chắp vào lại đủ đuôi đầu, mình, chân!
(Chữ Trâu)

Đen huyền mà lại đỏ
(Chữ Đèn)

Câu đố rất ngắn này lại hay ở nhiều phương diện: Thứ nhất là nghệ thuật sử dụng dấu rất khéo. Dấu huyền kết hợp với chữ đen thành đen huyền. Đen huyền, đen mun…là từ rất hay dùng nên không lộ liễu việc sử dụng dấu. Cái hay nữa là câu đố gần như vừa đố vừa giảng. Đen-huyền là “đánh vần” chữ “đèn”. Ở đây còn thú vị ở nghệ thuật chơi chữ. Đã đen, thậm chí đen huyền mà còn đỏ sao được. Và như thế lại tạo ra được mâu thuẫn giả. Từ “đen huyền” hay được dùng để nói về mắt đẹp, mắt sắc, mắt trong. Mắt đỏ là mắt đau, mắt toét. Toàn chuyện trái ngược. Mà từ đỏ đèn cũng lại rất quen thuộc:Láng giềng đã đỏ đèn đâu? là thơ Nguyễn Bính

Nguyên hình nó con anh tôi
Chặt đuôi, xóa dấu, nó đòi làm cha
Ráp đuôi, móc ruột nó ra
Tự nhiên nó lại hóa ra chú mình.
(Chữ Cháu)

Câu đố này hay là ở chỗ “giải phẫu” chữ đủ kiểu để tạo ra nhiều chữ, nhiều nghĩa khác nhau (Đó vốn là công việc của “chiết tự”). Nhưng các câu, các chữ tạo ra có liên quan mật thiết với nhau theo một quan hệ là quan hệ huyết thống, quan hệ gia đình, nên không rơi vào tình trạng “đầu Ngô, mình Sở”, ông chẳng bà chuộc như rất nhiều câu đố chiết tự phạm phải.

Học tập câu đố dân gian, chúng tôi cũng đã giới thiệu một số câu đố kiểu “chiết tự” trên Tài Hoa Trẻ

Bỏ nón – thành bánh
Để nón – xuân sang
Có nón hay không nón
Vẫn bạn với mai vàng.
(Chữ Tết)

Che đầu thì hỏi
Giấu đuôi: trả lời
Giấu cả đầu đuôi:
Reo lên vui thích
Không hề bưng bít
Thin thít lắng nghe.
(Chữ Tai)

Đợi o một kiếp chẳng nề
Suốt đời anh chẳng nhận về mảy may
(Chữ Cho)

Hai đầu giải tỏa cả
Vạn mét vuông có ngay
Một đầu thôi giải tỏa
Dẫu sao vẫn còn hay
Để nguyên vẹn hơi găy:
Chỉ ngồi chơi xơi nước!
(Chữ Khay)

Chúng tôi nghĩ “chiết tự” là nguồn cung cấp vô tận các câu đố, nhiều khi khá bất ngờ. Tất nhiên không phải quá dễ dãi như đã nói ở trên. Chẳng hạn việc thay đổi một cái dấu đã làm nghĩa chữ thay đổi hẳn. Nhưng cũng như chữ “cười” trong câu chuyện của ông bạn già ở trên, các chữ nghĩa tạo ra phải được kết nối theo một hệ thống lôgic nào đó để tạo thành một chủ đề. Không thể đầu Ngô mình Sở, mỗi câu mỗi dòng một chủ đề khác nhau. Một điều quan trọng nữa là nếu sử dụng dấu, thì phải biết giấu cái dấu thật khéo sao cho người ta không biết mình sử dụng dấu.

12

12. Thơ đố – chân dung

“Thơ chân dung” là loại thơ dùng tên các tác phẩm tiêu biểu của một tác giả nào đó để viết thành một bài thơ ngắn gọn qua đó nói được những nét đặc trưng về cuộc đời về cá tính, về nghề nghiệp và xuất thân, về những thành tựu, những cống hiến của người đó.
Câu đố dùng thơ chân dung đã có từ lâu, ví dụ câu đố về nhà thơ Tương Phố:

Chẳng có đỗ cũng thành tương
Cũng mang ra khắp phố phường
Thu về nuớc mắt dòng dòng
Có chồng rồi lại mất chồng như chơi
Gió mưa sông núi sụt sùi
Thế nhân quên cả giọng cười Xuân Hương.

Hoặc câu đố về Tản Đà:

Cái ấm còn cả nguyên vòi
Bày bán chợ đời chỉ thấy người coi
Nếu đem lên bán chợ trời
Mấy nàng tiên nữ cũng cười không mua
Hỏi sao người đẹp ỡm ờ
Thì ra là những tiên cô tiên khồng

Chúng ta thấy những bài thơ đố như vậy thực ra cũng chưa được hay, chưa được suôn sẻ cho lắm.

Khi nữ sĩ Anh Thơ lấy chồng là bác sĩ, Nguyễn Bính có bài thơ mừng khá hóm hỉnh. Nếu đem làm bài thơ đố về sự kiện hoặc để bạn đọc đặt tên bài thơ như chúng tôi vẫn làm trên Tài Hoa Trẻ thì chất lượng hơn những bài trên rất nhiều:

Những tưởng trăm năm đến chết thèm
Ai ngờ chấm hết chuyện ăn khem
Bài thơ kẹp chặt vào đơn thuốc
Hũ mực phun đầy cả ống tiêm
Chị sắp lên râu làm chức mẹ
Anh mà xuống nuớc đóng vai em
Bấy lâu bịt chặt lầu thơ lại
Kìa bức-tranh-quê đã vén rèm!

Thơ chân dung viết rất khó bởi lẽ ngoài văn tài ra, tác giả lại phải hiểu rõ người mình định mô tả, đọc nhiều sáng tác của họ. Hơn thế nữa, người đọc cũng phải biết xuất xứ những điều mà người làm thơ viết ra thì mới cùng đồng cảm mà thấy cái hay.

Trên Tài Hoa Trẻ chúng tôi cũng đã giới thiệu nhiều bài thơ học theo kiểu đó. Có đôi bài chúng tôi thấy tạm vừa lòng. Ví như bài thơ về Nguyễn Đình Chiểu:

Mắt lòa lòng rạng sáng ngời
Thuyền văn chở đạo, biển đời bao la
Đâm gian tà, bút chẳng tà
Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương.

Hoặc bài về Lê Anh Xuân:

Bồn chồn nghe sấm nhớ mưa
Nghe gà gáy nhớ hoa dừa trước sân
Trở về giữ – đất, hiến thân
Tên anh: dáng đứng Mùa Xuân – Con đường.

Khá nhiều bài viết khác, thực ra mới chỉ ở mức độ ghép tên các tác phẩm thành một bài có nghĩa, có vần với đôi nét vui tếu để qua đó độc giả nhận được ra người mình định giới thiệu mà thôi, mặc dù chúng tôi đã rất cố gắng với tất cả tấm lòng quý yêu và trân trọng. Chúng tôi sẽ tiếp tục cải tiến, sửa chữa (xem “Chân dung nhà văn”, tập thơ – câu đố của Đặng Hấn – NXB Thanh Niên 2002)

13

13. Biểu tuợng hai mặt kiểu Hồ Xuân Hương

Nói đến Hồ Xuân Hương, chắc ai cũng thuộc đôi ba bài thơ của bà. Bà tả một vật rất bình thường nào đó, nhưng lại cứ gợi người ta hiểu ra những “vật cấm kị” mà càng nghĩ lại càng thấy cái “vật kia” hiện ra rõ rệt hơn

Vành ra ba góc da còn thiếu
Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa
(Cái quạt giấy)

Cửa hang đỏ loét tùm hum nóc
Hòn đá xanh rì lún phún rêu
(Hang Cắc Cớ)

Bờ trắng phau phau đôi ván ghép
Nước trong leo lẻo một dòng thông
Cỏ gà lún phún leo quanh mép
Cá giếc le te lách giữa dòng
(Giếng nước)

Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Đầu đội mũ da, loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn, rủ thao đen
(Ông quan võ)

Hoặc bà tả một công việc gì đó rất bình thường trong sinh hoạt vui chơi, trong lao động sản xuất mà cứ rõ rành rành là tả chuyện ái ân trong phòng the trướng gấm của đôi lứa gái trai

Đốt ngọn đèn lên, thấy trắng phau
Con cò mấp máy suốt canh thâu
Hai chân đạp xuống, nâng nâng nhấc
Một suốt xiên ngang, thích thích mau
Rộng hẹp nhỏ to vừa vặn cả
Ngắn dài khuôn khổ vẫn như nhau
Cô nào muốn tốt ngâm cho kĩ…
(Dệt vải ban đêm)

Nửa đêm giờ tí, trống canh ba
Thúc ngựa vào thành phá lũy ra
Một tướng đỏ đầu vào cửa ải
Hai quân lăn lóc chốn sơn hà
Quân ta quỳ xuống đâm quân nó
Nước nó giao hòa với nước ta
Đánh trận xong rồi lau khi giới
Tìm nơi ẩn khố chốn can qua
(Đánh trận đêm)

Mới dẫn ra một phần nhỏ, coi bộ đọc đã thấy mệt.

Không biết Hồ Xuân Hương đã học tập ở các câu đố dân gian Việt Nam, hay các tác giả câu đố đã học tập Hồ Xuân Hương mà số lượng các câu đố biểu tượng hai mặt như vậy (gọi là đố tục giảng thanh) cũng chiếm một tỷ lệ đáng kể

Hai người ôm ấp lấy nhau
Nhúc nhích đằng đầu, nhúc nhích đằng đuôi
(Cái kéo)

Trời sinh ba góc kéo về ba
Một góc thiếu đi một miếng da
Nhấp nhấp càng lâu, càng thấy sướng
Tại sao nước nọ chẳng tuôn ra?
(Quạt giấy)

Khum khum như mu bàn tay
Mồm thì mồm dọc ngậm ngay hột hồng
Hai bên có hai hàng lông
Ở giữa hột hồng đỏ loét lòe loe.
(Con sò huyết)

Đó là một vài câu đố về các vật. Về hoạt động thì:

Hai tay ôm lấy khư khư
Bụng thì bảo dạ rằng ư đút vào
Đút vào nó sướng làm sao
Dập lên dập xuống nó trào nuớc ra.
(Ăn mía)

Một nguời nằm, một nguời ngồi
Đút vào sướng lắm em ơi
Rút ra đánh choách, miệng cười toét tòe loe.
(Cho con bú)

Cục thịt đút vào lỗ thịt
Một tay sờ đít, một tay sờ đầu
Đút vào một lúc lâu lâu
Nhột ở núm đầu nước chảy ứa ra
Da non nút chặt da già
Kéo cưa đưa đẩy rút ra cùng cười.
(Cho con bú)

Đó là những câu đố của thời xa xưa. Gần đây, tôi lại nghe bọn trẻ đố nhau:

Vạch quần ngoài, thấy quần trong
Vạch quần trong, thấy lông
Vạch lông, thấy hạt
Bóp hạt, thấy nước
Là cái gì?

Và trả lời là: Bắp ngô non. Đúng là láo toét. Nhưng bắt bẻ được chúng đâu phải dễ! Có chỗ nào sai đâu?

Xem ra thơ Hồ Xuân Hương và các câu “đố tục giảng thanh” này chẳng biết mèo nào cắn mỉu nào.

Bắt chuớc những câu đố kiểu này, chúng tôi cũng đã từng cho in các câu đố:

Đàn bà con gái rất yêu
Chỉ đi tu mới ra chiều dửng dưng
Mềm như nhựa, cứng như sừng
Dùng nó coi chừng kẻo lại gẫy răng.
(Cái lược)

Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Trăm vuốt ngàn ve vẫn chẳng mòn
Quân tử có thương đừng đập, giật
Cứ nâng, cứ xoáy mặc ái nhòm.
(Đánh bóng bàn)

No say rồi, lấy em đi
Giúp anh cái khoản thứ nhì được chăng
Em đâu còn tuổi thơ măng
Mất em có kiếm cũng bằng công toi
(Cái tăm tre)
(Câu 2 là muốn nhắc thành ngữ thứ nhất đau mắt, thứ nhì dắt răng. Câu cuối là muốn nói mất tăm mất tích)

Tất nhiên cũng còn xa lắm mới đạt được cái mức “hậu sinh khả úy”!

14

14. Đố tình huống, thử thách sự thông minh

Đố: Trong quan tài có một người chết vậy mà có người thì khóc “Ới anh ơi là anh ơi!”. Lại có nguời khóc “Ới chị ơi là chị ơi!”. Vậy người chết là đàn ông hay đàn bà?
Đáp: Đó là người đàn bà có tên là Anh.

Tất nhiên cũng có thể nói đó là người đàn ông có tên là Chị. Nhưng trên thực tế, đáp án này rất khó chấp nhận, trừ ra ở một số vùng khi phát âm không phân biệt âm “ch” với âm “tr”, thì có thể trả lời “đó là người đàn ông có tên là Trị” cũng được.

Đố: Thành phố bị bao vây. Mỗi người đều bị bắt ra và trước mặt tên đao phủ phải nói một câu. Nếu nói đúng thì bị chặt đầu, còn nói sai thì bị treo cổ. Có nhiều nguời đã thoát chết. Vậy họ đã nói câu gì?
Đáp: Họ nói: “Tôi sẽ bị treo cổ”

Đúng vậy, nếu đem người này đi treo cổ thì họ đã nói đúng. Nhưng nếu nói đúng thì bị chặt đầu. Nhưng nếu đem chặt đầu thì họ đã nói sai. Mà nói sai thì phải đem treo cổ. Thành ra chả biết làm sao, đành phải thả họ ra.

Về câu đố này, ông Phạm Quang Giám ở báo “Toán học và tuổi trẻ” có đưa ra một đáp án khác là họ nói với tên đao phủ: “Đầu ông nặng ba kí lô”. Thật vậy, tên đao phủ không thể nào kiểm tra được đầu mình nặng bao nhiêu, và vì vậy không thể kết luận được câu nói đó là sai hay đúng để có cách hành thích người nói. Cũng sáng kiến lắm!

Đố: Theo lệnh của nhà vua, hàng năm sẽ có một số tù nhân được ân xá, một số bị đem đi xử trảm. Việc xét duyệt được tiến hành một cách may rủi. Mỗi tù nhân được gọi ra và bốc ngẫu nhiên một lá thăm trong hai lá bề ngoài giống hệt nhau nhưng một lá thăm có ghi chữ “chết”, một lá có ghi chữ “sống”. Tù nhân A bị bọn quan tòa thâm thù nên đã làm hai lá thăm đều ghi chữ “chết”. Thế mà kết cục, tù nhân A vẫn được tha. Vậy tù nhân này đã ứng xử thế nào?
Đáp: Tù nhân A lấy một lá thăm và lập tức bỏ vào mồm nhai rồi nuốt đi. Khi đó tất nhiên phải mở lá còn lại ra và vì lá còn lại ghi chữ “chết” vậy theo luật thì suy ra lá mà tù nhân đã nhận phải ghi chữ “sống”!
(Nếu tù nhân không bị thâm thù, việc bốc phiếu được làm công bằng thì khả năng sống chết vẫn là 50% chứ không có gì thay đổi có hại cả)

Đố: Dân thành phố A luôn nói thật còn dân thành phố B luôn nói dối. Bạn là du khách biết mình đang ở một trong hai thành phố, nhưng không biết mình đang ở thành phố nào. Dân hai thành phố lại hay qua lại bên nhau. Gặp một người, bạn chỉ được hỏi một câu để biết mình đang ở thành phố nào. (Dân hai thành phố này, khi nghe câu hỏi chỉ gật hoặc lắc mà thôi). Vậy câu hỏi của bạn là thế nào?
Đáp: Câu hỏi là: “Anh sống ở thành phố này phải không?” Nếu họ gật thì bạn đang ở thành phố A còn nếu họ lắc thì bạn đang ở thành phố B.

Cũng câu đố này, có một cách trình bày hiệu quả hơn như sau:

Đố: Ở một Mê-cung có hai cửa thoát ra. Một cửa dẫn đến chỗ chết gọi là “”Cửa tử”, một cửa dẫn tới vùng sống tự do, gọi là “Cửa sinh”. Việc canh giữ hai cửa này do hai tên lính canh thực hiện. Gọi là canh nhưng chỉ làm mỗi việc ai hỏi gì thì trả lời. Nhưng hai người này đều không biết nói, chỉ gật hay lắc đầu khi nghe hỏi. Một trong hai người luôn nói thực, còn người kia luôn nói dối. Việc phân công ai coi cửa nào rất tùy tiện, không theo lịch phân nhất định nào. Bạn bị lạc vào mê cung và chỉ được phép hỏi một câu để tìm “Cửa sinh” mà ra. Câu hỏi của bạn là thế nào?
Đáp: Bạn có thể hỏi một trong bốn câu sau:
1.Người nói thật đang canh “Cửa tử” phải không?
2. Người nói dối đang canh “Cửa sinh” phải không?
3. Người nói thật đang canh “Cửa sinh” phải không?
4. Người nói dối đang canh “Cửa tử” phải không?
Hai câu 1và 2 tương đương nhau. Nếu bạn hỏi một trong hai câu này mà họ gật đầu thì đó là “Cửa tử”, bạn chớ đi vào. Ngược lại, nếu họ lắc đầu, thì bạn cứ ung dung theo cửa đó mà đi ra.

Hai câu 3 và 4 Tương đương nhau và nếu bạn dùng một trong hai câu hỏi này, thì bạn phải xử sự ngược lại với hai câu hỏi trên.

Đố: Có ba thành phố A, B, C. Dân A luôn nói thật, dân B luôn nói dối còn dân C thì cứ một câu thật một câu dối xen kẽ nhau. Dân các thành phố lại thường đi lại qua nhau. Bạn muốn biết bạn đang ở thành phố nào và đang nói chuyện với dân thành phố nào, nhưng chỉ được phép hỏi không quá bốn câu (người trả lời chỉ gật (khẳng định) và lắc (phủ định)). Đố bạn đưa ra những câu hỏi đó.
Đáp: Bốn câu hỏi đó là:
1. Tôi đang ở một trong hai thành phố A và B phải không?
2. Tôi đang ở C phải không?
3. Anh là dân thành phô C phải không?
4. Tôi đang ở thành phố A phải không?

Câu đố này hơi phức tạp, dành cho bạn nào thích tò mò và kiên nhẫn một chút. Lý giải như sau:

a- Nếu có câu trả lời khẳng định hoặc phủ định cho cả 2 câu (1) và (2) ta biết ngay người ta gặp ở C. Trong trường hợp đó, câu trả lời phủ định (trong trường hợp này là câu trả lời sai) cho câu hỏi (3) có nghĩa là câu trả trả lời cho câu hỏi (2) là đúng. Khi đó, nếu câu trả lời cho câu (2) là khẳng định thì không cần hỏi câu thứ (4) nữa. Nhưng nếu câu trả lời cho câu (2) là phủ định thì ta hỏi tiếp câu (4) ta sẽ được một câu trả lời sai và ta suy ra ta đang ở thành phố A nếu câu trả lời là phủ định và ở B nếu câu trả lời là khẳng định. Nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (3) là khẳng định (câu trả lời đúng) thì câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là sai. Khi đó nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là phủ định thì ta biết ta đang ở C và câu hỏi thứ (4) là không cần. Còn nếu câu trả lời cho câu hỏi thứ (2) là khẳng định thì ta lại phải hỏi tiếp câu hỏi thứ tư để được câu trả lời sai và biết mình ở A hay ở B.

b- Nếu câu hỏi (1) và (2) có câu trả lời trái ngược thì người ta gặp ở A hoặc ở B. Câu trả lời khẳng định cho câu hỏi (3) chứng tỏ họ là người thành phố B (nói dối) và câu hỏi thứ tư không cần thiết: nếu câu (2) phủ định (ta biết ta đang ở C). Còn nếu câu trả lời là khẳng định thì ta đang ở A hoặc B; câu trả lời sai cho câu hỏi (4) sẽ cho ta bíêt ta đang ở đâu (ta ở A nếu họ lắc, ta ở B nếu họ gật). Cũng vậy, nếu câu trả lời cho câu hỏi (3) là phủ định chứng tỏ họ là dân thành phố A (nói thật), khi đó nếu câu trả lời cho (2) là khẳng định thì không cần câu thứ (4) còn nếu câu (2) là phủ định thì ta cần câu trả lời cho câu thứ (4).

Đố: Làm thế nào để xỏ một sợi chỉ qua một cái vỏ ốc xoắn?
Đáp:
Tang tình tang, tính tình tang
Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng
Bên thời lấy giấy mà bưng
Bên thì bôi mỡ, kiến mừng kiến sang

Đấy là chuyện trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam của Nguyễn Đổng Chi mà Nguyễn Văn Trung đã dẫn trong “Câu đố dân gian Việt Nam”.

15

15. Câu đố về nhãn hiệu – nghệ thuật gán từ, gán nghĩa

Loại câu đố này xuất hiện ở Miền Nam trước giải phóng do có sự giao lưu với phương Tây nhất là về phương diện hàng hóa, nên hàng ngày thường đập vào mắt những nhãn hiệu bằng tiếng nước ngoài. Được phổ biến hơn cả là câu đố về nhãn hiệu thuốc lá Capstan

Đố: Capstan là viết tắt của câu gì khi đọc ngược và khi đọc xuôi?
Đáp:
Cho anh phát súng tim anh nát (đọc xuôi)
Nhưng anh tin số phận anh còn (đọc ngược)

Một câu đố như thế tất nhiên không thể có đáp án duy nhất. Ta còn có thể tìm được các đáp án sau đây:

Đáp 2:
Chiếc áo phong sương tình ân nghĩa (đọc xuôi)
Nghĩa ân tình nỡ phụ anh chi (đọc ngược)

Đáp 3:
Nào ai tàn sát, phần anh cả (đọc ngược)
Con anh phá sản tại anh ngu (đọc xuôi)

Trong quá trình truyền miệng nhau, đáp án nào suôn sẻ hơn, vui hơn sẽ được nhiều người nhớ hơn và trở thành đáp án chính thức. Ở câu đố này có thể xem đáp án đầu tiên là chính thức.

Gần đây, lần ra Huế dự Hội nghị toán toàn quốc, trong bữa cơm thân mật với GS. Nguyễn Bác Văn, GS. Lê Văn Hốt, nhà thơ Phạm Hồng Danh…, TS. Trần Công Chín lại chỉ vào dòng chữ Heineken trên lon bia để đố chúng tôi. Và một số đáp án cũng được đưa ra:

Đáp 1:
Hôn em ít, nên em kiêu, em nguýt (đọc xuôi)
Nếu em khoái, em nằm im em hưởng (đọc ngược)

Đáp 2:
Hại em it nhiều em không e ngại (đọc xuôi)
Nhưng e không em, nó ỉ eo hoài (đọc ngược)

Đáp 3:
Ngỡ em khóc, em nằm í eo …hát (đọc ngược)
Hễ em im, nó ép, khốn em ngay! (đọc xuôi)

Những đáp án này vẫn còn là khởi thảo, sẽ còn được “quần chúng” sửa chữa bổ sung thêm, trước khi một kết quả được xem là chính thức.

Hiện nay, do xu thế hội nhập, tên nhãn hiệu, tên công ty viết tắt như Fahasa, Casuvina…khá phổ biến. Nhiều trường hợp có thể đem ra đố. Tuy nhiên, trong cơ chế thị trường, mọi người đều rất bận mải, nên tương lai của loại câu đố này cũng khó có thể biết trước được. Thiết nghĩ, các công ty, các nhà sản xuất có thể ra cuộc thi về nhãn hiệu hàng hóa của mình cũng là một cách quảng cáo rất có hiệu quả.

16

16. Câu đố toán, nghệ thuật tư duy

Người ta thường đưa vào phần đố toán những bài toán đố hoặc những tình huống oái oăm phức tạp phải xử lý. Những tình huống mà mới đọc thấy rất khó giải quyết, nhưng bằng một suy luận thông minh, một sáng kiến, một “mẹo” nào đó, vấn đề được giải quyết đơn giản và dễ hiểu đến bất ngờ. Một số câu đố mà chúng tôi đã đưa trong phần “Đố mẹo, gài bẫy” hay phần “Đố tình huống, thử thách sự thông minh” cũng có thể chuyển sang phần đố toán này. Xin dẫn thêm ra đây một vài câu:

Đố: Tại sao vào mùa đông, máy bay từ Hà Nội đi Huế mất có 80 phút mà từ Huế đi Hà Nội lại mất những 1 giờ 20 phút?
Đáp: Vì 80 phút cũng là 1 giờ 20 phút

Câu đố này gài bẫy người ta ở những chi tiết: dùng các từ “mất có” và “mất những”, rồi một đằng tính thời gian bằng phút, một đằng lại tính bằng giờ. Lại thêm chi tiết bay vào mùa đông chẳng dùng làm gì để hướng người ta nghĩ đến mùa đông có gió mùa đông bắc…

Đố: Với 3 que diêm, hãy xếp 1 số lớn hơn 3 và nhỏ hơn 4.
Đáp: Đó là số pi (=3,14159…). Câu này do người ta chỉ nghĩ đến số thập phân bình thường như 3,5 chẳng hạn và sẽ không thể xếp được.

Đố: Trong một ngôi đền có ba ông thần hình dáng giống hệt nhau, nhưng tính nết rất khác nhau: Thần-thật-thà luôn luôn nói thật, Thần-dối-trá luôn luôn nói dối và Thần-khôn -ngoan lúc nói thật, lúc nói dối. Một nhà toán học lại thăm đền. Ông hỏi thần ngồi bên trái:
– Ai ngồi bên ngài?
– Thần-thật-thà!
Nhà toán học hỏi tiếp thần ngồi giữa:
– Ngài là thần gì?
– Thần-khôn-ngoan!
Ông hỏi tiếp thần bên phải:
– Ai ngồi cạnh ngài?
– Thần-dối-trá!
Nhà toán học đã suy luận thế nào để biết ba loại thần đó?
Đáp: Gọi lần lượt ba thần ngồi từ trái sang phải là A, B, C
(1) Theo A: B là Thần-thật-thà
(2) Theo B: B là Thần-khôn-ngoan
(3) Theo C: B là Thần-dối-trá
(1) Chứng tỏ A không phải là Thần-thật-thà, vì nếu A là Thần-thật-thà, thì (1) đúng, và B là Thần-thật-thà điều đó vô lý vì chỉ có một Thần-thật-thà thôi.
(2) chứng tỏ B không phải là Thần-thật-thà, vì nếu là Thần-thật-tha, thì mâu thuẫn với (2)
Vậy C là Thần-thật-thà và theo lời C (3) B là Thần-dối-trá . Tất nhiên còn lại A là Thần-khôn-ngoan

Trong mục T (Đố toán) ở phần ba (Câu đố sưu tầm và tuyển chọn) của cuốn sách này, chúng tôi có đưa vào 30 câu đố toán. Chúng tôi cũng đã chuyển sang dạng văn vần để thêm vui và dễ nhớ. Ở đó có nhiều bài toán mới đọc có vẻ khó, nhưng cách giải rất đơn giản mà lại rất vui, có những bài toán rất dễ, nhưng chỉ sơ ý một chút, bạn có thể cho đáp số không chính xác như bài toán “Bao nhiêu chi tiết máy?”, bạn có thể bỏ bớt chi tiết thứ 43. Hoặc bài toán “Ếch nằm đắy giếng”…

Cũng còn phổ biến một loại đố toán là tiến hành một chứng minh tỏ ra rất chính xác, nhưng trong xâu chuỗi các biến đổi chặt chẽ, có xen vào những khe hở rất nhỏ và kết quả đi đến một kết luận “động trời” như: Mọi tam giác đều cân, mọi góc đều vuông, đường xiên dài bằng đường thẳng góc, 1 = 2… Thế rồi đố chúng ta phát hiện ra khe hở trong xâu chuỗi lý luận. Bạn đọc có thể tìm đọc trong cuốn “Giải trí toán học” của Đặng Hấn, NXB Trẻ ấn hành năm 1995. Chúng tôi xin dẫn ra ở đây vài ví dụ:

Đố: 1 = 2 . Sai ở đâu?
Giả sử x = y vậy y² = x² do đó x² – y² = x² – xy suy ra (x – y) (x + y ) = x (x – y )
“Giản ước” hai vế cho x – y ta có x + y = x. Thay x = y = 1 ta có 1 = 2 (?!)
Giải đáp: x = y, vậy x – y = 0. “Giản ước” hai vế cho x – y tức là chia hai vế cho 0 là phép toán không có nghĩa.

Đố: “Một đồng bằng mười đồng” sai ở chỗ nào?
1 đồng = 10 hào vậy 1² đồng = 10² hào = 100 hào = 10 đồng. Nghĩa là 1 đồng bằng mười đồng (?!)
Giải đáp: Sai lầm là ở chỗ khi ta bình phương hai vế, ta mới chỉ bình phương các con số mà đơn vị đo thì ta lại không bình phương. Như vậy 1đ = 10 hào thì 1 “đồng bình phương” = 100 “hào bình phương”. Nhưng “hào bình phương” và “đồng bình phương” là gì thì ta lại chưa định nghĩa nên chẳng biết quan hệ giữa chúng ra sao và do đó ta chưa phát hiện ra điều gì là vô lý cả, mới chỉ phát hiện ra phép toán của ta là vô lý thôi.

Các câu đố về toán hiện nay được in ra rất nhiều. Nhiều sáng tác và sưu tầm của các bạn yêu toán và của các nhà toán học có tên tuổi rất có giá trị. Tuy nhiên có thể thấy hai nhược điểm khá nổi bật như sau:

Thứ nhất, những câu đố thực sự hay thường lại là những bài toán phải sử dụng các kiến thức không thực sự đơn giản mà câu đố thì để giải trí nên lại cần phải vui. Các câu đố loại này may ra chỉ có các nhà toán học hoặc chí ít cũng là những sinh viên, học sinh giỏi toán mới thấy “vui” được. Loại thứ hai, khá phổ thông thì lại đơn giản quá nên nhạt, dễ chán.

17a

Trong thời gian gần đây câu đố được in ra khá nhiều với số lượng khá lớn và tái bản nhiều lần. Điều đó chứng tỏ câu đố phát huy được những mặt tích cực của nó. Báo chí cũng đăng nhiều câu đố, đài truyền hình cũng có nhiều cuộc đố với tính chất vui để học. Câu đố có thể dùng để giải trí cho các nhà khoa học, các nhà văn sau những giờ lao động mệt mỏi.

Câu đố giúp các bạn học sinh phát triển óc quan sát, so sánh, khả năng tưởng tượng và liên tưởng; ít nhiều giúp ích cho việc học văn và khả năng suy luận trong khoa học.
Báo Thanh Niên ra ngày 30/5/2001 có bài “Văn của các em khiến người lớn cười ra… nước mắt” được báo Phụ Nữ (TPHCM) chủ nhật số ngày 17/6/2001 trích đăng lại. Chúng tôi cũng xin chép lại đây cho các bạn tham khảo:

Đề tập làm văn trong kì thi tốt nghiệp tiểu học vừa diễn ra ở tỉnh nọ: “Em hãy tả hình dáng và tính tình của một cụ già mà em rất kính yêu”. Xin trích nguyên văn 8 bài làm của học sinh nông thôn:

1. Hình dáng của bà nội rất là thấp, được hai mét rưỡi, dáng đi rất chậm chạp, mắt thì lừ đừ ít nhìn thấy gì nữa… Khi bà nội cười liền nhe mầm răng ra còn được ba bốn cái gì mà thôi.

2. Con mắt của bà tròn như hòn bi, mũi có hai cái lộ, miệng cụ già có hai cái tai, tóc của bà đã bạc phơ. Cổ ngắn gọn, thân của bà 2, 3 thước, bà có hai cái tay, hai cái chân.

3. Bà cụ ngoài 40 tuổi.

4. Hình dáng của ông rất bình thường, chiều rộng một mét, chiều cao hai mét.

5. Mỗi khi ông cười hàm răng của ông không được trắng và chắc như trước nữa mà đã gãy 4 cái răng. Khuôn mặt của ông không còn đẹp trai như trước nữa mà rất nhăn nhó, ông cười cũng như là ông giận.

6. Khuôn mặt ông bầu bĩnh; đôi mắt ông như đôi mắt bồ câu trắng; dáng đi của ông rất hoang thai và cái miệng của ông như trái tim mãnh liệt.

7. Ông của em dài thì bằng mười mét và không mập.

8. Ông của em cao khoảng 1m, khung mặt của ông như trái song.

Chúng tôi nghĩ nếu các em bớt đọc truyện tranh nhảm nhí, in ấn xô bồ, quan tâm hơn đến sách văn học và thuộc được một số câu đố dân gian như chúng tôi dẫn ra ở phần 1) và 2) của bài viết này, chắc chắn các em không đến mức làm văn miêu tả dở đến như vậy.

Nhưng cũng phải nói ngay rằng: dùng một cuốn câu đố để thay cho một giáo trình lịch sử, địa lý, toán học… thì sẽ không đúng với mục đích của câu đố và sẽ hoàn toàn thất bại. Câu đố chủ yếu vẫn để giải trí)

Trong các câu đố đăng trên Tài Hoa Trẻ, bên cạnh việc cung cấp thông tin để nhận ra sự vật, chúng tôi cố gắng đưa vào những yếu tố có chất văn học hoặc từ đó dẫn đến các bài thơ hay, hoặc các câu cách ngôn, thành ngữ hay, để tăng phần thú vị cho người chơi câu đố, đồng thời cũng giúp cho các em học sinh qua đó có thể biết thêm một số kiến thức trong văn học. Ví như khi đố “đôi đũa”:

Vênh váo là rất hại
Ái ngại chị chìa vôi
Rất thương người mỗi miếng
Tôi dâng mời tận môi
Đừng đem tôi trả bạn
Kẻo mang tiếng hẹp hòi.

Trong câu đầu, chúng tôi muốn nhắc tới thành ngữ “Vợ dại không hại bằng đũa vênh”. Trong câu 2 muốn nhắc đến thành ngữ: “Đũa có đôi, chìa vôi lẻ bạn”. Hai câu cuối muốn nói “hành động trả đũa” thường là các hành động không cao thượng.

Hay câu đố về “cơm”

Phải đâu bát phở ăn chơi
Gắn bó một đời như thể vợ ta
Thảo thơm nuôi sống vạn nhà
Nhưng sao mẹ ruột lại là đàn ông
Có khi nào hóa cá không?

Hai câu đầu muốn nhắc một “thành ngữ” vui trong dân gian… lận: “Cơm là vợ, phở là bồ”. Câu thứ tư nhắc hai thành ngữ: “Cơm tẻ – mẹ ruột” và “Thuốc nam thuốc bắc bú cặc cho cơm”. Thành ngữ này sinh thời Chế Lan Viên rất tâm đắc. Ông (ký Chàng Văn) đã dẫn ra để minh lý cho quan điểm của ông là “Không có từ nên thơ hay không nên thơ miễn là sử dụng nó đúng chỗ thì sẽ hay, sẽ thơ”. Câu cuối ở câu đố này cũng nhắc đến một danh từ hay dùng là “Cần câu cơm”.

Bài thơ đố:

Sen tàn, cúc thắm, trời hanh
Nhẹ rơi chiếc lá nửa xanh nửa vàng
Bay từng giọt – nắng ngân vang
Thoảng thơm hương cốm trong làn heo may
(Chớm thu)

rất bình thường, chẳng có gì đặc sắc. Nhưng cái chính là mỗi câu trong bài lại gợi nhớ ra những câu thơ xuất sắc về mùa thu.
– Sen tàn cúc lại nở hoa là câu Nguyễn Du tả cảnh hè sang thu (Kiều)
– Câu thứ hai gợi nhớ hai câu thơ của Thanh Tùng: Một mặt lá mùa hè còn níu ở / Mặt kia thoáng đã thu rồi.
– Câu 3 nhắc thơ Nguyễn Mỹ Nắng bay từng giọt – Nắng ngân vang / Ở trong nắng có một ngàn cái chuông.
– Câu 4 nhắc thơ Nguyễn Vũ Tiềm: Sợi rơm vàng buộc gió / Cả sóng sánh sen hồ / Nắng đa tình Bến Nghé / Phải lòng hương cốm thu. Hay thơ Lương Hữu: Thu ở ngàn thu tà áo trắng / Em ngồi chia nắng với heo may. Hoặc đây nữa: Gửi đi một chút heo may / Để bên ấy biết bên này thu sang (Đặng Nguyệt Anh)

Hay bài thơ đố về tình yêu:

Cho ăn no thì chết
Càng đói càng khỏe ra
Cứ uống xong lại khát
Chợt gần rồi chợt xa
Con dao rỉ rồi mẻ
Không cắt nghĩa được mà.

Hai câu đầu nhắc danh ngôn của A.De Musset: Tình yêu là con quái vật; sống trong đói lả và chết trong sự no say. Câu 3 nhắc thơ Xuân Diệu: Uống xong lại khát là tình / gặp rồi lại nhớ là mình của ta. Câu 4 nhắc thơ Lê Thị Kim: Tinh yêu không là gió / chợt gần rồi chợt xa / Tình yêu không là cỏ / Mọc lan man thềm nhà. Câu 5 nhắc thơ Hoài Anh: Tình yêu như con dao / Để thì rỉ / Chặt thì mẻ / Em tính sao?. Câu cuối nhắc thơ Xuân Diệu: Làm sao cắt nghĩa được tình yêu?

Phần câu đố về các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ chúng tôi cũng cố gắng cung cấp những thông tin cần thiết nhất về các văn nghệ sĩ đó để các bạn yêu văn học nghệ thuật thêm hiểu, thêm yêu văn nghệ và các bậc tài hoa của đất nước.

Chơi câu đố là một thú chơi tao nhã mà mọi tầng lớp nhân dân đều có thể tham gia. Đọc “Hồng lâu mộng” chẳng hạn, ta bắt gặp những cuộc chơi rất hào hứng mà từ chủ nhân có quyền uy cao nhất đến các con sen đầy tớ đều tham gia một cách bình đẳng. Người giải đúng câu đố có thể không phải là người học thức cao mà có khi chỉ là người thường vẫn được xem là rất dốt nát. Không ai căn cứ vào cuộc chơi câu đố mà đánh giá học vấn, tư tưởng chính trị… của người khác. Thường nhiều khi biết lời giải câu đố rồi, người ta còn cố tình giải sai đi cho vui. Người ta cũng gợi ý và nhường cho người bề dưới, trẻ em… giải đúng để thưởng cho chúng. Đó là văn hóa của lối chơi câu đố. Người tham gia chơi câu đố, khi nghe một người đố mà mình biết lời giải rồi cũng đừng vội vàng nói ngay, nếu không sẽ mất đi những tranh luận thú vị và người ra đố cũng cụt hứng, mất vui.

17b

Câu đố xem ra cũng có nhiều công dụng. Xin dẫn ra đây hai mẩu chuyện về Thanh Tịnh đã được nhà văn Ngô Vĩnh Bình kể trong cuốn “Thanh Tịnh như tôi biết”

Dùng câu đố để giữ trật tự

Nhà thơ Thanh Tịnh rất quý trẻ nhỏ, và ngược lại, trẻ nhỏ cũng rất thích gần ông. Biết ông sống độc thân hay buồn, anh em trẻ công tác ở Tạp chi Văn nghệ quân đội và cánh nhà văn, nhà báo thường dắt con đi cùng mỗi lần ghé thăm nhà thơ. Trẻ đến chơi thường rất mê bộ “sưu tập” đồ chơi của ông, nhất là những loại súng, ngựa. Chúng cứ hỏi ông hết câu nọ đến câu kia…Một tết, khách lớn đông mà khách nhỏ đến cũng thật nhiều. Ông bảo bọn trẻ cũng là khách nhưng là “khách mini”. Khách mini lắm khi nhõng nhẽo quấy quả bố mẹ, vòi vĩnh nhà thơ đến mức không trò chuyện nổi. Nhiều bé bị bố mắng đâm ra ỉu xìu. Thanh Tịnh không bằng lòng. Ông chia đều kẹo bánh cho lũ trẻ và bảo:

– Bây giờ ông tiếp các cháu hề?

Lũ trẻ nhao nhao đến quanh ông. Ông nói là ông sẽ ra câu đố cho chúng và “treo giải 50 đồng” cho những cháu trả lời được đúng và nhanh. Bọn nhóc khoái lắm, giục ông “đố đi”. Ông hắng giọng, liếc qua chữ “Pháo tết” bên bàn và đọc:

Đến ngày pháo nổ gần xa
Đọc đi đọc lại, vẫn là tên tôi!
(Là chữ gì )

Lũ trẻ đoán non đoán già thì ông đã bảo: “Xuống dưới nhà nghĩ nhé! Ai giải đúng lên lĩnh thưởng”.

Tự nhiên bọn trẻ chạy ào ào xuống dưới sân một cách triệt để, nhường “chỗ” cho người lớn chuyện trò. Một tuần trà đã qua mới lác đác có cháu lên và được nhà thơ phán: “Trật rồi, cho giải lại”. Mãi cả giờ sau bọn trẻ mới kéo lên gác được đông đủ. Thanh Tịnh dõng dạc: “Vậy là không cháu nào đoán được. Đó là chữ “Tết”, dễ ợt!” Tuy vậy ông vẫn khuyến khích bằng cách cho mỗi cháu hai chiếc kẹo. Lũ trẻ khoái lắm, trước lúc ra về cứ “Chào ông” vang cả lên.

Dùng câu đố để chữa cháy báo xuân

Tờ báo nọ dự định ra số xuân sớm hơn mọi năm vì quan niệm báo tết là thứ hàng hoa, phải kịp thời đến tay bạn đọc. Nhưng hiềm một nỗi ông bạn họa sỹ “mi” tính toán số chữ không chính xác, nên khi ra “bông” thấy bị thủng nhiều chỗ. Đưa ảnh vào cũng được, nhưng kiếm không ra, đưa bài khác vào thì hỏng hết ý đồ mà cũng chẳng đủ “đất”. Viên thư ký tòa soạn nhanh ý guồng xe đến “cụ” Thanh Tịnh với ý đồ xin vài mẩu chuyện hoặc câu đối để “lấp chỗ trống”.

Năm ấy tuổi đã “thất thập cổ lai hy” nên viết lách có phần chậm. Có tí vốn liếng nào cũng đã “bị” các báo khác nhanh chân hơn đến “chộp” trước cả rồi. Vì thế nên khi nghe lời “thỉnh cầu” đầy vẻ S.O.S ông cũng rất lo. Nhưng chỉ một thoáng đã thấy ông hỏi: “Bản bông có đây không?”. Người thư kí đưa ra cho nhà thơ xem. Quả bị “thủng” đến mấy chỗ. Dường như không phải suy nghĩ nhiều, nhà thơ cao niên vớ lấy cây bút bi, giương kính lão lên và viết liền vào chỗ trống lớn nhất một câu đố:

Phần đầu tôi mệt lắm rồi
Phần đuôi lặng lẽ giúp người che thân
Nếu đem ghép lại hai phần
Tôi kêu một tiếng, xa gần biết tên
Là chữ gì?
(Xem giải đáp trang…)

Ông lật đi lật lại bản “bông”, tìm ra một chỗ “thủng” khác, ông ghi lời giải: Pháo (ph là mệt phờ + áo = pháo). Đoạn ông bỏ kính, buông bút, trả bản bông cho vị khách và hỏi: “Ổn chưa?”. Người nọ chỉ biết cười, vội guồng xe tới nhà in.

Dùng câu đố để mời bạn đến ăn cơm

Đây không phải là chuyện về nhà thơ Thanh Tịnh mà là về một Đại tá bạn tôi. Tôi và anh bạn thường hay lai rai trò chuyện. Bẵng một thời gian do cả hai đều quá bận. Một hôm ghé một trường đại học thì gặp nhau. Mừng quá. Anh hỏi tôi: “Đặng Hấn lâu nay đang sưu tầm câu đố phải không?”. Nghe nhắc câu đố là tôi khoái lắm, liền túm ngay lấy anh. Tôi hỏi “Sao ông biết?” Thay cho câu trả lời, anh bạn nói “Đố cậu một câu đây: Một cô đến, sáu anh sờ. Hai anh sờ ngực, hai anh sờ đùi. Một anh sờ khắp mọi nơi. Anh sờ mông đít miệng cười lôi ra. Cô trông thấy, cô cười xòa: “Xin mời các vị cứ là tự nhiên!”  Là gì?

Tôi vận dụng tất cả các kỹ năng phán đoán mà vẫn không hiểu là gì, đành chịu thua và hỏi: “Là chuyện gì thế?”. Anh nói rất nghiêm trang: “Đâu phải dễ thế! Cậu muốn biết là gì thì đúng 11 giờ trưa mai đến nhà ăn tập thể của bọn mình, chỗ chúng ta vẫn nhậu ấy rồi khắc biết!” Nói xong anh chẳng thèm bắt tay tôi, dứt khoát bỏ ra đi.

Đúng giờ ngày hôm sau tôi tới thì thấy anh và mấy “chiến hữu” quen thuộc cùng bia rượu đã bày biện sẵn sàng. Chính ở nhà ăn này, tôi đã có lời giải của câu đố: Mỗi bàn ăn xếp sáu người. Chuẩn bị ăn thì có một cô nhân viên đến kiểm tra phiếu ăn và mọi người vội vàng sờ vào túi áo (sờ ngực), người sờ túi quần (sờ đùi), người sờ túi sau (mông đít) để tìm phiếu ăn… Lúc ra về anh bạn dặn tôi: “Thỉnh thoảng lại thăm anh em, có thơ gì hay đọc cho nghe. Đừng ham hố làm ăn quá. Hôm nay cậu đến đây là vì câu đố chứ đâu phải vì bạn bè!” Biết cãi lại cũng chẳng ăn thua và câu nói của bạn cũng chẳng phải hoàn toàn vô lý, tôi chỉ còn biết im lặng đồng ý.

17c

Câu đố cũng còn được dùng như các câu chuyện vui, góp thêm hứng thú cho các buổi giao lưu gặp gỡ bạn bè hoặc làm giảm mệt mỏi trong các chuyến chu du dài trên xe tàu vất vả.
Có lẽ người biết nhiều câu đố nhất là các hướng dẫn viên du lịch. Một lần xe gần đến thủy điện Hòa Bình mọi người đã uể oải lắm. Anh hướng dẫn viên du lịch đưa câu hỏi:“ Đố các vị biết vì sao khi các chàng trai trao nhẫn cưới, thì các cô gái lại thích nhẫn kim cương hơn nhẫn vàng, dù rằng nhẫn vàng thường vẫn to hơn nhẫn kim cương?”. Tất nhiên các cô ai mà chả biết vì nhẫn kim cương đắt tiền hơn. Nhưng nói ra sợ người ta chê mình thực dụng. Còn người lớn tuổi thì đều nghĩ chắc phải có lý do gì khác, chứ không thì ai đố làm gì. Thế là chẳng ai lên tiếng. Mãi sau mới có một cụ tóc đã bạc sáu bảy phần cười và nói: “Có gì đâu. Các bà các cô chỉ cần quan tâm cứng hay mềm chứ ai mà chú ý to hay nhỏ!”. Tất cả xe cười rộ. Anh hướng dẫn viên vái tay trước cụ già: “Xin bái phục cụ. Đúng là không cái gì qua mặt được các bậc cao niên!”

Một lần khác xe đi trên đất Phan Rang, gần tới đèo Ngoạn Mục. Trời giữa trưa nắng ơi là nắng. Anh hướng dẫn viên lại ra câu đố: “Có hai anh chị yêu nhau rất thắm thiết. Nhưng rồi do những lý do khách quan rất chính đáng họ không lấy được nhau, chẳng ai có lỗi với ai và họ vẫn mang mối tình ở một nơi thầm kín của trái tim dù cô gái đã đi lấy chồng. Một hôm tình cờ họ gặp nhau ở một sân ga cũng giữa trưa đứng bóng như bây giờ (Anh hướng dẫn viên chỉ tay ra trời nắng). Sau phút hàn huyên đầy cảm động, quên cả nắng cháy giữa sân ga, họ lại phải chia tay vì họ đi tàu khác nhau và đã sắp đến giờ tàu chuyển bánh. Anh thanh niên xin phép được hôn cô gái. Suy nghĩ một lát, cô gái nói: “Em đồng ý cho anh hôn. Nhưng anh hãy hôn lên chỗ nào mà chồng em sẽ suốt đời không bao giờ hôn lên đó”. Anh thanh niên ngần ngừ một lát, cúi sát xuống phía chân cô gái, hôn một cái “nóng bỏng”. Rồi họ chia tay nhau. Vậy anh thanh niên đã hôn lên cái gì của cô gái?”

Im lặng một lúc lâu rồi bắt đầu ồn ào.

– Chắc hắn hôn lên chiếc giày?
– Ai lại hôn lên giày bao giờ?
– Hôn lên giày thì chồng cô ta cũng hôn lên được!
– Hay hắn hôn lên gấu quần?
– Gấu quần hôi bỏ mẹ, ai lại hôn!

Một ông trung niên buột miệng

– Đã yêu nhau thì nó còn hôn lên cả những chỗ hôi hơn ấy chứ!

Cô vợ ngồi bên đỏ bừng mặt nguýt chồng rồi nói nhỏ nhưng rất gay gắt:

– Thôi im đi. Không biết xấu hổ!

Cả xe ồn ào lên một hồi, sau đó anh hướng dẫn viên mới trả lời

– Chàng thanh niên đã đặt một cái hôn “nóng bỏng” lên cái bóng của cô gái trên sân ga!

Một đáp án rất bất ngờ và rất thơ mộng. Đúng là chàng thanh niên chỉ còn biết theo đuổi, giữ gìn hình bóng của người yêu. Những gì thuộc về vật chất đã có chủ nhân rồi!

Tôi nhớ lần ấy xe du lịch chở chúng tôi từ Thượng Hải sang Hàng Châu. Phong cảnh thật nên thơ mà mọi người trên xe đều mệt mỏi ngủ gà ngủ gật, vì đã trải qua mấy ngày mệt mỏi do đi quá nhiều (Người hướng dẫn viên du lịch đặt tên cho đoàn tham quan của chúng tôi là đoàn văn công Sóng-Giang. Tức là cứ đêm mới về khách sạn ngủ mà sáng ra là dong!). Thấy tiếc cho mọi người bỏ qua không chiêm ngưỡng phong cảnh nên thơ hai bên đường, nơi quê hương của các nhà thơ lớn như Tô Đông Pha, Bạch Cư Dị, tôi liền lên tiếng.

– Xin đố các vị một câu đố đây!

Không thấy ai hưởng ứng, nhưng tôi vẫn nói dõng dạc

– Đố các vị biết cái gì mà mới có, đang còn thì không cho được. Phải đợi đến lúc hết mới cho được?

Câu đố gây sự tò mò. Tưởng đâu chẳng ai để ý vì thấy im phăng phắc. Nhưng thực tình mọi người đều đã nghe và đang suy nghĩ. Lát sau, đây đó mới lao nhao lên

– Là cái gì thế?
– Chịu thôi. Giải ra đi ông Hấn ơi!

Đợi một chút cho mọi người thêm sốt ruột, rồi tôi mới nói:

– Tôi cũng không biết nó là cái gì mà lạ thế. Vốn là có một lần, do tình cờ nghe được hai anh chị đang tâm tình. Anh con trai nói: “Em ơi! Cho anh đi! Chúng mình yêu nhau mà!”. Cô gái nói: “Em mới có, đang còn, không cho được! Ráng đợi thêm mấy bữa hết rồi em cho! Ngốc ạ!”. Đến bố tôi cũng chẳng hiểu là cái gì. Đố các vị là cốt để hỏi. Ai ngờ các vị cũng không biết à?
– Bố láo chi xiên!
– Thằng phải gió!

Đây đó rợn lên tiếng nói xen tiếng cười. Mọi người nhìn ra hai bên đường: trắng xóa một màu hoa cúc. Đây là quê hương của “trà” hoa cúc Trà gồm toàn hoa cúc. Tuyệt nhiên không có lá chè.. Cùng với màu trắng là hương thơm ngào ngạt tràn vào xe. Tất cả đã tỉnh táo. Nhờ mầu sắc? Nhờ hương thơm? Biết đâu một phần lại chẳng vì câu đố?

SÀI GÒN những đêm tháng 8/2001.
ĐẶNG HẤN

Chia sẻ bài này: